Bản án số 05-2026/2026/DS-PT ngày 07/01/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về y/c tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 05-2026/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 05-2026/2026/DS-PT ngày 07/01/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về y/c tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu
Quan hệ pháp luật: Y/c tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 05-2026/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 07/01/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: bà C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH ĐẮK LẮK Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 05 /2026/DS-PT
Ngày 07 - 01 - 2026
V/v “Yêu cầu tuyên bố văn bản thỏa thuận
phân chia di sản thừa kế vô hiệu và hủy
hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị My My.
Các Thẩm phán: Ông Bùi Quốc Hà.
Bà Lưu Thị Thu Hường.
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thị Mai Loan, Thư Tòa án nhân dân
tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa:
Lương Thị Diệu Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 01 năm 2026, tại trụ sToà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét
xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 289/2025/TLPT-DS ngày
06/10/2025 về việc “Yêu cầu tuyên bố văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa
kế hiệu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự
thẩm số: 108/2025/DS-ST ngày 25/6/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn
Ma Thuột (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 418/2025/QĐ-PT
ngày 19/11/2025, giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Trần Thị C, sinh năm: 1972; địa chỉ: Tổ dân phố F,
phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Nay Tổ dân phố F, phường T, tỉnh
Đắk Lắk) Có mặt
Người đai diện ủy quyền của nguyên đơn: Phạm Thị T; địa chỉ: Số A
A, phường T, tỉnh Đắk Lắk (Văn bản ủy quyền ngày 11/12/2025) – Có mặt.
2. Bị đơn:
1. Ông Trần Quốc L , sinh năm: 1981; địa chỉ: Thôn C, H, thành phố
B, tỉnh Đắk Lắk (Nay là Thôn C, xã H, tỉnh Đắk Lắk) Vắng mặt.
Người đại diện ủy quyền của bị đơn ông Trần Quốc L: Ông Phan Minh H,
sinh năm 1987; địa chỉ: Số B N, phường T, tỉnh Đắk Lắk (Văn bản y quyền
ngày 22/10/2024) Có mặt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn ông Trần Quốc L:
Ông Thanh K Luật thuộc Công ty L5 Cộng sự, Đoàn Luật tỉnh Đ;
địa chỉ: Số G Y, phường B, tỉnh Đắk Lắk Có mặt.
2
2. Phan Thị T1, sinh năm: 1946; địa chỉ: Thôn C, H, thành phố B,
tỉnh Đắk Lắk (Nay là Thôn C, xã H, tỉnh Đắk Lắk) Có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vliên quan:
-Bà Trần Thị C1; địa chỉ: Thôn C, H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Nay
là Thôn C, xã H, tỉnh Đắk Lắk).
Người đại diện ủy quyền của Trần Thị C1: Ông Phan Minh H, sinh
năm 1987; địa chỉ: Số B N, phường T, tỉnh Đắk Lắk (Văn bản ủy quyền ngày
10/6/2025) Có mặt.
2. Ông Trần Quốc K1, sinh năm 1978 (Có mặt).
3. Ông Trần Quốc L1 (Vắng mặt).
4. Bà Trần Thị H1, sinh năm 1968 (Có mặt).
5. Anh Trần Quốc H2 (Vắng mặt).
6. Anh Trần Quốc K2 (Vắng mặt).
7. Chị Trần Thị Cẩm H3 (Vắng mặt).
8. Anh Trần Quốc H4 (Vắng mặt).
9. Bà Nguyễn Thị Mai L2 (Vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Thôn C, H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Nay Thôn C,
xã H, tỉnh Đắk Lắk).
Người đại diện ủy quyền của Nguyễn Thị Mai L2: Ông Phan Minh H,
sinh năm: 1978; địa chỉ: Số B N, phường T, tỉnh Đắk Lắk (Văn bản ủy quyền
ngày 08/7/2025) Có mặt.
10. Văn phòng C3; địa chỉ: Số C N, phường B, tỉnh Đắk Lắk
Người đại diện pháp luật: Ông Đỗ Văn C2 Trưởng phòng công chứng Đ
- Vắng mặt.
11. Ngân hàng TMCP S; địa chỉ: Lầu H, số B - B N, phường V, Quận C,
thành phố Hồ Chí Minh (Nay là Lầu 8, số B - B N, phường X, thành phố Hồ Chí
Minh).
Người đại diện ủy quyền: Ông Phạm Sỹ K3, sinh năm: 1987 - Trưởng
phòng kiểm soát rủi ro của Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh Đ; địa chỉ: Số B P,
phường B, tỉnh Đắk Lắk (Văn bản ủy quyền ngày 26/3/2025) – Có mặt.
- Người kháng cáo: Người đại diện ủy quyền của bị đơn ông Trần Quốc L
ông Phan Minh H người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị
Mai L2.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện quá trình giải quyết, nguyên đơn Trần Thị C
trình bày:
Quyền sdụng thửa đất số 551, tbản đồ số 13, diện tích 575,25m
2
theo
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn
liền với đất (Viết tắt GCNQSDĐ) số BB 645703 do UBND thành phố B cấp
ngày 22/9/2010. Để thuận lợi khi thực hiện các giao dịch, bà Phan Thị T1 cùng
những người thừa kế gồm các ông, bà: Trần Thị C1, Trần Quốc K1, Trần Quốc
L1, Trần Quốc L vợ, con của ông Trần Quốc H5 đồng ý để ông Trần Quốc L
đứng tên trên GCNQSDĐ với thời hạn 05 năm, sau 05 năm ông L phải trả về lại
cho Phan Thị T1. Tuy nhiên, sau khi ông L được đứng tên trên GCNQSDĐ
3
lại đi vay vốn Ngân hàng N1 - Chi nhánh H7, rồi lại vay tại Ngân hàng TMCP S
(S1) Chi nhánh Đ không sự đồng ý hay thỏa thuận với T1. Trần
Thị C con ruột của ông Trần N, nên khi ông N chết C phải hàng thừa kế
thứ nhất được hưởng thừa kế của ông N, nhưng các ông, Phan Thị T1,
Trần Thị C1, Trần Quốc K1, Trần Quốc L1, Trần Quốc L vợ cùng các người
con của ông Trần Quốc H5 đến Văn phòng C3 thực hiện thủ tục khai nhận, định
đoạt di sản thừa kế của ông N để lại, nhưng không thông báo và không sự
đồng ý của C. vậy, quyền lợi của C bị ảnh hưởng nên C khởi kiện
yêu cầu Tòa án giải quyết:
+ Tuyên bố Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế được Văn phòng
C3, quyển số 08TP/CC-SCC/HĐGD ngày 10/8/2016 hiệu do thiếu người
thừa kế.
+ Hủy Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được Văn phòng C3 công
chứng số 7974, quyển số 08TP/CC-SCC/HĐGD ngày 16/8/2016, giữa bên tặng
cho bà Phan Thị T1 với bên được tặng cho ông Trần Quốc L, đối với thửa đất số
551, tờ bản đồ số 13, diện tích 575,25m
2
.
+ Giải quyết hậu quả của hợp đồng hiệu, hủy bỏ hợp đồng theo quy
định của pháp luật.
Bị đơn ông Trần Quốc L người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Trần Thị C1, có đại diện ủy quyền là ông Phan Minh H trình bày:
Quyền sử dụng thửa đất số 551, tờ bản đồ số 13, diện tích 575,25m
2
tài
sản riêng của Phan Thị T1, nguồn gốc do T1 nhận chuyển nhượng. Do
đó, ông Trần Quốc L và bà Trần Thị C1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn bà C. Ngoài ra, không có yêu cầu nào khác.
Bị đơn Phan Thị T1 đại diện ủy quyền Huỳnh Thị Diệu
T2 trình bày:
Ngày 10/8/2016, các ông, Phan Thị T1, Trần Thị C1, Trần Quốc K1,
Trần Quốc L1, Trần Quốc L vợ, con của ông Trần Quốc H5 đến Văn phòng
C3, để thực hiện việc khai nhận, định đoạt di sản thừa kế của ông Trần N là thửa
đất số 551, tờ bản đồ số 13, diện tích 575,25m
2
. Để thuận lợi cho việc làm các
giao dịch, bà Phan Thị T1 cùng các đồng thừa kế khác thống nhất để ông L đứng
tên trên GCNQSDĐ với thời hạn 05 năm, hết 05 năm chuyển lại cho T1.
Nhưng khi ông L đứng tên trên GCNQSDĐ tlại đi thế chấp vay vốn Ngân
hàng không được sự đồng ý của T1. Nay C khởi kiện thì T1 chấp
nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của C, không có ý kiến gì khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Quốc K1, bà Trần Thị
H1 chị Trần Thị Cẩm H3, anh Trần Quốc K2, anh Trần Quốc H4 trình
bày: Ông K1 con ruột của bà Phan Thị T1, bà Trần Thị H1 con dâu của
Phan Thị T1; chị Trần ThCẩm H3, anh Trần Quốc K2, anh Trần Quốc H4
con ruột bà Trần ThH1. Ông K1, H1, chị H3, anh K2, anh H4 đồng ý với
nội dung khởi kiện của bà C, ngoài ra không có yêu cầu gì.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Mai L2 trình
bày:L2 là vợ ông Trần Quốc L, các tài sản trên thửa đất tranh chấp là tài sản
chung giữa ông L L2, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết quyền lợi cho
L2.
4
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP S có đại diện
ủy quyền là ông Phạm Sỹ K3 trình bày: Quyền sử dụng thửa đất số 551, tờ bản
đồ số 13, diện tích 575,25m
2
theo GCNQSDĐ số BB 645703 do UBND thành
phố B cấp ngày 22/9/2010; Cập nhật thay đổi chủ sử dụng ngày 16/8/2016, hiện
đang được ông Trần Quốc L thế chấp vay vốn tại Ngân hàng S1 - Chi nhánh Đ,
chưa đến thời hạn trả nợ. Ngân hàng không tranh chấp hay yêu cầu
trong vụ án này, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Đối với ông Trần Quốc L1, ông Trần Quốc H2, Văn phòng C3: Quá
trình giải quyết vụ án không tham gia tố tụng nên Tòa án không lấy được lời
khai, không công khai chứng cứ và hòa giải được.
Tại phiên tòa thẩm, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của ông
Trần Quốc L luật sư Lê Thanh K trình bày quan điểm bảo vệ:
Về việc nguyên đơn yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng hiệu,
hủy hợp đồng vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu, đề nghị hội đồng xét xử
không chấp nhận.
Xét nguồn gốc gốc quyền sử dụng thửa đất số 551, tbản đồ số 13 do
nhân T1 nhận chuyển nhượng riêng, năm 1982 T1 ông N không còn
sống chung, năm 2010 cơ quan có thẩm quyền cấp GCNQSDĐ cho T1 mang
tên hộ T1, căn cứ hộ khẩu gia đình tại thời điểm này bà C, ông N không phải
thành viên của hộ gia đình bà T1, do đó đây tài sản riêng của T1. Việc
T1, cùng các thành viên khác ký văn bản tặng cho quyền sử dụng đất cho ông
L tự nguyện, minh bạch nên hợp đồng hiệu lực pháp luật. C biết quyền
sử dụng đất đã tặng cho ông L, ông L sinh sống, quản lý, xây dựng tài sản gắn
liền với đất nhưng không phản đối, nên thời hiệu khởi kiện đã hết, đề nghị Hội
đồng xét xử áp dụng thời hiệu khởi kiện và bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 108/2025/DS-ST ngày 25/6/2025 của
Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột (Nay Tòa án nhân dân khu
vực 1 – Đắk Lắk) đã quyết định:
Căn cứ Điều 4, Điều 5, khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a
khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 93, Điều 147, Điều 156, Điều 157, Điều 164,
Điều 165, Điều 220, Điều 227, Điều 228, Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự; các
Điều 116, Điều 117, Điều 123, Điều 132, Điều 149, Điều 155, Điều 651 Bộ luật
dân sự; Điều 52, Điều 57 Luật công chứng năm 2014; Điều 26 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị C:
+ Tuyên bố Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế được Văn phòng
C3, quyển số 08TP/CC-SCC/HĐGD ngày 10/8/2016 là vô hiệu.
+ Hủy bỏ Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được Văn phòng C3 công
chứng số 7974, quyển số 08TP/CC-SCC/HĐGD ngày 16/8/2016, giữa bên tặng
cho Phan Thị T1 bên được tặng cho ông Trần Quốc L, đối với thửa đất số
551, tờ bản đồ số 13, diện tích 575,25m
2
.
5
Các đương sự Phan Thị T1, Trần Thị H1, Trần Quốc K2, Trần Quốc H2,
Trần Thị Cẩm H3, Trần Quốc H4, Trần Thị C1, Trần Quốc K1, Trần Quốc L1
Trần Quốc L, Trần Thị C quyền và nghĩa vụ liên hệ với quan nhà nước
thẩm quyền để được cấp, cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà tài sản khắc gắn liền với đất, thực hiện nghĩa vụ tài
chính nếu khi làm thủ tục theo quy định của pháp luật thực hiện thủ tục
khai nhận, phân chia di sản thừa kế của ông Trần N theo đúng quy định của
pháp luật.
+ Về giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, hủy bỏ hợp đồng:
Buộc ông Trần Quốc L bà Nguyễn Thị Mai L2 tháo dỡ, di dời tài sản
gắn liền với thửa đất số 551, tờ bản đố số 13, tại xã H, thành phố B, cụ thể: 01
trạm cân điện tử diện tích 39,2m
2
; 01 mái che, khung sắt, mái lợp tôn thiếc,
áp mái điện năng lượng mặt trời, diện tích 127,9m
2
; 01 phần nhà xây cấp 4, kết
cấu móng xây đá hộc, tường xây gạch, mái lợp tôn, không đóng trần, nền xi
măng, diện tích 18,2m
2
; 01 mái che khung sắt, mái lợp tôn, nền láng xi măng,
diện tích 10,1m
2
; 01 phần chuồng dê diện tích 6,2m
2
. (Tổng giá trị của tài sản di
dời, tháo dỡ 290.457.174 đồng, vsố đo cụ thể theo kết quả trích đo hiện
trạng thửa đất ngày 07/3/2025 của Công ty TNHH Đ1).
Đối với quyền sử dụng thửa đất số 551, tờ bản đố số 13 và tài sản gắn liền
với đất hiện ông Trần Quốc L đang thế chấp vay vốn Ngân hàng. Tuy nhiên, các
đương sự không tranh chấp, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Các đương sự có quyền khởi kiện thành một vụ án độc lập khác.
2. Về chi phí tố tụng: Ông Trần Quốc L nghĩa vụ trả lại cho Trần
Thị C 3.431.000 đồng tiền chi phí đo vẽ kỹ thuật thửa đất và 4.000.000 đồng chi
phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.
3. Về án phí:
Ông Trần Quốc L phải chịu 600.000 đồng tiền án phí dân sự thẩm về
phần tuyên hợp đồng hiệu, hủy bỏ hợp đồng và 14.523.000 đồng tiền án phí
dân sự sơ thẩm về phần thực hiện nghĩa vụ tháo dỡ, di dời tài sản.
Hoàn trả cho Trần Thị C 600.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự
thẩm đã nộp (Bà Huỳnh Diệu T2 nộp thay) theo biên lai thu số
AA/2023/0013578 ngày 26/9/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố
Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk (Nay Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 1
Đắk Lắk, thuộc Thi hành án dân sự tỉnh Đ).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo và quyền yêu cầu
thi hành án cho các đương sự.
Ngày 08/7/2025, người đại diện y quyền của bị đơn ông Trần Quốc L
ông Phan Minh H đơn kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm số: 108/2025/DS-ST
ngày 25/6/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, với nội dung:
Đề nghị cấp phúc thẩm xem xét bác toàn bđơn khởi kiện của nguyên đơn
Trần Thị C.
Ngày 08/7/2025, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị
Mai L2 đơn kháng cáo bản án thẩm với nội dung: Đề nghị cấp phúc thẩm
hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để trả hồ sơ về cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại
vụ án; đồng thời yêu cầu triệu tập những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
6
con riêng của ông Trần N vào tham gia tố tụng, gồm: Ông Trần M, ông Trần
Quốc L3, ông Trần Quốc T3, bà Trần Thị M1, bà Trần Thị X.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn Trần Thị C giữ nguyên nội dung
đơn khởi kiện; người đại diện ủy quyền của bị đơn ông Trần Quốc L người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Mai L2 là ông Phan Minh H giữ
nguyên nội dung đơn kháng cáo.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk phát biểu:
- Về thtục tố tụng: Thẩm phán Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng
các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã tuân thđầy đủ
thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Qua phân tích đánh giá các chứng cứ, tài liệu được thu
thập trong hồ vụ án, kết quả tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm
sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật tố tụng
dân sự:
+ Chấp nhận đơn kháng cáo của đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông
Trần Quốc L ông Phan Minh H người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Nguyễn Thị Mai L2.
+ Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 108/2025/DSST ngày 25/6/2025 của Tòa
án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 1- Đắk
Lắk), chuyển hồ vụ án cho Tòa án cấp thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ
tục sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ vụ án đã
được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Phan Minh H Nguyễn Thị
Mai L2 làm trong hạn luật định; đồng thời đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên
được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét nội dung kháng cáo của đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông
Trần Quốc L ông Phan Minh H người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Nguyễn Thị Mai L2. Hội đồng xét xử, xét thấy:
[2.1] Về việc xác định hàng thừa kế: Quá trình giải quyết ván, các bên
đương sự đều thừa nhận ông Trần N Phan Thị T1 vợ chồng. Quá trình
chung sống, ông N T1 06 người con chung, gồm: Trần Thị C1, ông
Trần Quốc K1, ông Trần Quốc L1, ông Trần Quốc L, Trần Thị C Trần
Quốc H5 (Đã chết năm 2012). Ông H5 có vợ là bà Trần Thị H1 và 05 người con
ông Trần Quốc K2, ông Trần Quốc H6 (Đã chết, không vợ con), ông Trần
Quốc H2, bà Trần Thị Cẩm H3 và ông Trần Quốc H4.
Ông N T1 tạo lập được tài sản quyền sử dụng thửa đất số 551, tờ
bản đồ 13, diện tích 575,25m
2
theo GCNQSDĐ số BB 645703 do UBND thành
phố B cấp ngày 22/9/2010 cho hộ Phan Thị T1. Tại phiên tòa thẩm, người
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Trần Quốc L ông Lê Thanh K trình
bày ông Trần Quốc T3 con riêng của ông Trần N. Đây là tình tiết mới phát
sinh hàng thừa kế thứ nhất của ông Trần N, nhưng Tòa án cấp thẩm không
7
tạm ngừng phiên tòa để xác minh đối với nội dung này. Tại đơn kháng cáo, ông
Phan Minh H Nguyễn Thị Mai L2 trình bày ông Trần N các con riêng
ông Trần M (sinh năm 1954), ông Trần Quốc L3 (sinh năm 1861), ông Trần
Quốc T3 (sinh năm 1963), Trần Thị M1 (sinh năm 1965), Trần Thị X
(sinh năm 1968) cung cấp giấy xác nhận thông tin về trú của Công an
H ngày 08/4/2022 đối với ông Trần Quốc T3 anh ông Trần Quốc L3, bố
ông Trần N. Tòa án cấp thẩm không xác định đầy đủ hàng thừa kế thứ nhất
của ông Trần N đđưa vào tham gia ttụng trong vụ án với cách người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, Tòa án
cấp phúc thẩm không thể khắc phục.
[2.2] Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông Trần Quốc L, Nguyễn Thị Mai L2
tháo dỡ, di dời c tài sản công trình trên đất với tổng giá trị tài sản di dời
290.457.174 đồng. Sau khi Phan Thị Thanh L4 hợp đồng tặng cho ông Trần
Quốc L thửa đất số 551, tờ bản đồ 13, diện tích 575,25m
2
, vợ chồng ông L và bà
L2 đã tạo lập các tài sản trên đất, các ông Phan Thị T1, Trần Thị H1, ông
Trần Quốc K2, ông Trần Quốc H2, Trần Thị Cẩm H3, ông Trần Quốc H4, bà
Trần Thị C1, ông Trần Quốc K1, ông Trần Quốc L1, bà Trần Thị C biết việc này
và không có ý kiến phản đối. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông L, bà L2 tháo
dỡ các tài sản trên đất, nhưng không xác định ai là người tạo lập tài sản trên đất
để xem xét bồi thường giá trị tài sản trên đất cho ông L, bà L2 là không phù hợp.
Thửa đất số 551 do ông L, bà L2 đang quản sử dụng, nhưng Tòa án cấp
thẩm khi giải quyết hậu quả hợp đồng hiệu chỉ tuyên tháo dỡ, di dời tài sản
trên đất; không tuyên ông L, L2 nghĩa vụ giao thửa đất số 551 cho ai
quản lý sử dụng giải quyết không triệt để gây khó khăn cho công tác thi
hành án.
[2.3] Quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất thuộc thửa số 551, tờ
bản đồ 13 đã được cập nhật thay đổi chủ sử dụng đất ngày 16/8/2016, hiện được
ông Trần Quốc L thế chấp vay vốn tại Ngân hàng S1 Chi nhánh Đ. Hiện ông L
chưa đến thời hạn trả nợ nên Ngân hàng không tranh chấp, không yêu cầu
Tòa án giải quyết. Tòa án cấp thẩm xác định hợp đồng tặng cho quyền sử
dụng đất lập ngày 16/8/2016 giữa bên tặng cho Phan Thị T1 bên nhận
tặng cho ông Trần Quốc L hiệu, nên các đương sự Phan Thị T1, Trần
Thị H1, ông Trần Quốc K2, ông Trần Quốc H2, Trần Thị Cẩm H3, ông Trần
Quốc H4, Trần Thị C1, ông Trần Quốc K1, ông Trần Quốc L1, ông Trần
Quốc L, bà Trần Thị C có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để
cấp, cấp đổi lại GCNQSDĐ thực hiện nghĩa vụ tài chính nếu khi làm thủ
tục theo quy định pháp luật. Đồng thời tuyên Ngân hàng quyền khởi kiện vụ
án độc lập khác. Tuy nhiên, quyền sdụng thửa đất số 551 cấp cho ông Trần
Quốc L đã được xem xét chỉnh cho các đương sự trên trong vụ án này, Ngân
hàng sẽ không quyền khởi kiện đối với hợp đồng tín dụng vì đối tượng thế
chấp quyền sử dụng thửa đất số 551 đã được giải quyết bằng bản án hiệu
lực pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm không hướng dẫn Ngân hàng khởi kiện để giải
quyết hợp đồng thế chấp trong cùng vụ án gây ảnh hưởng đến quyền lợi
ích hợp pháp của Ngân hàng.
8
Xét thấy bản án thẩm xác định thiếu người tham gia ttụng, vi phạm
quy định về trường hợp không được làm người đại diện, giải quyết vụ án không
đảm bảo, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng cấp phúc thẩm không thể
khắc phục được. Do đó, cần chấp nhận đơn kháng cáo của ông Phan Minh H
Nguyễn Thị Mai L2, hủy bản án sơ thẩm để chuyển hồ vụ án cho Tòa án
cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
[3] Về án phí phúc thẩm: Do hủy bản án thẩm nên người kháng cáo
ông Trần Quốc L và bà Nguyễn Thị Mai L2 không phải chịu án phí dân sự phúc
thẩm. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Chấp nhận đơn kháng cáo của người đại diện ủy quyền của bị đơn ông
Trần Quốc Lông Phan Minh H;
- Chấp nhận đơn kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà
Nguyễn Thị Mai L2;
- Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 108/2025/DS-ST ngày 25/6/2025 của Tòa
án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột (Nay Tòa án nhân dân khu vực 1
Đắk Lắk). Giao hồ vụ án về cho Tòa án nhân dân khu vực 1 Đắk Lắk giải
quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
[2] Về chi phí tố tụng: Nghĩa vụ chịu chi phí đo đạc kỹ thuật thửa đất; chi
phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản sẽ được xác định khi Tòa án
cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.
[3] Về án phí:
[3.1] Về án phí dân sự thẩm: Nghĩa vụ chịu án phí dân sự thẩm sẽ
được xác định khi Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.
[3.2] Về án phí dân sự phúc thẩm:
Hoàn trả cho ông Trần Quốc L Nguyễn Thị Mai L2 mỗi người
300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp (Phạm Thị Hoàng A
nộp thay) theo các biên lai thu số 0000370 số 0000371 cùng ngày 16/7/2025
tại Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đà Nẵng;
- Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc
thẩm tại Đà Nẵng (Viện phúc thẩm 2);
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND khu vực 1 – Đắk Lắk; (Đã ký)
- Phòng THADS Khu vực 1 – Đắk Lắk;
- THADS tỉnh Đắk Lắk;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ. Nguyễn Thị My My
9
Tải về
Bản án số 05-2026/2026/DS-PT Bản án số 05-2026/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 05-2026/2026/DS-PT Bản án số 05-2026/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất