Bản án số 05/2023/HS-ST ngày 17/01/2023 của TAND huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên về tội cố ý gây thương tích (nghi ngờ vợ không chung thủy)
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 05/2023/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 05/2023/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 05/2023/HS-ST ngày 17/01/2023 của TAND huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên về tội cố ý gây thương tích (nghi ngờ vợ không chung thủy) |
|---|---|
| Tội danh: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Đồng Hỷ (TAND tỉnh Thái Nguyên) |
| Số hiệu: | 05/2023/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 17/01/2023 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ
TỈNH THÁI NGUYÊN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 05/2023/HS-ST
Ngày: 17- 01- 2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Huy Bắc
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Nguyệt
2. Ông Nguyễn Tất Dũng
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Triệu Cẩm Chi- Thư ký Toà án nhân dân
huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện K sát nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên tham
gia phiên toà: Ông Phan Thanh Tiến- K sát viên.
Ngày 17 tháng 01 năm 2023 tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ,
tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số
72/2022/TLST- HS ngày 27 tháng 12 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử
số 67/2022/QĐXXST- HS ngày 30 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Dương Văn K; tên gọi khác: Không; sinh ngày 20/05/1987; nơi
sinh: Đồng Hỷ, Thái Nguyên; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: xóm CS, xã NH, huyện ĐH,
tỉnh TN; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Sán Dìu; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình
độ văn hóa: 5/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Dương Văn N, sinh năm
1968; con bà: Tống Thị S, sinh năm 1964; gia đình có 03 anh em, bị cáo là con
thứ nhất trong gia đình; có vợ là: Tạ Thị H, sinh năm 1990 (đã ly hôn), có 02
con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2016; tiền án: không, tiền sự:
Không; bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam ngày nào, bị áp dụng biện pháp ngăn
chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại địa pH. Có mặt tại
phiên tòa.
- Bị hại: Chị Tạ Thị H, sinh năm 1990 – Vắng mặt.
Trú tại: Xóm CS, xã NH, huyện ĐH, tỉnh TN
- Người tham gia tố tụng khác:
+ Người làm chứng:
1. Cháu Dương Duy M, sinh năm 2009 – Vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp: Chị Tạ Thị H, sinh năm 1990 (mẹ đẻ) – Vắng mặt.
2
Trú tại: Xóm CS, xã NH, huyện ĐH, tỉnh TN
2. Chị Tạ Thị H, sinh năm 1994 – Vắng mặt
Trú tại: Xóm ĐQ, xã BĐ, huyện PB, tỉnh TN
3. Bà Tống Thị S, sinh năm 1965 – Có mặt.
Trú tại: Xóm CS, xã NH, huyện ĐH, tỉnh TN
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 28/6/2022, Dương Văn K đi uống rượu cùng bạn tại thị
trấn Trại Cau, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Đến khoảng 22 giờ 40 phút cùng
ngày K về nhà, lúc này vợ K là chị Tạ Thị H, sinh năm 1990, trú tại xóm CS, xã
NH, huyện ĐH, tỉnh TN đang nằm ngủ một mình trên gường kê tại phòng khách của
gia đình, còn hai con của K và chị H là cháu Dương Duy M, sinh năm 2009 và
cháu Dương Quang H, sinh năm 2016 đang ngủ trong phòng ngủ, K vào nằm ngủ
cùng chị H nhưng chị H không đồng ý, K nghi ngờ chị H không chung thủy nên K
và chị H xảy ra mâu thuẫn cãi nhau, K liền đi xuống bếp lấy 01 gậy gỗ hình trụ tròn
dài 1,27m, đường kính 4,5cm cầm ở tay phải lên nhà, kéo chị H đến trước cửa
phòng ngủ rồi K dùng gậy đánh một phát vào sườn trái chị H, K với chị H tiếp tục
giằng co nhau ra phòng khách. Nghe thấy tiếng cãi nhau của bố mẹ, cháu M từ
trong phòng ngủ đi ra can ngăn, nhưng K cầm gậy đánh tiếp một phát trúng vào
phía sau đầu chị H, chị H bỏ chạy ra ngoài hiên nhà, K tiếp tục đi ra theo rồi lại
dùng gậy đánh 01 phát vào đầu chị H, đồng thời dùng chân phải đạp vào lưng chị H
ngã từ hiên nhà xuống nền sân đập mặt xuống đất làm chị H bị xây sát vùng mặt và
chảy máu mũi. Khi thấy chị H bị thương tích, K vứt đoạn gậy ra sân rồi đưa chị H
vào trong gường ở phòng khách nằm. Sau khi bị đánh gây thương tích chị H đã gọi
điện thoại cho người nhà đến để đưa đến Bệnh viện điều trị đến ngày 08/7/2022 ra
viện.
Tại Bệnh án khám ngoại số 221826 ngày 29/6/2022 của Bệnh viện đa khoa
Trung ương Thái Nguyên xác định: chấn động não, chấn thương hàm mặt, vỡ
xoang hàm phải, gãy cung tiếp bên phải, gãy cánh lớn xương bướm bên phải.
Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 534/Tgt ngày 30/8/2022
của Trung tâm pháp y tỉnh Thái Nguyên kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do tH
tích gây nên hiện tại của Tạ Thị H là 28%, cơ chế hình thành vết thương do tác
động của vật tày.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, Dương Văn K đã thành khẩn khai nhận
toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Về phần trách nhiệm dân sự: bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.
Vật chứng của vụ án: 01 gậy gỗ hình trụ tròn dài 1,27m, đường kính 4,5cm
hiện đang được bảo quản, chờ xử lý theo quy định.
3
Tại bản Cáo trạng số 03/CT-VKSĐH, ngày 26/12/2022 của Viện Kiểm sát
nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Dương Văn K về tội “Cố ý
gây tH tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ tham gia phiên tòa, sau khi
phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, nhân
thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã giữ
nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Dương Văn K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều
65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo,
ấn định thời gian thử thách theo quy định.
Về phần trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết vì bị hại không có
yêu cầu.
Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều
106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 gậy gỗ hình trụ tròn dài 127cm,
đường kính 4,5cm.
Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị
cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của
Viện Kiểm sát. Trong lời nói sau cùng bị cáo xin được hưởng lượng kHn hồng của
pháp luật và xin được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tội danh: Khoảng 22 giờ 40 phút ngày 28/6/2022, tại nhà của Dương
Văn K thuộc xóm Chí Son, xã Nam Hòa, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Do
mâu thuẫn phát sinh trong quá trình chung sống nên Dương Văn K đã dùng 01
chiếc gậy gỗ hình trụ tròn dài 127cm, đường kính 4,5cm đánh 01 phát vào sườn
trái, 01 phát vào gáy, 01 phát vào đầu và dùng chân đạp vào lưng chị Tạ Thị H,
sinh năm 1990 (vợ của bị cáo) ngã từ hiên nhà xuống sân, hậu quả làm chị Tạ Thị
H bị tH tích với tỉ lệ tổn tH cơ thể là 28%.
Qúa trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi
phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời
khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với tH tích của bị hại, biên bản khám
nghiệm hiện trường, bản kết luận giám định pháp y về tH tích, phù hợp với lời khai
của bị hại, người làm chứng, vật chứng đã thu được và những tài liệu, chứng cứ
khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm
phạm trực tiếp đến thân thể, gây tổn hại về sức khỏe của người khác được pháp luật
bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Hội đồng xt xử thấy, việc truy tố
4
để xét xử đối với bị cáo về tội “Cố ý gây tH tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ
luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Nội dung Điều 134 Bộ luật hình sự quy định như sau:
“1. Người nào cố ý gây tH tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người
khác mà tỷ lệ tổn tH cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong
các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt
tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng hung khí nguy hiểm……;
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm
đến 06 năm:
đ) Gây tH tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn tH
cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các
điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 điều này”.
[2]. Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy:
Bị cáo là người dân tộc thiểu số, xuất thân từ người dân lao động, có nhân
thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, nhất thời phạm tội. Quá trình điều tra cũng như tại
phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, tỏ rõ thái độ
ăn năn hối cải; bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên bị
cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s
khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng
nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo nơi
cư trú ổn định, rõ ràng, có đơn xin cải tạo tại địa pH được địa pH xác nhận nên khi
lượng hình không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà có thể áp
dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, cho bị cáo được hưởng lượng kHn hồng của pháp
luật, cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa pH cũng đủ tác dụng giáo dục,
cải tạo đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
[3]. Đề nghị của đại diện Viện K sát về điều luật áp dụng, hình phạt và các
nội dung khác của vụ án tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4]. Về trách nhiệm dân sự: Qúa trình điều tra, bị hại không yêu cầu bị cáo
phải bồi thường. Tại phiên tòa bị hại vắng mặt nhưng có đơn xin xt xử vắng mặt
và cũng không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét,
giải quyết.
[5]. Vật chứng của vụ án: Đối với 01 gậy gỗ hình trụ tròn dài 127cm,
đường kính 4,5cm là công cụ, pH tiện liên quan đến tội phạm không có giá trị nên
cần tịch thu tiêu hủy.
[6]. Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án
theo quy định của pháp luật.
5
Bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[7]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, K sát
viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:
Quá trình khởi tố vụ án, điều tra, truy tố và xét xử, Điều tra viên, K sát viên đã thực
hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình
điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án
không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố
tụng thực hiện trong vụ án đảm bảo hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tuyên bố: Bị cáo Dương Văn K phạm tội “Cố ý gây tH tích”.
1. Về hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản
2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Dương Văn K 30 (Ba mươi) tháng tù
cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 60 (S mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ
thẩm. Giao bị cáo Dương Văn K cho Ủy ban nhân dân xã Nam Hòa, huyện Đồng
Hỷ, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được
thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ
02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải
chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều
106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gậy gỗ hình trụ tròn dài 127cm, đường kính
4,5cm.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/01/2023
giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đồng Hỷ với Công an huyện Đồng Hỷ).
3. Án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc
bị cáo Dương Văn K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách
Nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo bản
án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt bị hại, báo cho biết có
quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc
bản án được niêm yết./.

6
Nơi nhận:
- VKSND huyện Đồng Hỷ;
- Công an huyện Đồng Hỷ;
- Cơ quan THA hình sự - CA huyện Đồng Hỷ;
- Chi cục THADS huyện Đồng Hỷ;
- VKSND tỉnh Thái Nguyên;
- TAND tỉnh Thái Nguyên;
- Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
- UBND xã Nam Hòa, huyện Đồng Hỷ;
- Bị cáo, Bị hại;
- Lưu: Hồ sơ, bộ phận Hình sự.
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Lê Huy Bắc
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 12/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 10/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Bản án số 367/2026/DS-PT ngày 05/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Bản án số 80/2026/KDTM-PT ngày 05/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 04/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 04/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 02/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm