Bản án số 03/2026/DS-PT ngày 05/01/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp hợp đồng dịch vụ

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 03/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 03/2026/DS-PT ngày 05/01/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp hợp đồng dịch vụ
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 03/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 05/01/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: - Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty Trách nhiệm hữu hạn X. Giữ nguyên bản án số 147/2025/DS-ST ngày 23/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 – Vĩnh Long. Tuyên xử
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 03/2026/DS-PT
Ngày: 05- 01-2026
V/v tranh chấp hợp đồng xây dựng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thành Trung
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Dũng
Bà Ngô Thị Kim Châu
Thư ký phiên tòa: Huỳnh Thị Hồng Nhả - Thẩm tra viên Tòa án nhân
dân tnh Vĩnh Long.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa:
Nguyễn Thị Mỹ Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 01 năm 2026 tại Tòa án nhân dân tnh Vĩnh Long xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 539/2025/TLPT-DS ngày 11 tháng 11 năm
2025 về việc tranh chấp hợp đồng xây dựng.
Do Bản án dân sự thẩm số 147/2025/DS-ST ngày 23/9/2025 của Tòa án
nhân dân khu vc 5 – Vĩnh Long bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 663/2025/QĐ-PT ngày
27 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn X;
Địa ch: A đường Đ, phường B, tnh Vĩnh Long.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Ngô Thị Nhất P; chức vụ: Giám đốc;
Người đại diện theo ủy quyền:
- Ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1997;
- Bà Huỳnh Thị D, sinh năm: 1997;
- Ông Trần Quang K, sinh năm: 1996;
Cùng địa ch liên hệ: A Đường số C, khu dân cư S, phường B, tnh Vĩnh
Long.
- Bị đơn: Bản quản dự án đầu y dựng các công trình dân dụng
công nghiệp tnh Bến Tre.
Người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng: Ban quản lý dự án các công trình
dân dụng và công nghiệp tnh Vĩnh Long.
Người đại diện theo pháp luật: ông Lê Thanh S, chc vụ: Giám đốc; Địa
ch trụ sở: A L, phường L, tnh Vĩnh Long.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
1. Công ty trách nhiệm hữu hạn X1
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hồ Nhựt L; Chức vụ: giám đốc
Địa ch: 72B1 Đại lộ Đồng Khởi, khu phố 4, phường Phú Khương, tnh
Vĩnh Long.
2. Thuế tnh Vĩnh Long;
Địa ch: Số F, tổ C, khóm E, phường L, tnh Vĩnh Long.
- Người kháng cáo: Công ty trách nhiệm hữu hạn X là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Văn T người
đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn X trình bày
và có yêu cầu như sau:
Công ty Trách nhiệm hữu hạn X (sau đây gọi tắt Công ty X) 02
hợp đồng thi công xây dựng công trình số 01- 2020/AH-HĐXD vào ngày
18/9/2020 và hợp đồng số 01-2019/HĐXD ngày 15/11/2019 với Ban Q các công
trình dân dụng và công nghiệp tnh Bến Tre (sau đây gọi tắt là Ban quản lý dự án)
xây dựng công trình Trung m Y tế huyện M Trường THCS T2, huyện T, tnh
Bến Tre.
Đối với Hợp đồng thi công xây dựng công trình Trung tâm Y tế huyện M.
Hợp đồng được giao kết vào ngày 15/11/2019. Đến ngày 10/11/2023 thì công
trình được nghiệm thu kết thúc thời gian bảo hành công trình.
Đối với Hợp đồng thi công xây dựng công trình Trường THCS Thạnh Hải
huyện T2, tnh Bến Tre ký kết ngày 18/9/2020. Đến ngày 22/12/2023, công trình
được ký kết nghiệm thu kết thúc thời gian bảo hành công trình.
Trong quá trình xuất hóa đơn thuế giá trị gia tăng để yêu cầu Ban Quản lý
dự án có nghĩa vụ thanh toán chi phí theo hợp đồng xây dựng nêu trên thì xảy ra
mâu thuẫn trong việc xuất hóa đơn giá trị gia tăng giữa 10% 8% theo Nghị định
số 15/2022/NĐ-CP về chính sách miễn giảm thuế. Công ty X ng đã thực hiện
theo đúng quy định pháp luật về việc xuất hóa đơn giá trị gia tăng 8%. Sau đó,
Bạn quản dự án không đồng ý việc xuất hóa đơn 8% và yêu cầu công ty X
điều chnh hóa đơn thuế suất từ 8% lên 10%. Công ty X cũng đã thực hiện theo
yêu cầu này nhưng Ban Quản dự án không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình
liên quan đến thanh toán số tiền còn nợ liên quan đến hợp đồng thi công công
trình xây dựng của Công trình xây dựng Trung m Y tế huyện M trường THCS
T2, huyện T, tnh Bến Tre.
Nay công ty X khởi kiện yêu cầu:
1. Ban quản dự án hoàn trả số tiền tính lại thuế giá trị gia tăng (VAT)
của công trình y dựng Trung m Y tế huyện M, tnh Bến Tre của khối lượng
thanh toán đợt 19, 20, 21, 22, tiền tính lại thuế giá trị gia tăng đợt hoàn thành bằng
314.008.371 đồng. Công trình Trường THCS T2, huyện T, tnh Bến Tre khối
lượng thanh toán đợt 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18 đợt hoàn thành bằng
177.356.907 đồng
3
Tổng cộng số tiền Công ty X yêu cầu Ban quản dự án hoàn trả
491.365.278 đồng.
2. Áp dụng mức thuế suất giá trị gia tăng 8% của hai công trình nêu trên
trong năm thanh toán 2022 đợt thanh toán hoàn thành. Yêu cầu Thuế tnh Vĩnh
Long tạm mcưỡng chế bằng biện pháp ngừng sdụng hóa đơn để Công ty X
xuất hóa đơn điều chnh, thay thế cho hóa đơn đã lập sai đối với khối lượng đợt
19, 20, 21, 22, đợt hoàn thành và phát sinh của công trình xây dựng Trung tâm y
tế huyện M; khối lượng đợt 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, đợt hoàn thành phát
sinh của Công trình trường THCS T2, huyn T, tnh Bến Tre. Trường hợp không
thể tạm mở ỡng chế thì yêu cầu Tòa án kiến nghị Thuế tnh Vĩnh Long điều
chnh thuế suất thuế giá trị gia tăng từ 10% xuống 8% đối với khối lượng đợt 19,
20, 21, 22, đợt hoàn thành phát sinh của công trình y dựng Trung m y tế
huyện M tương ứng với các Hóa đơn số: Hóa đơn giá trị gia tăng số 45, 46, 47,
48, 49, 50, 51, 52 ngày 11/11/2022. Khối lượng đợt 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18,
đợt hoàn thành phát sinh của Công trình trường THCS T2, huyện T, tnh Bến
Tre tương ứng với các hóa đơn số 44 ngày 10/11/2022; hóa đơn gtrị gia tăng số
53, 54, 55, 56, 57, 58 ngày 11/11/2022; hóa đơn giá trị gia tăng số 59, 60 ny
30/11/2022.
Ngày 22/9/2025 Công ty X rút mt phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc
Ban quản dự án hoàn trả số tiền tính lại thuế giá trị gia tăng 450.687.070
đồng, yêu cầu Ban quản lý dự án hoàn trả số tiền thuế giá trị gia tăng đối với khối
lượng đợt 21 của công trình xây dựng Trung tâm Y tế huyện M với số tiền
19.122.487 đồng; khối lượng đợt 11 của công trình y dựng trường THCS T2,
huyện T với số tiền 12.515.362 đồng; khối lượng đợt 18 của công trình xây dựng
trường THCS T2, huyện T với số tiền 9.040.359 đồng. Tổng cộng số tiền công
ty X yêu cầu Ban quản lý dự án hoàn trả là 40.678.208 đồng;
Theo bản tự khai; các văn bản, tài liệu chứng cứ cung cấp cho Tòa án, bị
đơn Ban quản dự án đầu xây dựng các công trình dân dụng công nghiệp
tỉnh Bến Tre do ông Phan Văn D1 đại diện theo ủy quyền trình bày:
Dự án Trung tâm Y tế huyện M được Ban quản dự án Liên danh Công
ty X và Công ty X1 kết Hợp đồng y lắp số 01- 2019/HĐXD ngày 15 tháng
11 năm 2019 và các phụ lục hợp đồng số 01A- 2019/PLHĐ ngày 25/5/2019; 01B-
2019/PLHĐ ngày 09/11/2021; 01C-2019/PLHĐ ngày 22/4/2022; 01D-
2019/PLHĐ ngày 26/8/2022 về việc thi công gói thầu thi công y dựng công
trình. Tiến độ thực hiện từ ngày 20/11/2019 kết thúc hoàn thành công trình
ngày 31/8/2022.
Từ ngày 10/6/2022 đến ngày 31/8/2022, Ban quản lý dự án có nghiệm thu
khối lượng từ đợt 19,20,21,22 hoàn thành + phát sinh với tổng số tiền
17.270.460.393 đồng với thuế suất GTGT theo hợp đồng đã 10% nhưng
Công ty đã xuất hóa đơn từng đợt từ đợt 19, 20, 21, 22 và hoàn thành + phát sinh
với thuế suất giá trị gia tăng 8% trong đó không làm giảm gtrị khối lượng
thanh toán chưa phù hợp với hợp đồng đã ký, số đúng nếu xuất hóa đơn với
thuế suất giá trị gia tăng 8% thì tổng số tiền là 16.956.452.022 đồng. Vì vậy, Ban
4
quản lý dự án đã yêu cầu Công ty xuất lại hóa đơn điều chnh thuế suất giá trị gia
tăng là 10% cho đúng với giá trị khối lượng đã nghiệm thu từ đợt 19,20,21,22 và
hoàn thành + phát sinh và ngày 11/11/2022 Công ty đã thực hiện điều chnh thay
thế các hóa đơn đã xuất thuế suất giá trị gia tăng từ 8% lên thuế suất gtrị gia
tăng 10%. Ngày 23/5/2024, Ủy Ban nhân dân tnh Quyết định số 1132/QĐ-
UBND về việc phê duyệt quyết toán dự án hoàn thành công trình Trung Tâm y tế
huyện M, trong đó có thu hồi giá trị chi phí xây dựng là 314.008.371 đồng.
Tương tự, dự án Trường THCS T2, huyện T được Ban Q và Công ty X
kết Hợp đồng xây lắp số 01-2020/AH-HĐXD ngày 18 tháng 9 năm 2020 các
phụ lục hợp đồng kèm theo. Tiến độ thực hiện từ ngày 24/9/2020 kết thúc hoàn
thành công trình ngày 25/11/2022. Từ ngày 24/3/2022 đến ngày 25/11/2022, Ban
quản dự án nghiệm thu khối lượng tđợt 11,12,13,14,15,16,17,18 đợt
hoàn thành + phát sinh với tổng số tiền 9.754.629.861 đồng với thuế suất giá
trị gia tăng theo hợp đồng đã ký là 10% nhưng Công ty đã xuất hóa đơn từng đợt
từ đợt 11,12,13,14,15,16 cộng phát sinh với thuế suất giá trị gia tăng là 8% trong
đó không làm giảm giá trị khối lượng chưa phù hợp với số tiền
7.011.273.131đồng. vậy, Ban quản dự án đã yêu cầu Công ty xuất lại hóa
đơn điều chnh thuế suất gtrị gia tăng là 10% cho đúng với giá trị khối lượng
khối lượng đã nghiệm thu từ đợt 11,12,13,14,15,16 cộng phát sinh. Ngày
11/11/2022 Công ty đã thực hiện điều chnh thay thế các hóa đơn đã xuất với thuế
suất giá trị gia tăng 8% lên thuế suất giá trị gia tăng 10%
Ngày 05/12/2023 Ủy ban nhân dân tnh có Quyết định số 2813/QĐ-UBND
về việc phê duyệt quyết toán dự án hoàn thành trường THCS T2, huyện T trong
đó thu hồi số tiền là 205.680.702 đồng (Trong đó cắt giảm theo kiểm toán độc lập
28.323.795 đồng; cắt giảm thuế do tính lại thuế suất thuế giá trị gia tăng 8% đối
với các hóa đơn từ 01/02/2022 đến 31/12/2022 là 177.356.907 đồng). Các bên
chưa có văn bản thỏa thuận nào để thực hiện việc điều chnh thuế suất giá trị gia
tăng từ 10% xuống còn 8%. Do đó, để thực hiện công tác quyết toán tất toán các
dự án hoàn thành theo quy định căn cứ vào Quyết định phê duyệt quyết toán
dự án hoàn thành của cấp có thẩm quyền. Ngày 04/10/2024, Ban quản lý dự án đã
trích số tiền tạm gichquyết toán từ dự án Trung tâm Y tế M của Công ty
640.824.116 đồng để nộp vào ngân sách nhà nước số tiền phải thu là 314.008.371
đồng theo Quyết định số 1132/QĐ-UBND ngày 23/5/2024, giá trị còn lại đã
chuyển trả cho Công ty với số tiền là 326.815.745 đồng. Ngày 04/10/2024 Ban Q
đã trích số tiền tạm giữ chờ quyết toán từ dự án Trường THCS T2, huyện T
213.697.000 đồng để nộp vào ngân sách nhà nước số tiền phải thu là 213.635.702
đồng, trong đó cắt giảm theo kiểm toán độc lập là 28.323.795 đồng; cắt giảm thuế
do tính lại thuế suất thuế giá trị gia tăng 8% đối với các hóa đơn từ 01/02/2022
đến 31/12/2022 177.356.907 đồng; thu hồi nộp ngân sách nhà nước theo kết
luận KTNN-TH số 54 ngày 31/5/2024 7.955.000 đồng, giá trị còn lại đã chuyển
trả cho Công ty với số tiền là 61.298 đồng.
Mặc thời điểm thực hiện 02 hợp đồng nêu trên nằm trong thời gian
thực hiện giảm chính sách thuế từ thuế suất gtrị gia tăng 10% xuống còn thuế
suất giá trị gia tăng 8% theo Nghị định 15/2022/NĐ-CP ngày 28/01/2022 của
5
Chính Phủ về việc quy định chính sách miễn, giảm thuế theo Nghị quyết số
43/2022/QH15 của Quốc hội về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ chương trình
phục hồi và phát triển kinh tế - hội, nhưng Ban quản dự án Công ty X
chưa thực hiện phụ lục hợp đồng để áp dụng việc giảm thuế suất như Nghị
định. vậy, Công ty X đã xuất hóa đơn với thuế suất giá trị gia tăng 8% trong
khi Ban quản dự án đã nghiệm thu thanh toán khối lượng từng đợt cho Công ty
X với thuế suất giá trị gia tăng 10%chưa đúng với khối lượng nghiệm thu thực
tế. Qua đó Ban quản dự án đã gửi công văn yêu cầu Công ty X phối hợp với
Ban quản dự án để thực hiện điều chnh hóa đơn đúng theo yêu cầu nộp trả
ngân sách theo Quyết định quyết toán dự án hoàn thành của cơ quan thẩm
quyền nhưng Công ty X vẫn chưa thống nhất. Được biết, căn cứ nội dung công
văn số 2238/CTBTR-TTHT ngày 25/7/2024 của Cục thuế tnh về việc chính sách
thuế do Công ty X đang bị cưỡng chế bằng biện pháp ngừng sử dụng hóa đơn theo
quy định tại khoản 2 Điều 13 Nghị định số 123/2020/NĐ-CP nên Công ty X không
xuất hóa giảm thuế suất giá trị gia tăng từ 10% xuống còn thuế suất giá trị gia tăng
8% theo yêu cầu của Ban quản dự án theo văn bản số 1775/BQLXD-TCKH
ngày 09/9/2024. Việcy do Công ty X vi phạm các quy định về thực hiện chính
sách thuế của Nhà nước nên Công ty X không được xuất hóa đơn theo yêu cầu.
Vì vậy, Ban quản lý dự án không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại Văn bản số 07-2025/VBNL ngày 07/7/2025, người quyền lợi
nghĩa vụ liên quan là Công ty X1 (công ty X1) trình bày: Giữa ban quản lý dự án
và Liên danh công ty X và Công ty X1 có ký hợp đồng thi công công trình Trung
tâm y tế huyện M. Trong thời gian thực hiện thi công dự án trên, mặc còn nằm
trong thời gian thực hiện chính sách giảm thuế từ 10% xuống còn 8% theo Nghị
định 15/2022/NĐ-CP ngày 28/01/2022 của Chính phủ nhưng giữa các bên chưa
hợp đồng phụ lục nào để thực hiện việc giảm thuế suất cho dự án nêu trên.
Công ty vẫn thực hiện theo các điều khoản hợp đồng không khó khăn vướng
mắc gì trong quá trình triển khai thực hiện dự án.
Tại Văn bản số 347/VLO-QLDN3 ngày 13/8/2025, người quyền lợi
nghĩa vụ liên quan T1 tỉnh Vĩnh Long trình bày: Thuế tnh Vĩnh Long đã
văn bản hướng dẫn về việc áp dụng mức thuế suất thuế giá trị gia tăng được
giảm đối với Công ty X theo quy định của pháp luật về thuế gtrị gia tăng. Thuế
tnh Vĩnh Long không phải người quyền lợi nghĩa vliên quan đến vụ
án. Thuế tnh Vĩnh Long sẽ tạm mcưỡng chế bằng biện pháp ngừng sử dụng hóa
đơn để Công ty X xuất hóa đơn điều chnh, thay thế cho hóa đơn đã lập sai sót khi
Thuế tnh V nhận được văn bản kết luận của Tòa án nhân dân khu vực 5 Vĩnh
Long.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 147/2025/DS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 5 Vĩnh Long đã tuyên xử:
Căn cứ khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39;
các Điều 147, 217, 218, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng các Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015;
6
Áp dụng Điều 26 Nghị quyết số 326/NQ- UBTVQH14 ngày 30/12/2016
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản và sử dụng án phí lệ phí
Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Trách nhiệm hữu hạn
X về việc yêu cầu Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình dân dụng và
công nghiệp tnh Bến Tre hoàn trả số tiền tính lại thuế giá trị gia tăng là 40.678.208
(Bốn mươi triệu sáu trăm bảy mươi tám nghìn hai trăm lẻ tám đồng).
2. Đình ch giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Trách
nhiệm hữu hạn X về việc yêu cầu Ban quản dự án đầu xây dựng các công
trình dân dụng công nghiệp tnh Bến Tre hoàn trả số tiền tính lại thuế giá trị
gia tăng là 450.687.070 (Bốn trăm năm mươi triệu sáu trăm tám mươi bảy nghìn
không trăm bảy mươi đồng).
3. Đình ch yêu cầu của Công ty Trách nhiệm hữu hạn X về việc áp dụng
mức thuế suất giá trị gia tăng 8%, yêu cầu Thuế tnh Vĩnh Long tạm mcưỡng
chế bằng biện pháp ngừng sử dụng hóa đơn đối với khối lượng đợt 19, 20, 21
22 đợt hoàn thành + phát sinh của Công trình xây dựng Trung tâm Y tế huyện M
và khối lượng đợt 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17 và 18 đợt hoàn thành + phát sinh của
công trình trường THCS T2, huyện T, tnh Bến tre; yêu cầu Tòa án kiến nghị Thuế
tnh Vĩnh Long điều chnh thuế suất giá trị gia tăng từ 10% xuống 8% đối với khối
lượng đợt 19, 20, 21, 22, đợt hoàn thành + phát sinh của công trình y dựng
Trung tâm y tế huyện M và khối lượng đợt 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, đợt hoàn
thành + phát sinh của công trình trường THCS T2, huyện T, tnh Bến Tre.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên tiền án phí và quyền kháng cáo của các đương
sự.
Ngày 06/10/2025 Công ty Trách nhiệm hữu hạn X kháng cáo yêu cầu sửa
Bản án số 147/2025/DS-ST ngày 23/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5
Vĩnh Long, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện,
yêu cầu kháng cáo, các đương sự không cung cấp thêm chứng cứ mới không thỏa
thuận được với nhau việc giải quyết vụ án.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tnh Vĩnh Long về vụ án:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã chấp hành
đúng các quy định về thụ lý vụ án, thẩm quyền giải quyết, xác định đúng quan hệ
pháp luật tranh chấp, tư cách đương sự, bảo đảm quyền và nghĩa vcủa các bên
đương sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự thực hiện đúng
quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Kháng cáo của công ty Trách nhiệm hữu hạn X không
sở chấp nhận đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 308
Bộ luật tố tụng dân sự giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Về án phí phúc thẩm: Công ty TNHH X phải chịu theo quy định pháp luật.
7
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra, căn cứ vào kết quả tranh
tụng tại phiên tòa trên sở xem xét đầy đtoàn diện chứng cứ, ý kiến của các
bên đương sự và Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Toà án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật Tranh
chấp đòi lại tài sản theo Điều 166 Bộ Luật dân sự là không đúng. Giữa Ban quản
dự án đầu tưy dựng các công trình dân dụng và công nghiệp tnh Bến Tre
Công ty Trách nhiệm hữu hạn X ký hợp đồng xây dựng công trình Trung tâm
y tế huyện M, công trình Trường THCS T2, huyện T, trong quá trình thanh
toán các bên tranh chấp khối lượng tính thuế giá trị gia tăng 10% giảm xuống 8%
trong các đợt thanh toán m 2022. Nên đây là tranh chấp hợp đồng về hợp đồng
dân sự theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự nên cấp phúc thẩm sửa quan
hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp hợp đồng xây dựng. Xét đơn kháng cáo của
nguyên đơn còn trong thời hạn luật định nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm
xem xét chấp nhận xét xử theo thủ tc phúc thẩm.
[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của Công ty Trách nhiệm hữu hạn X yêu
cầu sửa Bản án số 147/2025/DS-ST ngày 23/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực
5 nh Long, yêu cầu Ban Q xây dựng các công trình dân dụng và công nghiệp
tnh Bến Tre hoàn trả số tiền tính lại thuế giá trị gia tăng là 40.678.208 đồng.
Theo hợp đồng thi công y dựng công trình Trung tâm y tế huyện M số
01-2019/HĐXD ngày 15/11/2019 giữa Ban quản dự án đầu y dựng các
công trình dân dụng công nghiệp tnh Bến Tre Liên danh Công ty X Công
ty X1 hợp đồng thi công xây dựng công trình Trường THCS T2, huyện T 01-
2020/AH-HD-XD giữa Ban quản dự án đầu y dựng các công trình dân
dụng công nghiệp tnh Bến Tre và Công ty Trách nhiệm hữu hạn X. Theo Điều
8 của hai hợp đồng tổng giá trị hợp đồng bao gồm thuế VAT, hợp đồng đơn giá
cố định. Theo khoản 8.3 Điều 8 của hai hợp đồng các bên thỏa thuận như sau:
Thanh toán theo đơn giá đã ký kết trong hợp đồng.
- Hồ sơ thanh toán: Theo quy định.
- Nhà thầu sẽ xuất hóa đơn tài chính cho chủ đầu tư theo giá trị hợp đồng
của mình.
- Mức thanh toán: Chủ đầu tư sthanh toán cho nhà thầu 90% giá trị quyết
toán hợp đồng, về số tiền tạm giữ lại bảo hành 5% chquyết toán 5% giá
trị thực hiện sđược Chủ đầu giữ lại bằng cách khấu trừ vào đợt thanh toán
cuối cùng. Số tiền giữ lại sđược Chủ đầu gửi vào tài khoản của Chủ đầu
tại Ngân hàng TMCP Đ chi nhánh B. Sau khi được quyết toán, Chủ đầu tư sẽ tr
cho Nhà thầu cả gốc lãi theo mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn của Ngân
hàng.”
[3] Ngày 11/01/2023 Ban Q các công trình dân dụng công nghiệp tnh
Bến Tre và Liên danh Công ty X và Công ty X1 do Công ty X đứng đầu liên danh
biên bản thanh hợp đồng công trình dự án Trung tâm y tế huyện M giá trị
8
thanh toán và thanh lý hợp đồng 64.082.411.625 đồng. Chủ đầu tư đã thanh toán
cho nhà thầu 63.441.587.509 đồng. Giá trị chủ đầu phải thanh toán cho nhà
thầu 640.824.116 đồng (Chủ đầu tư tạm giữ 1% chờ quyết toán).
Ngày 23/5/2024 Ủy ban nhân dân tnh B Quyết định số 1132/QĐ-UBND
phê duyệt quyết toán dự án công trình Trung tâm y tế huyện M, trong đó thu hồi
giá trị chi phí y dựng 314.008.971 đồng. Số tiền tạm giữ 640.824.116 đồng Ban
quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình dân dụng công nghiệp tnh Bến
Tre đã nộp trả kinh phí 314.008.371 đồng còn lại 326.815.745 đồng Ban quản lý
dự án đã chuyển trả cho Công ty X.
[4] Ngày 28/4/2023 giữa Ban Q các công trình dân dụng công nghiệp
tnh Bến Tre và Công ty trách nhiệm hữu hạn X biên bản thanh hợp đồng
xây dựng công trình Trường THCS T2, huyện T. Giá trị thanh hợp đồng
21.341.412.603 đồng. Nhà thầu đã thanh toán 21.369.736.398 đ. Chủ đầu còn
giữa lại 213.697.000 đồng chờ quyết toán dự án. Ngày 22/12/2023 hai bên biên
bản nghiệm thu bảo hành công trình.
Ngày 05/12/2023 y ban nhân dân tnh B Quyết định số 2813/QĐ-
UBND phê duyệt quyết toán dự án hoàn thành trường THCS T2, huyện T trong
đó thu hồi số tiền 205.680.702 đồng (cắt giảm theo kiểm toán độc lập 28.323.795
đồng, cắt giảm thuế suất GTGT xuống 8% của năm 2022 bằng 177.356.907 đồng).
Ban quản dự án đã thu hồi nộp Ngân sách theo quyết định phê duyệt quyết toán
kết luận kiểm toán Nhà nước, còn lại 61.298 đồng Ban quản dự án đã chi trả
cho công ty.
[5] Theo quy định Nghị định số 15/2022/NĐ-CP ngày 28/01/2022 của
Chính phủ quy định chính sách miễn, giảm thuế theo Nghị quyết số
43/2022/QH15 của Quốc hội về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ chương trình
phục hồi phát triển kinh tế - hội thì các công trình được nghiệm thu bàn giao
hạng mục hoàn thành từ ngày 01/2/2022 đến 31/12/2022 được áp dụng thuế giá
trị gia tăng 8%.
Căn cứ Điều 143 Luật xây dựng và hợp đồng kết trong quá trình thực
hiện các bên quyền đề nghị điều chnh hợp đồng. Trong quá trình thực hiện
hợp đồng Ban Q xây dựng các công trình dân dụng và công nghiệp tnh Bến Tre
Công ty Trách nhiệm hữu hạn X đã ký phụ lục hợp đồng số 01E-2019/PLHĐ
ngày 31/8/2002 công trình Trung tâm y tế huyện M.
Theo hợp đồng kết giá trị hợp đồng bao gồm thuế giá trị gia tăng bên
nhà thầu phải xuất hóa đơn cho chủ đầu tư. Việc xuất hóa đơn 8% hay 10% do
nhà thầu chịu trách nhiệm theo quy định ca pháp luật. Trong quá trình thực hiện
các bên có lập biên bản xử hóa đơn điện tử sai sót theo đúng quy định của
Thông s78/2021/TT/BTC. Đồng thời Cục Thuế tnh V cũng văn bản hướng
dẫn cho Công ty X thực hiện việc khai thuế theo quy định. Việc Công ty X
không thực hiện được việc xuất hóa đơn đã điều chnh thuế do bị cục thuế xử
hành chính vi phạm thuế lỗi của Công ty X. Đồng thời khoản 1 Điều 47 của
Luật quản thuế quy định: Người nộp thuế phát hiện hồ khai thuế đã nộp cho
cơ quan thuế sai, sót thì được khai bổ sung hồ khai thuế trong thời hạn 10
9
năm kể từ ngày hết thời hạn nộp hồ khai thuế của kỳ tính thuế sai, sót nhưng
trước khi quan thuế, quan thẩm quyền công bố quyết định thanh tra, kiểm
tra.
Do đó Công ty X được quyền khai thuế giá trị gia tăng năm 2022 lại theo
quy định của pháp luật.
Từ những căn cứ nêu trên yêu cầu kháng cáo của Công ty X buộc Ban Q
các công trình dân dụng và công nghiệp tnh Bến Tre phải trả số tiền 19.122.487
đồng tiền tính chênh lệch thuế đợt thanh toán thứ 21 của công trình Trung tâm y
tế huyện M, khối lượng đợt 11 của công trình xây dựng trường THCS T2, huyện
T với stiền 12.515.362 đồng; khối lượng đợt 18 của công trình xây dựng trường
THCS T2, huyện T với số tiền 9.040.359 đồng là không có cơ sở để chấp nhận.
[6] Ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tnh Vĩnh Longcó căn
cứ nên được chấp nhận.
Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo kháng nghị
tiếp tục có hiệu lực thi hành.
[7] Về án phí phúc thẩm: Yêu cầu kháng cáo của Công ty trách nhiệm hữu
hạn X không được chấp nhận nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật T tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 47 Luật quản lý thuế năm 2019;
Căn cứ Nghị định số 15/2022/NĐ-CP ngày 28/01/2025 của Chính phủ quy
định chính sách miễn, giảm thuế theo Nghị quyết số 43/2022/QH15 của Quốc hội
về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ chương trình phục hồi và phát triển kinh tế -
xã hội
Căn cứ Thông tư số 78/2021/TT/BTC ngày 17/9/2021 của Bộ T3;
Căn c Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty Trách nhiệm hữu hạn
X.
Giữ nguyên bản án số 147/2025/DS-ST ngày 23/9/2025 của Tòa án nhân
dân khu vực 5 – Vĩnh Long.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Trách nhiệm hữu hạn X
về việc yêu cầu Ban quản dự án đầu y dựng các công trình dân dụng
công nghiệp tnh Bến Tre hoàn trả số tiền tính lại thuế giá trị gia tăng 40.678.208
đồng.
10
Về án phí phúc thẩm: Công ty Trách nhiệm hữu hạn X phải chịu 300.000
đồng. Công ty Trách nhiệm hữu hạn X đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án p
phúc thẩm theo biên lai thu số 0004261 ngày 06/10/2025 của Thi hành án dân sự
tnh Vĩnh Long nên cấn trừ.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Ngô Thị Kim Châu Nguyễn Văn Dũng
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Thành Trung
Nơi nhận:
- VKSND tnh Vĩnh Long;
- TAND khu vực 5 - Vĩnh Long;
- Phòng THADS khu vực 5 – Vĩnh Long;
- Các đương sự (theo địa ch);
- Lưu: TDS, hồ sơ vụ án.
Tải về
Bản án số 03/2026/DS-PT Bản án số 03/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 03/2026/DS-PT Bản án số 03/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất