Bản án số 03/2021/HSST ngày 12/01/2021 của TAND huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 03/2021/HSST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 03/2021/HSST
| Tên Bản án: | Bản án số 03/2021/HSST ngày 12/01/2021 của TAND huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình |
|---|---|
| Tội danh: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Yên Khánh (TAND tỉnh Ninh Bình) |
| Số hiệu: | 03/2021/HSST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 12/01/2021 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YK - TỈNH NINH BÌNH
Bản án số: 03/2021/HSST
Ngày 12/01/2021
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YK - TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Lực.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Huế.
2. Ông An Văn Đương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Việt Phúc, Thư ký Tòa án nhân dân huyện YK,
tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện YK tham gia phiên tòa: Ông Phạm
Xuân Đình, Kiểm sát viên.
Ngày 12/01/2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện YK, tỉnh Ninh Bình; xét xử
công khai vụ án hình sự sơ thẩm
thụ lý số 60/2020/TLST-HS ngày 03/12/2020, theo
quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2020/QĐXXST-HS ngày 30/12/2020 đối với bị
cáo:
Nguyễn Văn H sinh năm 1970; tại xã KT, huyện YK, tỉnh Ninh Bình; trú tại
xóm 2, xã KT, huyện YK, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn
hóa 2/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông N và bà M; vợ K
và có 02 con lớn nhất 30 tuổi nhỏ nhất 22 tuổi; tiền án không; tiền sự ngày
24/3/2020 bị Công an xã KT xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi đánh bạc; bị cáo
đang bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
Người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Anh Phạm Việt B sinh năm 1963; địa chỉ xóm 2, xã KT, huyện YK, tỉnh Ninh
Bình; có mặt
- Anh Phạm Văn D sinh năm 1975; địa chỉ xóm 2, xã KT, huyện YK, tỉnh Ninh
Bình; có mặt.
- Anh Đỗ Văn T sinh năm 1980; địa chỉ xóm 2, xã KT, huyện YK, tỉnh Ninh
Bình; có mặt.
- Anh Phạm Văn M sinh năm 1982; địa chỉ xóm 2, xã KT, huyện YK, tỉnh Ninh
Bình; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
Khoảng 7 ngày 14/10/2020 B, D, T, M đến tàu thủy số hiệu NB-2988 đang neo
đậu trên sông Đáy thuộc địa phận xóm 2, xã Khánh Thiện, huyện YK để ăn sáng
cùng với H. Sau khi ăn sáng xong, H rủ tất cả những người trên đánh bạc, tất cả đều
đồng ý. H bảo D lấy bộ bài tú lơ khơ có sẵn trên tàu; rồi H, B, D, T, M cùng nhau
đánh “Liêng” được thua bằng tiền. Đến 09 giờ 50 phút cùng ngày bị Công an xã
Khánh Thiện phát hiện bắt quả tang; thu giữ 01 bộ tú lơi khơ 52 quân và tổng số
tiền là 4.570.000 đồng (trong đó thu giữ tại chiếu là 1.300.000 đồng, thu giữ trong
người của H là 500.000 đồng, trong người của B là 1.270.000 đồng, trong người
của D là 100.000 đồng, trong người của T là 1.400.000 đồng). Quá trình điều tra
xác định và tại phiên tòa bị cáo và những người liên quan đều khai tổng số tiền bị
thu giữ là 4.570.000 đồng, đều được sử dụng vào việc đánh “Liêng” được thua
bằng tiền.
Cáo trạng số 66/CT-VKSYK ngày 30/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân
huyện YK truy tố bị cáo H về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật
Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố trình bày lời
luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo H như cáo trạng và đề
nghị Hội đồng xét xử, tuyên bố bị cáo H phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ khoản 1 khoản 3 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36
của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo H từ 06 tháng đến 09 tháng cải tạo không giam
giữ; phạt bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng; khấu trừ 5% thu nhập
hằng tháng của bị cáo H trong thời gian cải tạo không giam giữ để sung quỹ Nhà
nước.
- Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền sử dụng vào việc đánh bạc 4.570.000
đồng; tịch thu tiêu hủy 01 bộ tú lơi khơ 52 quân.
Bị cáo H khai: Sáng ngày 14/10/2020 H, B, D, T, M cùng nhau đánh “Liêng”
được thua bằng tiền, tổng số tiền sử dụng vào việc thắng thua là 4.570.000 đồng,
trong đó tiền của H là 760.000 đồng.
Nói lời sau cùng bị cáo H nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật,
bị cáo rất ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt
cho bị cáo và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh
tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá
trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo
quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người liên quan đều không có ý kiến
hoặc khiếu nại gì; nên các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát
viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng pháp luật. Tại phiên tòa
3
Kiểm sát viên đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai
bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người liên quan, người làm
chứng; phù hợp với các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa
điểm, hành vi của bị cáo và vật chứng đã thu giữ, nên có đủ cơ sở khẳng định:
Khoảng 09 giờ 50 phút ngày 14/10/2020 trên tàu thủy số hiệu NB-2988 đang
neo đậu trên sông Đáy thuộc địa phận xóm 2, xã Khánh Thiện; Công an xã Khánh
Thiện bắt quả tang H, B, D, T, M cùng nhau đánh “Liêng” được thua bằng tiền.
Tổng số tiền được sử dụng vào việc đánh “Liêng” được thua bằng tiền là 4.570.000
đồng.
Hành vi đánh tú lơ khơ với nhau theo hình thức đánh “Liêng” được thua bằng
tiền của H, B, D, T, M là trái pháp luật; tổng số tiền sử dụng vào việc đánh “Liêng”
là 4.570.000 đồng, nhưng do bị cáo H đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi
“Đánh bạc” chưa được xóa tiền sự mà còn vi phạm, nên hành vi của bị cáo H đã
phạm vào tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện YK truy tố bị cáo H về
tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội,
đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo H không có tình tiết tăng nặng.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại
điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Từ những tình tiết nêu trên, thấy rằng: Bị cáo H phạm tội ít nghiêm trọng, số
tiền sử dụng vào việc đánh bạc ít, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo
có nơi cư trú rõ ràng. Xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội, mà
áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ và giao bị cáo cho chính quyền địa
phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục, cũng đủ điều kiện để giáo dục bị cáo;
căn cứ khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự phạt bổ sung đối với bị cáo là
12.000.000 đồng.
Khấu trừ 5% thu nhập hằng tháng của bị cáo H trong thời gian cải tạo không
giam giữ, để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
[6] Về biện pháp tư pháp và vật chứng: Vật chứng đã thu giữ gồm “01 bộ tú lơ
khơ 52 quân, tổng số tiền là 4.570.000 đồng”.
- Đối với 01 bộ tú lơ khơ 52 quân, bị cáo và những người liên quan sử dụng vào
việc đánh bạc, do không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- Về số tiền là 4.570.000 đồng (Trong đó của H là 760.000 đồng, của D là
220.000 đồng, của B là 1.370.000 đồng, của M là 620.000 đồng và của T là
1.600.000 đồng); toàn bộ số tiền này bị cáo và những người liên quan sử dụng vào
việc đánh bạc, nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
[7] Đối với B, D, T, M cùng tham gia đánh bạc với H, nhưng tổng số tiền sử
dụng vào việc đánh bạc dưới 5.000.000 đồng; B, D, T, M đều không có tiền án, tiền
4
sự về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc, nên Công an huyện YK đã ra
quyết định xử phạt hành chính đối với B, D, T, M là đúng pháp luật.
[8] Về án phí: Bị cáo H bị xử có tội, nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Đánh bạc”.
2. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 36 của
Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Văn H 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ, thời gian cải
tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát giáo dục bị
cáo nhận được quyết định thi hành án và bản án. Phạt bổ sung 12.000.000 đồng
(mười hai triệu đồng).
Khấu trừ 5% thu nhập hằng tháng của bị cáo H trong thời gian cải tạo không
giam giữ, để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
Giao bị cáo Nguyễn Văn H cho Ủy ban nhân dân xã KT, huyện Yện Khánh, tỉnh
Ninh Bình; giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị
cáo H có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát,
giáo dục bị cáo. Trong trường hợp bị cáo H thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo
quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
3. Về biện pháp tư pháp và vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự,
Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước tổng số tiền bị cáo H và những người
liên quan là anh D, anh B, anh M, anh T sử dụng vào việc đánh bạc là 4.570.000
đồng (gồm của H là 760.000 đồng, của D là 220.000 đồng, của B là 1.370.000
đồng, của M là 620.000 đồng, của T là 1.600.000 đồng); toàn bộ số tiền đang trong
tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện YK, số tài khoản
3949.0.1055132.00000 tại Kho bạc Nhà nước huyện YK, theo ủy nhiệm chi số 06
ngày 31/03/2020 của Công an huyện YK.
- Tịch thu tiêu hủy 01 bộ tú lơ khơ 52 quân; vật chứng có đặc điểm tình trạng
như biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/04/2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra
Công an huyện YK với Chi cục Thi hành án dân sự huyện YK.
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức
thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo
Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo H; người có quyền, nghĩa vụ liên quan gồm anh D, anh B, anh M, anh T
có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân
sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng

5
chế thi hành án theo quy định tại các Đều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời
hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Ninh Bình
- VKSND huyện YK
- VKSND tỉnh Ninh Bình
- Công an huyện YK
- Bị cáo,
- Người liên quan
- Lưu hồ sơ
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa
Bùi Văn Lực
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 13/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 11/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 10/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 10/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 09/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 08/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 08/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 08/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 08/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 08/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 05/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 04/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 04/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 04/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 04/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 03/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Bản án số 34/2025/HNGĐ-PT ngày 02/12/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Bản án số 33/2025/HNGĐ-PT ngày 02/12/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm