Bản án số 02/2026/HC-ST ngày 24/03/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 02/2026/HC-ST

Tên Bản án: Bản án số 02/2026/HC-ST ngày 24/03/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 02/2026/HC-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 24/03/2026
Lĩnh vực: Hành chính
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: người khởi kiện đề nghị Toà án xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông, cụ thể
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 12 – ĐẮK LẮK
Bản án số: 02/2026/HC-ST
Ngày: 24-3-2026
V/v khiếu kiện: “Quyết định hành
chính trong lĩnh vực quản lý đất đai;
yêu cầu cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Hữu Duyên;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Thanh Khảnh.
2. Ông Lê Văn Bảy.
- Thư phiên tòa: Thị Cẩm M Thư viên Tòa án nhân dân
khu vực 12 – Đắk Lắk;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 Đắk Lắk tham gia
phiên tòa: bà Phạm Ngọc Thị Hàn Ni – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 Đắk
Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 01/2026/TLST-HC ngày 05 tháng
01 năm 2026 vviệc khiếu kiện “Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản
đất đai; yêu cầu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa
vụ án ra xét xử số: 01/2026/QĐXXST-HC ngày 04 tháng 3 năm 2026, giữa các
đương sự:
1. Người khởi kiện: vợ chồng ông Đức D, sinh năm 1957 và bà Đỗ
Thị L, sinh năm 1958; địa chỉ: khu phố P, phường H, tỉnh Đắk Lắk. Bà Đỗ Thị L
uỷ quyền cho ông Lê Đức D tham gia tố tụng. Có mặt.
2. Người bị kiện:
- Chủ tịch UBND phường H, tỉnh Đắk Lắk.
- UBND phường H, tỉnh Đắk Lắk.
Người đại diện theo uỷ quyền của UBND phường H Chủ tịch UBND
phường H: ông Nguyễn Công D1 Chức vụ: Phó Chủ tịch phường H. đơn
xin xét xử vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của UBND phường H Chủ tịch
UBND phường H: ông Xuân L1, sinh năm 1984 Chức vụ: Phó Trưởng
phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị; địa chỉ: Khu phố B, phường T, tỉnh Đắk Lắk.
2
Có mặt.
3. Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: vợ chồng ông Văn Tấn T,
sinh năm 1960 và Thị V, sinh năm 1957; địa chỉ: khu phố P, phường H,
tỉnh Đắk Lắk. Bà Thị V ủy quyền cho ông Văn Tấn T tham gia tố tụng.
mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ghi ngày 24/12/2025, các tài liệu tại hồ ti
phiên toà, người khởi kiện trình bày:
Thửa đất số 125, tờ bản đồ 16, diện tích 1.896,3m
2
, tọa lạc tại khu phố P,
phường H, tỉnh Đắk Lắk theo Mảnh đo đạc chỉnh bản đồ địa chính lập ngày
04/12/2018 của Văn phòng Đăng đất đai tỉnh P (cũ) nguồn gốc do vợ
chồng ông (Lê Đức D, Đỗ Thị L) khai hoang vào năm 1994 theo chính sách
“khuyến khích lấn biển, đưa diện tích đất trống, bãi bồi ven biển vào sdụng”
theo chủ trương chung của chính quyền địa phương nhằm giữ đất bãi ven biển
được Luật đất đai quy định, phục vụ phát triển ngành nghề đánh cá ven biển. Vợ
chồng ông đăng khai với chính quyền được Ban N xác nhận vào ngày
25/3/1994 với diện tích 2.200m
2
(ngang 55 mét, sâu 40 mét); vợ chồng ông quản
lý, canh tác sử dụng, trồng cây lâu năm (dừa, dương, dừa, xoài, mít), dựng trại
trên thửa đất này để làm nghề biển, trồng hàng rào dứa, bàn chải để làm ranh
giới với các thửa đất khác.
Sau đó, vợ chồng ông thực hiện việc đăng khai khi Nhà nước tiến
hành thống kê, kiểm đất đai được ghi vào hồ địa chính năm 2010 thể
hiện tại thửa 80, tờ bản đồ 16, diện tích 1883,1m
2
, theo Bản vẽ của Công ty
TNHH K diện tích 1.622,5m
2
. Đây sở pháp chứng minh thời điểm sử
dụng đất vợ chồng ông được Nhà nước thừa nhận ghi nhận vào hồ sơ địa chính.
Vợ chồng ông đóng thuế khi nnước yêu cầu nhưng hiện nay bị
thất lạc biên lai không thể cung cấp cho tòa. Năm 2018, vợ chồng ông làm thủ
tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất này nhưng
UBND thị trấn H (nay là phường H) trả lời chờ xét lại nguồn gốc đất. Sau đó,
Ủy ban lập đoàn kiểm tra xuống kiểm tra lập biên bản hiện trạng khu đất của vợ
chồng ông nói chờ xác minh lại Ban nhân thôn P xác nhận cho vợ
chồng ông khai hoang sử dụng đất vào năm 1994 hay không đxem xét cấp
Giấy chng nhận quyền sdụng đất cho vợ chồng ông. Việc khai hoang xin
sử dụng đất hoang ven biển để sử dụng, canh tác không chỉ riêng vợ chồng ông
bà mà tất cả con ở nơi đây cũng đều xin phép khai thác, sử dụng đất ven biển
đều được chính quyền thông qua Ban nhân dân thôn xác nhận, tất cả sau này
đều được đăng ký khai đứng tên hồ sơ địa chính. Nhưng không hiểu do
gì, các chủ sử dụng đất giáp ranh một số con khác được cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, được xây dựng cất nhà (như gia đình Trần Th
Kim T1, gia đình ông Văn T2…), trong khi vợ chồng ông bà lại không được
công nhận và không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
3
Quá trình sử dụng, vợ chồng ông thường xuyên dọn hàng rào dứa gai, cải
tạo đất, canh tác trồng cây lâu năm. Năm 2018, vợ chồng ông D, L trồng trụ
tông rào lại thửa đất 125 nêu trên đxác định ràng tứ cận, ranh giới với
các chủ sử dụng đất khác để không tranh chấp sau này và không bị chủ sử dụng
đất khác lấn chiếm, nhằm mục đích bảo vệ tài sản gắn liền với đất của vợ chồng
ông. Nhưng đoàn kiểm tra Ủy ban nhân dân thị trấn H đã tự ban nh quyết
định xử phạt hành chính về hành vi tự ý trồng trụ tông, hàng rào dây thép gai
để chiếm đất ra quyết định buộc cưỡng chế buộc tháo dỡ các trụ tông
vợ chồng ông làm hàng o không đúng thửa đất 125 thuộc quyền sử dụng
hợp pháp của vợ chồng được pháp luật bảo vệ.
Đến khi vợ chồng ông nhận Công văn số 2490/UBND-KTHTĐT ngày
23/12/2025 trả lại hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì mới biết
UBND thị trấn H ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 26/QĐ-
XPVPHC ngày 16/7/2018 Quyết định cưỡng chế số 250/QĐ-UBND ngày
28/8/2018. Từ đó cho đến nay chính quyền chưa một lần thi hành các quyết định
này vì lý do căn cứ áp dụng cho rằng vợ chồng ông lấn chiếm đất không đúng sự
thật, hơn nữa thời hiệu thi hành quyết định hành chính đã quá thời hạn luật định
nên không còn hiệu lực thi hành. Do đó, việc UBND phường H và Chủ tịch
UBND phường H ban hành Công văn số 2490/UBND-KTHTĐT ngày
23/12/2025 để cho rằng chúng tôi đã bị xử phạt hành chính nên không đủ điều
kiện cấp giấy là không đúng, không xem xét về thời điểm sử dụng đất, quá trình
sử dụng đất của vợ chồng ông ổn định, lâu dài trước ngày 01/7/2014. Căn cứ
Điều 138 Luật Đất đai năm 2024, đnghị Toà án xem xét chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của vợ chồng ông, cụ thể:
1- Huỷ Công n số 2490/UBND-KTHTĐT ngày 23/12/2025 của
UBND phường H xem xét huỷ các quyết định hành chính liên quan gồm:
Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 26/QĐ-XPVPHC ngày 16/7/2018
Quyết định cưỡng chế số 250/QĐ-UBND ngày 28/8/2018;
2- Buộc UBND phường H tiếp nhận lại hcấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất tại thửa đất số 125 nêu trên cho vợ chồng ông.
Theo các tài liệu tại hồ tại phiên toà, người đại diện hợp pháp
của người bị kiện trình bày:
Theo hồ sơ địa chính qua các thời kỳ, thửa đất số 125, tờ bản đồ 16, theo
Bản vẽ của Công ty TNHH K có diện tích là 1.622,5m
2
, mục đích sử dụng đất là
đất trồng cây u năm, toạ lạc tại khu phố P, phường H, tỉnh Đắk Lắk vợ
chồng ông Đức D, Đỗ Thị L khởi kiện nguồn gốc, quá trình sử dụng
như sau:
- Theo tờ bản đồ đo đạc năm 1995: thửa đất số 125 nêu trên thuộc một
phần thửa đất số 2, tờ bản đồ địa chính 19-B, diện tích 95.000m
2
, loại đất Hoang
(Hg/b) thể hiện tại Sổ Mục kê thuộc trang 21, quyển số 02, lập ngày 10/12/1999,
tên sử dụng đất: Đất chưa sử dụng, do UBND thị trấn (nay là phường) quản lý.
4
- Theo tbản đồ đo đạc năm 2010 (Bản đồ Nam Kinh tế): thửa đất số
125 nêu trên tương ứng với thửa đất số 80, tờ bản đồ địa chính 16, diện tích
1.833,1m
2
, loại đất cây lâu năm (LNK) thể hiện tại Sổ Mục thuộc trang số
149, quyển số 01, được phê duyệt ngày 30/12/2015, tên kê khai đăng ký: Lê Đức
D.
Thửa đất số 125, tờ bản đồ 16 vợ chồng ông Lê Đức D đang khởi kiện có
nguồn gốc loại đất hoang bằng chưa sử dụng do UBND thị trấn H quản lý thể
hiện tại hồ địa chính tại SMục kê năm 1995. Ban N không phải tổ chức
có thẩm quyền giao đất theo quy định pháp luật đất đai.
Năm 2018, UBND thị trấn H (cũ) kiểm tra thì phát hiện ông Đức D
trồng trụ tông, rào chiếm đất nông nghiệp không phải đất trồng lúa, đất
rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất với diện tích 1.962m
2
tại
thửa đất số 80, tờ bản đồ 16 khai sử dụng ông Lê Đức D nguồn gốc thuộc
thửa số 2, tờ bản đồ 19B, diện tích 95.200m2 loại đất hoang (bằng chưa sử
dụng) do UBND thị trấn H quản lý. Căn cứ theo nguồn gốc đất, UBND phường
H ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 26/QĐ-XPVPHC ngày
16/7/2018; ông D không tự nguyện thi hành nên Ủy ban ra Quyết định cưỡng
chế số 250/QĐ-UBND ngày 28/8/2018; ông Lê Đức D chưa chấp hành 02 Quyết
định này. Căn cứ Điều 74, 88 Luật xử vi phạm nh chính đến nay Quyết
định xử phạt vi phạm hành chính 26 và Quyết định cưỡng chế số 250 đã quá thời
hiệu thi hành.
Ngày 27/6/2025 UBND thị Đ (cũ) ban hành Thông báo số 410/TB-
UBND điều chỉnh một phần Kết luận số 08/KL-UBND ngày 04/12/2019 của
UBND huyện Đ (cũ) về việc thanh tra quản sử dụng đất lấn chiếm đất đai
của các hộ dân thị trấn H, trong đó nội dung: Nay, UBND thị thông báo
điều chỉnh phần biện pháp xcủa Kết luận như sau: Không thực hiện điều
chỉnh hồ sơ địa chính đối với thửa đất số 79 tờ, bản đồ 16 do ông Văn Tấn T
khai thửa đất số 80 tờ bản đồ 16 do ông Đức D khai. do: Việc
khai đăng sử dụng đất của hộ gia đình nhân đúng theo quy định tại
khoản 1 Điều 95 Luật đất đai 2013: Đăng ký đất đai là bắt buộc đối với người sử
dụng đất người được giao đất để quản lý; đăng ký quyền sở hữu nhà tài
sản khác gắn liền với đất thực hiện theo yêu cầu của chủ sở hữu”.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vợ chồng ông Văn Tấn T,
Thị V do ông T đại diện trình bày:
Nguyên trước đây ông (Tức) ông Đức D xin 01 đất sát bn
của chính quyền địa phương thông qua Ban N vào năm 1992 sử dụng từ đó
cho đến nay, đã được ông đăng khai thể hiện tại tờ bản đồ địa chính năm
2010. Quá trình sử dụng, ông và ông D phá hàng rào dứa giáp ranh giữa hai bên
trồng trụ tông dây thép gai để xác định ranh giới mốc giới vào năm
2010 để hai bên không phải nói qua lại về ranh giới, mốc giới giữa hai bên.
Năm 2021, vợ chồng ông vợ chồng ông D cùng bỏ tiền ra xây dựng
móng tường chung bằng gạch B sdụng tđó đến nay như hiện trạng
Tòa án đã tiến hành xem xét, thẩm định. Theo bản vẽ của Công ty TNHH K, so
5
với tờ bản đồ năm 2010 tphần đất của vợ chồng ông lấn qua thửa đất của
ông Đức D một ít do quá trình phát dọn hàng rào dứa, đã được các bên
thỏa thuận mốc giới, ranh giới trồng trụ tông vào năm 2010, móng tường
gạch Block; ông D ông không tranh chấp nên đề nghị Tòa án xem xét, giải
quyết theo quy định.
Tòa án nhân dân khu vực 12 Đắk Lắk đã tiến hành đối thoại nhưng
không thành.
Tại phiên tòa:
* Người khởi kiện giữ nguyên lời trình bày, tnguyện xin rút lại một
phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu “Công nhận quyền sử dụng đất tại thửa
đất số 125, tờ bản đồ 16, diện tích 1.622,5m
2
, tọa lạc tại khu phố P, phường H,
tỉnh Đắk Lắk theo Bản vẽ của Công ty TNHH K”, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của vợ chồng ông là: Huỷ Công văn số 2490/UBND-KTHTĐT
ngày 23/12/2025 của UBND phường H xem xét huỷ các quyết định hành
chính có liên quan gồm: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 26/QĐ-
XPVPHC ngày 16/7/2018 Quyết định cưỡng chế số 250/QĐ-UBND ngày
28/8/2018; buộc UBND phường H tiếp nhận lại hồ và cấp giấy chứng
nhận quyền sdụng đất tại thửa đất số 125 nêu trên cho vchồng ông; không
tranh chấp ranh giới, mốc giới và phần diện tích vợ chồng ông T đang sử dụng.
* Người bị kiện giữ nguyên lời trình bày, thửa đất vợ chồng ông Lê Đức
D khởi kiện bị xử phạt hành chính sau ngày 01/7/2014 nên thuộc trường hợp
không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đề nghị Tòa án xem xét
giải quyết theo quy định pháp luật.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 Đắk Lắk phát biểu ý
kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Trong quá tnh giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội
đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng quy định
của Luật Tố tụng hành chính, đảm bảo cho đương sự thực hiện đúng các quyền
và nghĩa vụ.
- Về nội dung vụ án: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, đề
nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của người khởi kiện: 1- Huỷ Công văn
số 2490/UBND-KTHTĐT ngày 23/12/2025 của UBND pờng H; 2- Buộc
UBND phường H tiếp nhận lại hồ sơ và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
tại thửa đất số 125 nêu trên cho vợ chồng ông Đức D. Đình chỉ yêu cầu
“Công nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số 125, tờ bản đồ 16, diện tích
1.622,5m
2
, tọa lạc tại khu phố P, phường H, tỉnh Đắk Lắk” của người khởi kiện.
Người khởi kiện tự nguyện chịu chi phí tố tụng nên không xét; người bị kiện
phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
6
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ tại hồ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của các bên đương
sự; Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Ủy ban nhân dân phường H quan thẩm quyền quản đất
đai Chủ tịch Ủy ban nhân dân (viết tắt UBND) phường H người thẩm
quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu theo quy định tại Điều
136 Luật Đất đai năm 2024; điểm h khoản 1 Điều 5 Nghị định 151/2025/NĐ-CP
ngày 12/6/2025, điểm b khoản 2 Điều 14 Nghị định số 49/2026/NĐ-CP ngày
31/01/2026. Việc UBND phường H tiếp nhận hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất (viết tắt GCNQSDĐ) của vợ chồng ông Đức D, Đỗ Thị L
nhưng sau đó Chủ tịch UBND phường H ban hành Công văn số 2490/UBND-
KTHTĐT ngày 23/12/2025 trả hồ sơ, không đồng ý cấp GCNQSDĐ của vợ
chồng ông Đức D, Đỗ Thị L cho rằng quyền sử dụng đất do UBND
phường H quản lý, sử dụng là quyết định hành chính làm ảnh hưởng đến quyền,
lợi ích hợp pháp của người khởi kiện theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 3 Luật
Tố tụng hành chính. Căn cứ Điều 30, Điều 31 Luật Tố tụng hành chính Điều
4 Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Uỷ ban
thường vụ Quốc hội, ván thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân
khu vực 12 – Đắk Lắk.
[1.2] Thời hiệu khởi kiện: ngày 23/12/2025, Chủ tịch UBND phường H
trả hồ đề nghị cấp GCNQSDĐ của vợ chồng ông Đức D, Đỗ Thị L
không thuộc trường hợp đủ điều kiện để được cấp GCNQSDĐ. Căn cứ điểm a
khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính, vợ chồng ông Đức D, bà Đỗ Thị
L khởi kiện đối với Công văn số 2490/UBND-KTHTĐT ngày 23/12/2025 của
Chủ tịch UBND phường H là còn thời hiệu khởi kiện.
[1.3] Tại phiên tòa, người khởi kiện tự nguyện rút lại yêu cầu khởi kiện
“Công nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số 125, tờ bản đồ 16, diện tích
1.622,5m
2
, tọa lạc tại khu phố P, phường H, tỉnh Đắk Lắk theo Bản vẽ của Công
ty TNHH K”, nên Hội đồng xét xử không xét và đình chỉ giải quyết đối với yêu
cầu này.
[2] Về nội dung khởi kiện: 1- Yêu cầu huỷ Công văn số 2490/UBND-
KTHTĐT ngày 23/12/2025 của UBND phường H và xem xét huỷ Quyết định
xử phạt vi phạm hành chính 26/QĐ-XPVPHC ngày 16/7/2018 Quyết định
cưỡng chế số 250/QĐ-UBND ngày 28/8/2018 của UBND thị trấn H (cũ); 2-Yêu
cầu buộc UBND phường H tiếp nhận lại hồ sơ và cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất tại thửa đất số 125 nêu trên cho vợ chồng ông D, bà L thực hiện đầy đủ
các quyền, nghĩa vụ theo quy định pháp luật, thấy rằng:
[2.1] Xét nguồn gốc đất, quá trình sdụng và thời điểm sử dụng đất tại
thửa đất số 125, tờ bản đồ 16, diện tích 1.622,5m
2
tọa lạc tại khu phố P, phường
H, tỉnh Đắk Lắk:
7
[2.1.1] Thửa đất số 125 nêu trên nguồn thuộc một phần thửa đất số 2,
tờ bản đồ địa chính 19-B, diện tích 95.000m
2
, loại đất Hoang (Hg/b) thể hiện tại
Sổ Mục thuộc trang 21, quyển số 02, lập ngày 10/12/1999, tên sdụng đất:
Đất chưa sử dụng, do UBND thị trấn (nay là phường) quản lý.
[2.1.2] Đơn xin xác nhận ghi ngày 12/3/1994 của ông Đức D nội
dung “Tôi khai quan (hoang) một mảnh đất tích ngang 55 mét, sâu 40 mét.
Kính mong Ban N xác nhận để làm chứng từ về sau”, được ông Đức T3
Trưởng Ban N (nay là khu phố P) ký xác nhận vào ngày 25/3/1994: “Năm 1994,
ông Đức D khai hoan (hoang) đất - diện tích địa điểm theo đơn ông
trình bày là đúng”. Tuy giấy xác nhận này không phải là một trong các loại giấy
tờ được luật đất đai thừa nhận; Ban N không phải là cơ quan có thẩm quyền giao
đất, nhưng sở để chứng minh thời điểm sử dụng đất của vợ chồng ông
Đức D.
[2.1.3] Theo tờ bản đồ đo đạc năm 2010 (Bản đồ Nam Kinh tế): thửa đất
số 125 nêu trên tương ứng với thửa đất số 80, tờ bản đồ địa chính 16, diện tích
1.833,1m
2
, loại đất cây lâu năm (LNK) thể hiện tại Sổ Mục thuộc trang số
149, quyển số 01, được phê duyệt ngày 30/12/2015, tên kê khai đăng ký: Lê Đức
D.
[2.1.4] Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 28/01/2026 thể
hiện: “trên thửa đất 125, vợ chồng ông Lê Đức D có trồng các cây ăn trái (xoài,
mít), trồng trụ bê tông dây thép gai”.
[2.1.5] Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của UBND
phường H thừa nhận “thửa đất số 2, tờ bản đồ địa chính 19-B, diện tích
95.000m
2
, loại đất Hoang chưa sử dụng, UBND quản về mặt hành chính,
không trực tiếp chưa sử dụng thửa đất số 2. Và theo tờ bản đồ đo đạc năm
2010 (Bản đồ Nam Kinh tế), thửa đất số 2, tờ bản đồ địa chính 19-B (năm
1995), diện tích 95.000m
2
, loại đất Hoang (Hg/b), đã được chỉnh lý và giải thửa
thành nhiều thửa gồm: các thửa đất số 4, 5, 6, 24, 25, 26, 27, 29, 58, cùng thuộc
tờ bản đồ số 8; các thửa 18, 19, 20, 55, 56, 57, cùng thuộc tờ bản đsố 15; các
thửa 8, 9, 79, 80, 81, 82, cùng thuộc tờ bản đồ số 16. Ông Đức D, ông Văn
Tấn T đứng tên chủ sử dụng thửa đất số 79, 80. Các thửa số 6, 25, tờ bản đồ số
8; thửa 18, tờ bản đồ 15; các thửa 8, 9, 23, 82, cùng thuộc tờ bản đồ số 16, đã
được cấp GCNQSDĐ”. Như vậy, hồ sơ địa chính qua các thời kỳ thể hiện tại tờ
bản đồ đo đạc năm 1995 tờ bản đồ đo đạc năm 2010 sự thay đổi về hiện
trạng sử dụng đất, thay đổi về chủ sử dụng đất; thửa đất số 2, tờ bản đồ địa chính
19-B (năm 1995), diện tích 95.000m
2
, loại đất Hoang (Hg/b) đã được chỉnh
thành nhiều thửa người dân đã lấn chiếm, sử dụng một phần, UBND không
còn quản toàn bộ diện tích 95.000m
2
; trong đó, một số chủ sử dụng đất đã
được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như lời trình bày của người khởi
kiện căn cứ. Hội đồng xét xử đủ sở xác định vợ chồng ông D, L đã
sử dụng thửa đất 125, đã thực hiện nghĩa vụ đăng khai được đứng tên
trong hồ địa chính thể hiện tại tờ bản đồ địa chính năm 2010 như Thông o
số 410/TB-UBND ngày 27/6/2025 của UBND thị Đ (cũ) đã kết luận “không
8
điều chỉnh hồ sơ địa chính đối với thửa đất số 80, tờ bản đồ 16 do ông Lê Đức D
kê khai” mà Kiểm sát viên phát biểu là có căn cứ.
[2.1.6] Điều 12 Luật Đất đai năm 2024 quy định: “Đất đai thuộc sở hữu
toàn dân do Nhà nước đại diện chủ shữu thống nhất quản lý. Nhà nước
trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này”.
Điều 8 Luật Đất đai năm 2024 (tương ứng Điều 5 Luật Đất đai năm 1993, Điều
12 Luật Đất đai năm 2003, Điều 9 Luật Đất đai năm 2013) quy định: “Nhà nước
chính sách khuyến khích lấn biển, đưa diện tích đất trống, đồi núi trọc, đt
bãi bồi ven sông, ven biển, đất mặt nước hoang a vào sử dụng”. Điều 222
Luật Đất đai năm 2024 (tương ứng Điều 165 Luật Đất đai 2013, Điều 104 Luật
Đất đai năm 2003) quy định: “1. Căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
đã được xét duyệt, Uỷ ban nhân dân các cấp kế hoạch đầu tư, khai hoang,
phục hóa, cải tạo đất để đưa đất chưa sử dụng vào sử dụng; 2. Nhà nước khuyến
khích tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nhận và đầu tư để đưa đất chưa sử dụng vào
sử dụng; 3. Đối với diện tích đất được quy hoạch sử dụng vào mục đích nông
nghiệp thì ưu tiên giao cho hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp,
lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối tại địa phương chưa được giao đất
hoặc thiếu đất sản xuất”. Ngoài ra, khoản 3, 4 Điều 139 Luật Đất đai năm 2024
quy định: “Trường hợp sử dụng đất do lấn đất, chiếm đất, sử dụng ổn định, phù
hợp với quy hoạch sử dụng đất cấp huyện hoặc quy hoạch chung hoặc quy
hoạch phân khu hoặc quy hoạch xây dựng hoặc quy hoạch nông thôn thì được
xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền shữu tài sản gắn liền
với đất và phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật; Hộ gia
đình, nhân đang sử dụng đất nông nghiệp do tự khai hoang, không tranh
chấp thì được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
tài sản gắn liền với đất theo hạn mức giao đất nông nghiệp do Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh quy định; nếu vượt hạn mức do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định thì
diện tích vượt hạn mức phải chuyển sang thuê đất của Nhà nước”. điểm e
khoản 2 Điều 11 Nghị quyết 254/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội
quy định một số chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức
thi hành Luật Đất đai quy định: “Trường hợp đất được giao để quản lý quy định
tại Điều 7 của Luật Đất đai mà thuộc quy định tại Điều 139 của Luật Đất đai thì
được xem xét, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản
gắn liền với đất theo quy định tại Điều 139 của Luật Đất đai”. Nghĩa là, trường
hợp đất có nguồn gốc loại đất chưa sử dụng, chưa giao (đất hoang) do UBND
các cấp quản nhân, tổ chức (người sử dụng đất) có được do lấn đất,
chiếm đất, sử dụng ổn định, nay phù hợp với quy hoạch sử dụng đất cấp huyện
hoặc quy hoạch chung hoặc quy hoạch phân khu hoặc quy hoạch xây dựng hoặc
quy hoạch nông thôn thì vẫn được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất phải thực hiện nghĩa vụ tài chính
theo quy định của pháp luật.
khoản 2 Điều 140 Luật Đất đai năm 2024 quy định về cấp
GCNQSDĐ cho hộ gia đình, nhân đang sử dụng đất được giao không đúng
thẩm quyền: “Trường hợp đất đã được sdụng ổn định từ ngày 15 tháng 10
9
năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004, nay phù hợp với quy hoạch
sử dụng đất cấp huyện hoặc quy hoạch chung hoặc quy hoạch phân khu hoặc
quy hoạch xây dựng hoặc quy hoạch nông thôn tđược cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định tại khoản
3 và khoản 6 Điều 138 của Luật này...”.
[2.1.7] Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của người bị
kiện xác nhận: Theo tờ bản đồ đo đạc năm 2010 (Bản đồ Nam Kinh tế): thửa
đất số 125 nêu trên tương ứng với thửa đất số 80, tờ bản đồ địa chính số 16,
diện tích 1.833,1m
2
, loại đất cây lâu năm; theo Quyết định s1349/QĐ-UBND
ngày 09/10/2024 của UBND tỉnh P (cũ) thì thửa đất hiện nay phù hợp quy
hoạch thuộc loại đất ở đô thị (ODT)”.
[2.1.8] Từ những phân tích nêu tại các tiểu mục [2.1.1] đến [2.1.7], Hội
đồng xét xử đủ cơ sở xác định: tuy thửa đất 125 của ông D, bà L có nguồn gốc là
đất hoang, loại đất bằng chưa sử dụng do UBND cấp quản theo tờ bản đồ
năm 1995, nhưng ông D, L đã làm đơn xin phép thông qua đại diện B1 nhân
nhân thôn P xác nhận vào năm 1994 để canh tác, sử dụng phù hợp theo chính
sách pháp luật đất đai được quy định trong Luật. Do đó, lời đề nghị của Kiểm sát
viên cho rằng “thửa đất số 125, tờ bản đồ 16, toạ lạc tại khu phố P, phường H,
tỉnh Đắk Lắk theo Bản vẽ của Công ty TNHH K1 vẽ ngày 28/01/2026 được ông
D, L sử dụng ổn định trước ngày 01/7/2004, sử dụng vào mục đích thuộc
nhóm đất nông nghiệp, đã thực hiện nghĩa vụ kê khai đăng ký đứng tên hồ sơ địa
chính, đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy
định tại khoản 6 Điều 138, khoản 2 Điều 140 Luật Đất đai năm 2024” là có căn
cứ.
[2.2] Xét Quyết định xử phạt hành chính số 26/QĐ-XPVPHC ngày
16/7/2018, Quyết định cưỡng chế số 250/QĐ-UBND ngày 28/8/2018 của
UBND thị trấn H (cũ) và Kết luận số 08/KL-UBND ngày 04/12/2019 của
UBND huyện Đ (cũ), Hội đồng xét xử thấy rằng:
[2.2.1] Quyết định số 26/QĐ-XPVPHC ngày 16/7/2018 về xử phạt hành
chính hành vi dọn hàng rào dứa cây sống, trồng trụ bê tông, chiếm đất do UBND
phường H (nay phường H) quản quy định tại khoản 1 Điều 10 Nghị định
102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 “xử phạt vi phạm đối với hành vi lấn, chiếm
đất nông nghiệp không phải là đất trồng lúa, đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng
hộ, đất rừng sản xuất”. Tuy nhiên, như đã nhận định tại tiểu mục [2.1.8], thửa
đất số 125, tờ bản đồ 16, toạ lạc tại khu phố P, phường H, tỉnh Đắk Lắk đã được
ông D, bà L sử dụng ổn định trước ngày 01/7/2004, sử dụng vào mục đích thuộc
nhóm đất nông nghiệp, được đứng tên hồ địa chính theo tờ bản đồ địa chính
năm 2010, người sử dụng đất hợp pháp được pháp luật đất đai thừa nhận. Do
đó, hành vi dọn hàng rào dứa cây sống, trồng trụ bê tông là hành vi nhằm bảo vệ
tài sản của người sử dụng đất hợp pháp, đồng thời hành vi của người sử dụng
đất thực hiện nghĩa vụ nhằm sdụng đất đúng ranh giới thửa đất, bảo vệ đất,
bảo vệ tài sản đã cải tạo, đầu trên đất được pháp luật đất đai và dân sự quy
định cho phép thực hiện.
10
[2.2.2] vậy, Quyết định số 26/QĐ-XPVPHC ngày 16/7/2018 xử phạt
hành chính hành vi chiếm đất đối với ông Đức D theo khoản 1 Điều 10 Nghị
định 104/2014 “xử phạt đối với hành vi lấn, chiếm đất nông nghiệp không phải
đất trồng lúa, đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất”
không đúng pháp luật, đồng thời quyết định xphạt đã hết thời hiệu thi hành
theo Điều 74 Luật Xử lý vi phạm hành chính. Do đó, ý kiến của Chủ tịch UBND
phường H cho rằng “Ông D, bà L sử dụng thửa đất 125 thuộc trường hợp
nhân sử dụng đất vi phạm pháp luật đất đai sau ngày 01/7/2014 nên không
đủ điều kiện cấp GCNQSDĐ theo khoản 5 Điều 139 Luật Đất đai năm 2024”
không có cơ sở được chấp nhận.
[2.2.3] Quyết định số 26/QĐ-XPVPHC ngày 16/7/2018 x phạt hành
chính hành vi chiếm đất đối với ông Đức D không đúng pháp luật n
Quyết định số 250/QĐ-UBND ngày 28/8/2018 thị trấn H về cưỡng chế buộc
khắc phục hậu quả tháo gỡ các trụ tông cũng không còn hiệu lực pháp luật,
đồng thời Quyết định số 250/QĐ-UBND đã hết hiệu lực thi hành theo Điều 88
Luật Xử lý vi phạm hành chính.
[2.2.4] Kết luận số 08/KL-UBND ngày 04/12/2019 của UBND huyện Đ
(cũ) không phải quyết định hành chính, một văn bản hành chính để
đánh giá, kiến nghị, là cơ sở để chỉ đạo, điều hành công việc cụ thể, áp dụng cho
một số đối tượng cụ thể, hoặc là cơ sở để ban hành các quyết định xử lý vi phạm
cụ thể mang tính nội bộ; không phải quy tắc xsự chung, không hiệu lực
thi hành bắt buộc chung. Ngoài ra, Thông báo số 410/TB-UBND ngày
27/6/2025 của UBND thị xã Đ (cũ) về việc điều chỉnh một phần Kết luận số
08/KL-UBND ngày 04/12/2019 của UBND huyện Đ (cũ) cũng đã kết luận
“không điều chỉnh hồ địa chính đối với thửa đất số 80, tờ bản đồ 16 do ông
Đức D khai”. Như vậy, Kết luận số 08/KL-UBND ngày 04/12/2019 của
UBND huyện Đ (cũ) được ban hành căn cứ vào một phần Quyết định số 26/QĐ-
XPVPHC ngày 16/7/2018 không đúng pháp luật, tuy xâm phạm đến quyền
lợi ích hợp pháp của vợ chồng ông D liên quan đến thửa đất 125 nhưng văn
bản hành chính nội bộ, không phải quyết định hành chính, không mang tính
ràng buộc không làm phát sinh, không làm thay đổi hay chấm dt quyền,
nghĩa vụ pháp ngay lập tức đối với vợ chồng ông Đức D. Do đó, ý kiến
của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của Chủ tịch UBND phường H cho
rằng: “căn cứ Kết luận số 08/KL-UBND ngày 04/12/2019 của UBND huyện Đ
nên vợ chồng ông D không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo
khoản 5 Điều 139 Luật Đất đai năm 2024” không sơ, không đúng pháp
luật.
[2.3] Từ những phân ch nêu trên, lời trình bày căn cứ của người bị
kiện vviệc không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông
Đức D là không đúng pháp luật, do đó, Hội đồng chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của vợ chồng ông Đức D cần hủy toàn bộ Công văn số 2490/UBND-
KTHTĐT ngày 23/12/2025 của UBND phường H; Công văn số 2490 bị hủy
nên cần thiết phải hủy Quyết định xử phạt hành chính số 26/QĐ-XPVPHC ngày
16/7/2018 hủy Quyết định cưỡng chế số 250/QĐ-UBND ngày 28/8/2018 của
11
UBND thị trấn H (cũ) để đảm bảo việc thi hành án, buộc UBND phường H tiếp
nhận lại hồ và cấp Giấy chứng nhận quyền sdụng đất tại thửa đất số 125
theo quy định tại khoản 6 Điều 138, khoản 2 Điều 140 Luật Đất đai năm 2024.
[4] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: người khởi kiện tự nguyện
chịu toàn bộ chi phí với số tiền 9.380.000 đồng, đã nộp đủ nên không xem xét.
[5] Về án phí: Ủy ban nhân dân phường H phải chịu 300.000đ án phí
hành chính sơ thẩm.
H lại cho ông Đức D, Đỗ Thị L 300.000đ tiền tạm ứng án phí hành
chính sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 5, khoản 3 Điều 8, Điều 12, Điều 26, Điều 31, Điều 136,
các khoản 3, 6 Điều 138, khoản 2 Điều 140 Luật Đất đai năm 2024; Điều 21
Nghị định 101/2024/NĐ-CP ngày 29/7/2024 của Chính phủ quy định điều tra cơ
bản đất đai; đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tài sản khác gắn
liền với đất hệ thống thông tin đất đai; điểm h khoản 1 Điều 5, Điều 6 Điều
Nghị định 151/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 quy định về phân định thẩm quyền
chính quyền địa phương 02 cấp, phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực đất đai;
điểm b khoản 2 Điều 14 Nghị định số 49/2026/NĐ-CP ngày 31/01/2026 của
Chính phủ quy định chi tiết hướng dẫn một số điều của Nghị quyết số
254/2025/QH15 của Quốc hội;
Căn cứ vào các Điều 74, Điều 88 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 3, các Điều 30, 31, Điều 116, điểm b khoản 2
Điều 193 Điều 348, 358 Luật Tố tụng hành chính; Áp dụng Điều 4 Nghị
quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Uỷ ban thường vụ
Quốc hội, khoản 1 Điều 32 Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông Đức D,
Đỗ Thị L, về việc khiếu kiện “Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản đất
đai; yêu cầu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, vì có căn cứ.
1. Đình chỉ yêu cầu “Công nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số 125,
tờ bản đồ 16, diện tích 1.622,5m
2
, tọa lạc tại khu phố P, phường H, tỉnh Đắk
Lắk” vì vợ chồng ông Lê Đức D, bà Đỗ Thị L tự nguyện rút lại yêu cầu.
2. Huỷ toàn bộ Công văn số 2490/UBND-KTHTĐT ngày 23/12/2025
của UBND phường H, tỉnh Đắk Lắk về việc “phúc đáp hồ sơ đăng ký đất đai, tài
sản gắn liền với đất ông Đức D Đỗ Thị L”; hủy toàn bộ Quyết định xử
12
phạt hành chính số 26/QĐ-XPVPHC ngày 16/7/2018 và hủy toàn bộ Quyết định
cưỡng chế số 250/QĐ-UBND ngày 28/8/2018 của UBND thị trấn H (cũ).
3. Buộc UBND phường H, tỉnh Đắk Lắk phải tiếp nhận lại hồ sơ, cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất đang sử dụng ổn định,
không tranh chấp tại thửa đất số 125, tờ bản đồ 16, diện tích 1.622,5m
2
, tọa lạc
tại khu phố P, phường H, tỉnh Đắk Lắk theo Bản vẽ của Công ty TNHH K, có tứ
cận: phía Đông giáp đất trống (do UBND phường H quản lý); phía Tây giáp
đường đi (đường đất); phía Nam giáp đường đi (đường đất); phía Bắc giáp đất
ông Văn Tấn T cho vợ chồng ông Đức D, Đỗ Thị L, đủ điều kiện được
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 6 Điều 138,
khoản 2 Điều 140 Luật Đất đai năm 2024 (kèm theo bản vẽ).
4. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: vợ chồng ông Lê Đức D, bà Đỗ
Thị L tự nguyện chịu, đã nộp đủ nên không xem xét.
5. Về án phí:
5.1. Ủy ban nhân dân phường H, tỉnh Đắk Lắk phải chịu 300.000đ án phí
hành chính sơ thẩm.
5.2. H lại cho vợ chồng ông Đức D, Đỗ Thị L stiền 300.000đ
(Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phành chính thẩm theo Biên lai
thu tiền số 0006525 ngày 31/12/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk.
6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản
án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Đắk Lắk;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk ;
- VKSND khu vực 12-Đắk Lắk;
- THADS tỉnh Đắk Lắk;
- Phòng THADS khu vực 12-Đắk Lắk;
- Các đương sự;
- Lưu Hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Hữu Duyên
Tải về
Bản án số 02/2026/HC-ST Bản án số 02/2026/HC-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 02/2026/HC-ST Bản án số 02/2026/HC-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất