Bản án số 02/2026/HC-ST ngày 27/03/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 02/2026/HC-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 02/2026/HC-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 02/2026/HC-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 02/2026/HC-ST ngày 27/03/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | Tòa án nhân dân khu vực 4 - Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh |
| Số hiệu: | 02/2026/HC-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 27/03/2026 |
| Lĩnh vực: | Hành chính |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: | Phan Văn Bé - Chủ tịch UBND xã B |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 – TÂY NINH
Bản án số: 02/2026/HC-ST
Ngày: 27-3-2026
V/v khiếu kiện quyết định hành chính,
hành vi hành chính trong lĩnh vực quản
lý đất đai
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Thanh Lâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Cao;
2. Ông Trần Văn Tươi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Nga - Thư ký Tòa án nhân dân khu
vực 4 – Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Tây Ninh tham gia phiên
tòa: Bà Trần Thị Lan Chi – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 – Tây
Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 09/2025/TLST-HC ngày 24 tháng
12 năm 2025 về việc “khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất
đai” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2026/QĐXXST-HC ngày 14
tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Người khởi kiện: Ông Phan Văn B, sinh năm 1966.
Địa chỉ: Số G Ấp D T, xã B, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hà Văn H, sinh năm 1966.
Địa chỉ: Số I Đường N, Ấp B, xã B, tỉnh Tây Ninh. (có mặt)
(Văn bản ủy quyền ngày 19/12/2025)
2. Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B, tỉnh Tây Ninh. (yêu cầu
giải quyết vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Người khởi kiện là ông Phan Văn B do ông Hà Văn H đại diện theo ủy
quyền trình bày:

2
Ông Phan Văn B đang trực tiếp sử dụng thửa đất số 453, tờ bản đồ số 5,
diện tích 2.296,7m
2
, loại đất sản xuất nông nghiệp, vị trí thửa đất tại Ấp D T, xã
B, tỉnh Tây Ninh. Trước đây, ông Phan Văn G là cha ruột của ông Phan Văn B
thuê thửa đất này từ địa chủ để canh tác. Đến khoảng năm 1970 – 1971, thực hiện
chính sách Luật người cày có ruộng, cha ông Bé được chính quyền chế độ cũ cấp
giấy chứng thư quyền sở hữu. Sau ngày 30/4/1975, cha ông Bé vẫn tiếp tục quản
lý sử dụng. Đến khoảng năm 1982 – 1983, phần diện tích đất này đưa vào Tập
đoàn sản xuất nông nghiệp. Đến năm 1988, Tập đoàn S. Năm 1989, cha ông Bé
tặng cho ông B quản lý sử dụng thửa đất số 453 cho đến nay. Tháng 01 năm 2025,
ông B có nộp hồ sơ đề nghị xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng
Ủy ban nhân dân xã T nay là xã Ủy ban nhân dân xã B trả lời (bằng lời nói của
công chức chuyên môn, không trả lời bằng văn bản) không đủ điều kiện cấp được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu với lý do đây là đất công do Nhà
nước quản lý.
Sau đó, thửa đất số 453 nằm trong dự án Khu dân cư K tại xã B và đã có
quyết định thu hồi đất. Ông B có liên hệ Ủy ban nhân dân xã B để làm thủ tục
nhận bồi thường. Tại Công văn số 3397/UBND-PKT ngày 18/12/2025 của Ủy
ban nhân dân xã B trả lời ông B không đủ điều kiện bồi thường.
Căn cứ theo quy định của Luật đất đai năm 1993, 2003, 2013, 2024 và các
văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành Luật đất đai quy định “Cá nhân, hộ gia đình
sử dụng ổn định, lâu dài không tranh chấp thì được xét cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất”. Do đó, ông B đủ điều kiện để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất. Xét thấy, quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất bị vi phạm. Ông
B khởi kiện yêu cầu giải quyết:
- Tuyên hành vi hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B không tiếp
nhận, giải quyết hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 453,
tờ bản đồ số 5, diện tích 2.296,7m
2
, loại đất sản xuất nông nghiệp, vị trí thửa đất
tại Ấp D T, xã B, tỉnh Tây Ninh cho ông B là trái pháp luật.
- Yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B, tỉnh Tây Ninh phải tiếp nhận hồ
sơ, làm thủ tục để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 453, tờ bản
đồ số 5, diện tích 2.296,7m², loại đất sản xuất nông nghiệp, vị trí thửa đất tại Ấp
D T, xã B, tỉnh Tây Ninh, đúng theo quy định của Luật đất đai cho ông Phan Văn
B được quyền sử dụng.
Ngoài ra, ông B không yêu cầu gì khác.
Người bị kiện là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B ý kiến tại Công văn số
193/UBND-VP ngày 21/01/2026 như sau: Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B xin
vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án của Tòa án nhân dân các cấp. Trong
vụ án này, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B không có ý kiến hay yêu cầu gì, đề
nghị Tòa án nhân dân các cấp xét xử theo quy định pháp luật.
Tòa án tiến hành thủ tục kiểm tra việc giao nộp, công khai chứng cứ và đối
thoại, nhưng người bị kiện xin vắng mặt, nên Tòa án lập biên bản không đối thoại
được và đưa vụ án ra xét xử.

3
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Tây Ninh phát biểu ý kiến:
1. Về tố tụng:
Về trình tự thủ tục đảm bảo theo quy định của tố tụng. Việc thu thập chứng
cứ, xác minh, công khai chứng cứ đảm bảo. Tại phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký và
Hội đồng xét xử thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ và quyền hạn. Các bên đương
sự thực hiện đúng tố tụng về quyền và nghĩa vụ theo quy định của Luật Tố tụng
hành chính.
2. Về nội dung:
Xét thấy lời trình bày của những người tham gia tố tụng, các chứng cứ được
thu thập trong hồ sơ vụ án:
Ông H người đại diện theo ủy quyền của ông Phan Văn B trình bày nguồn
gốc phần đất ông B đang sử dụng trước đây ông Phan Văn G là cha ruột của ông
Phan Văn B thuê thửa đất này từ địa chủ để canh tác. Đến khoảng năm 1970 –
1971, thực hiện chính sách Luật người cày có ruộng, cha ông Bé được chính quyền
chế độ cũ cấp giấy chứng thư quyền sở hữu. Sau ngày 30/4/1975, cha ông Bé vẫn
tiếp tục quản lý sử dụng. Đến khoảng năm 1982 – 1983, phần diện tích đất này
đưa vào Tập đoàn sản xuất nông nghiệp. Đến năm 1988, Tập đoàn S. Năm 1989,
cha ông Bé chia cho ông B quản lý sử dụng cho đến nay. Ông B đã nhiều lần nộp
đơn xin được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng không được tiếp
nhận. Ủy ban nhân dân xã T nay là Ủy ban nhân dân xã B cho rằng thửa đất số
453 là đất công và từ chối nhận hồ sơ đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
thửa đất số 453 cho ông B.
Theo Công văn số 1392/CNVPĐKĐĐ-HCTH ngày 10/3/2026 của Chi
nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai khu vực B xác định thửa đất số 453 (thửa cũ
602), tờ bản đồ số 05 (tờ cũ số 02) chưa thực hiện hồ sơ cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất.
Tại Công văn số 3397/UBND-PKT ngày 18/12/2025 của Ủy ban nhân dân
xã B xác định:
“Căn cứ theo Sổ mục kê đất đai thành lập năm 1999 xã T cũ:
+ Chủ sử dụng đất: Đất công.
Căn cứ theo Sổ mục kê thành lập năm 2017 xã T cũ:
+ Chủ sử dụng đất: Không có tên chủ sử dụng đất”.
Do đó, Ủy ban nhân dân xã không tiếp nhận hồ sơ và bồi thường cho ông
B.
Tuy nhiên, tại Sổ mục kê được lập năm 1999 ghi chủ sử dụng đất là “Đất
công” là chưa rõ ràng về chủ sử dụng đất và chưa đúng theo Phụ lục số 15 kèm
theo ngày 19/5/2024 quy định về bản đồ địa chính. Thực tế, ông Phan Văn G sử
dụng đất trước năm 1975. Sau đó, đến năm 1989 ông G để lại cho ông B sử dụng
cho đến nay. Lời trình bày này của ông B là phù hợp với lời trình bày của những
người làm chứng là ông Lê Văn T, ông Phan Minh C và ông Lê Văn T1.

4
Ngoài ra, tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 08/01/2026 của Tòa
án thể hiện thửa đất số 453 có bờ ranh rõ ràng, do ông B đang quản lý.
Căn cứ Điều 138 Luật đất đai năm 2024, thì ông B đủ điều kiện được xem
xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 453. Hơn nữa, theo quy định
tại Điều 33 Nghị định số 101/2024/NĐ-CP ngày 29/7/2024 của Chính phủ quy
định về điều tra cơ bản đất đai; đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và hệ thống thông tin đất đai thì Ủy ban nhân
dân xã có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ, xác nhận trong việc đăng ký đất đai, tài
sản gắn liền với đất lần đầu, đề nghị Ủy ban nhân dân huyện X về việc cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho người dân. Ủy ban nhân dân xã T nay là Ủy
ban nhân dân xã B từ chối tiếp nhận hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất cho ông B là không đảm bảo quyền lợi của người sử dụng đất.
Như vậy, có căn cứ xác định nguồn gốc phần đất này gia đình ông B đã sử
dụng phần đất này sản xuất từ trước năm 1975. Ông B đã sử dụng phần đất này
từ năm 1989 ổn định không ai tranh chấp, ông đã nhiều lần nộp đơn xin cấp giấy
chứng nhận nhưng vẫn chưa được các cơ quan nhà nước tiếp nhận. Ông B cho
rằng quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm nên ông khởi kiện vụ án hành chính,
yêu cầu khởi kiện của ông vẫn còn thời hiệu khởi kiện theo quy định của pháp
luật. Căn cứ theo quy định Luật đất đai 1993 và 2003, thì ông B có đủ điều kiện
để được công nhận quyền sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
nhưng Ủy ban nhân dân xã T nay là Ủy ban nhân dân xã B chưa tiếp nhận hồ sơ
đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông B là không đúng quy
định pháp luật. Theo quy định Luật đất đai, đối chiếu với quy định của Luật khiếu
nại tố cáo thì Ủy ban nhân dân xã có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ xin cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất của người dân, đề nghị Ủy ban nhân dân huyện X
về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người dân, nhưng việc Ủy
ban nhân dân xã T nay là Ủy ban nhân dân xã B không tiếp nhận hồ sơ của người
dân là đã vi phạm quy định của pháp luật nên yêu cầu này của ông B là có cơ sở
chấp nhận.
Từ các phân tích trên, căn cứ khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính,
Điều 50, 166, 101, 105 Luật đất đai năm 2003; Điều 99, Điều 100, Điều 101 Luật
đất đai năm 2013 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông B, Buộc Chủ tịch Ủy ban
nhân dân xã B, tỉnh Tây Ninh phải tiếp nhận hồ sơ và cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất thửa số 453, tờ bản đồ số 5, diện tích 2.296,7m², loại sản xuất nông
nghiệp, vị trí thửa đất tại Ấp D T, xã B, tỉnh Tây Ninh, đúng theo quy định của
Luật đất đai cho ông Phan Văn B được quyền sử dụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về đối tượng khởi kiện, thẩm quyền và thời hiệu.
Khiếu kiện yêu cầu thực hiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất
đai là đối tượng khởi kiện hành chính quy định tại Điều 30 Luật luật Tố tụng hành
chính, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Do hành vi hành chính bị khiếu

5
kiện là của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B, nên Tòa án nhân dân khu vực 4 – Tây
Ninh giải quyết theo thủ tục sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 31 Luật Tố
tụng hành chính.
Tháng 01 năm 2025, ông Phan Văn B nộp hồ sơ đăng ký cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng thửa đất số 453, nhưng Ủy ban nhân dân xã T, nay là Ủy ban
nhân dân xã B từ chối tiếp nhận hồ sơ. Đến ngày 19/12/2025, ông Phan Văn B
kiện ra Tòa án. Căn cứ theo quy định tại Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính,
thời hiệu khởi kiện vụ án vẫn còn.
[2] Về tư cách tố tụng, thu thập chứng cứ.
Ông Phan Văn B khởi kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B, nên xác định
Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B là người bị kiện.
Thửa đất ông B khởi kiện để được cấp quyền sử dụng là trọn thửa, hiện
không có tranh chấp, nên Tòa án không đo đạc xác định ranh giới đất, diện tích.
Thủ tục này sẽ được thực hiện khi cơ quan quản lý đất đai xem xét cấp quyền sử
dụng đất cho ông B.
[3] Đối thoại và công khai chứng cứ.
Người bị kiện có yêu cầu giải quyết vắng mặt, nên Tòa án lập biên bản
không đối thoại được. Tòa án tiến hành lập biên bản công khai chứng cứ và đưa
vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.
[4] Xét xử vắng mặt đương sự.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B có văn bản xin vắng mặt trong suốt quá
trình giải quyết vụ án, căn cứ khoản 1 Điều 157 Luật Tố tụng hành chính Tòa án
vẫn xét xử.
[5] Ông Phan Văn B khởi kiện buộc thực hiện hành vi hành chính trong
lĩnh vực quản lý đất đai là nhận hồ sơ và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
cho ông B đối với thửa đất số 453, tờ bản đồ số 5, diện tích 2.296,7m
2
, loại đất
sản xuất nông nghiệp, vị trí thửa đất tại Ấp D T, xã B, tỉnh Tây Ninh.
Ông B cho rằng trước đây là ông Phan Văn G là cha ruột của ông Phan
Văn B thuê thửa đất này từ địa chủ để canh tác. Đến khoảng năm 1970 – 1971,
thực hiện chính sách Luật người cày có ruộng, cha ông Bé được chính quyền
chế độ cũ cấp giấy chứng thư quyền sở hữu. Sau ngày 30/4/1975, cha ông Bé
vẫn tiếp tục quản lý sử dụng. Đến khoảng năm 1982 – 1983, phần diện tích đất
này đưa vào Tập đoàn sản xuất nông nghiệp. Đến năm 1988, Tập đoàn S. Năm
1989, cha ông Bé chia cho ông B quản lý sử dụng cho đến nay.
Ủy ban nhân dân xã T nay là Ủy ban nhân dân xã B cho rằng thửa đất số
453 là đất công và từ chối nhận hồ sơ đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
thửa đất số 453 cho ông B.
Theo Công văn số 1392/CNVPĐKĐĐ-HCTH ngày 10/3/2026 xác định
thửa đất số 453 (thửa cũ 602), tờ bản đồ số 05 (tờ cũ số 02), chưa thực hiện hồ sơ
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

6
Tại Công văn số 3397/UBND-PKT ngày 18/12/2025 của Ủy ban nhân dân
xã B xác định:
“Căn cứ theo Sổ mục kê đất đai thành lập năm 1999 xã T cũ:
+ Chủ sử dụng đất: Đất công.
Căn cứ theo Sổ mục kê thành lập năm 2017 xã T cũ:
+ Chủ sử dụng đất: Không có tên chủ sử dụng đất”
Xét thấy, tại Sổ mục kê được lập năm 1999 ghi chủ sử dụng đất là “Đất
công” là chưa rõ ràng về chủ sử dụng đất và chưa đúng theo Phụ lục số 15 kèm
theo ngày 19/5/2024 quy định về bản đồ địa chính.
Theo Phụ lục số 15 hướng dẫn ghi Sổ mục kê đất đai như sau: “Cột Tên
người sử dụng, quản lý đất: ghi “Ông (hoặc Bà)”, sau đó ghi họ và tên người đối
với cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; ghi “Hộ ông (hoặc Hộ bà)”,
sau đó ghi họ và tên chủ hộ đối với hộ gia đình; ghi tên tổ chức theo giấy tờ về
việc thành lập, công nhận hoặc đăng ký kinh doanh, đầu tư; ghi tên thường gọi
đối với cơ sở T2, cộng đồng dân cư. Trường hợp có nhiều người sử dụng đất
cùng sử dụng chung thửa đất (kể cả trường hợp hai vợ chồng, trừ đất có nhà
chung cư) thì ghi lần lượt tên của từng người sử dụng chung vào các dòng dưới
kế tiếp.”
Sổ mục kê được lập năm 1999 ghi chủ sử dụng thửa đất số 453 là “Đất
công” chưa rõ ràng về chủ sử dụng đất. Ủy ban nhân dân xã B căn cứ vào Sổ
mục kê lập này để xác định thửa đất số 453 có nguồn gốc là đất của Nhà nước
là không đủ căn cứ.
Trong khi đó, ông B cho rằng thửa đất số 453 do cha ông Bé là ông Phan
Văn G sử dụng trước năm 1975 sau đó đến năm 1989 để lại cho ông B sử dụng
cho đến nay. Lời trình bày này của ông B là phù hợp với lời trình bày của những
người làm chứng là ông Lê Văn T, ông Phan Minh C và ông Lê Văn T1. Ngoài
ra, tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 08/01/2026 của Tòa án thể hiện
thửa đất số 453 có bờ ranh rõ ràng, do ông B đang quản lý.
[6] Căn cứ Điều 138 Luật Đất đai năm 2024, thì ông B đủ điều kiện được
xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 453. Ủy ban nhân dân xã
T nay là Ủy ban nhân dân xã B từ chối tiếp nhận hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cho ông B là không đảm bảo quyền lợi của người sử dụng đất.
Tại thời điểm ông B nộp hồ sơ đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất (tháng 01/2025), theo quy định tại Điều 33 Nghị định số 101/2024/NĐ-CP
ngày 29/7/2024 của Chính phủ quy định về điều tra cơ bản đất đai; đăng ký, cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và hệ
thống thông tin đất đai thì Ủy ban nhân dân xã có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ,
xác nhận trong việc đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất lần đầu, đề nghị Ủy
ban nhân dân huyện X về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người
dân, nhưng việc Ủy ban nhân dân xã T không tiếp nhận hồ sơ của người dân là
không đúng quy định của pháp luật.

7
Nay Ủy ban nhân dân xã T đã sáp nhập với Ủy ban nhân dân xã B, theo quy
định tại Điều 14 của Nghị định số 49/2026/NĐ-CP ngày 31/01/2026 của Chính
phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Nghị quyết số
254/2025/QH15 của Quốc hội quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó
khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành luật đất đai và Quyết định số 2597/QĐ-
Ủy ban nhân dân ngày 12/02/2026 của Ủy ban nhân dân tỉnh T về việc ủy quyền
thực hiện trong lĩnh lực quản lý đất đai trên địa bàn tỉnh Tây Ninh thì thẩm quyền
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 453 thuộc quyền của Chủ tịch
Ủy ban nhân dân xã B.
[7] Từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của ông B, buộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B phải tiếp nhận hồ sơ, làm
thủ tục để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 453, tờ bản đồ số 5,
diện tích 2.296,7m², loại đất sản xuất nông nghiệp, vị trí thửa đất tại Ấp D T, xã
B, tỉnh Tây Ninh, đúng theo quy định của Luật đất đai cho ông Phan Văn B được
quyền sử dụng.
[8] Phát biểu của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Tây
Ninh là có căn cứ.
[9] Về án phí hành chính sơ thẩm: Căn cứ Điều 348 Luật tố tụng Hành
chính và Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016
của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ông Phan Văn B không phải chịu án phí.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B phải chịu 300.000 đồng, nhưng ông Phan Văn B
đồng ý nộp thay cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B. Tạm ứng án phí ông B có
nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0016328
ngày 24/12/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh, được chuyển sang án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 3, Điều 30, Điều 31 Luật Tố tụng hành chính;
Căn cứ khoản 1 Điều 157; khoản 2 Điều 193, Điều 348 Luật Tố tụng hành
chính năm 2015; Điều 138 Luật đất đai năm 2024;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của
Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Phan Văn B đối với Chủ
tịch Ủy ban nhân dân xã B về việc “khiếu kiện yêu cầu thực hiện hành vi hành
chính trong lĩnh vực đất đai”.
- Tuyên hành vi hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B, tỉnh Tây
Ninh không tiếp nhận, giải quyết hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng

8
đất thửa số 453, tờ bản đồ số 5, diện tích 2.296,7m
2
, loại đất sản xuất nông
nghiệp, vị trí thửa đất tại Ấp D T, xã B, tỉnh Tây Ninh cho ông B là trái pháp luật.
- Buộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B, tỉnh Tây Ninh phải tiếp nhận hồ sơ
và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 453, tờ bản đồ số 5, diện tích
2.296,7m², loại đất sản xuất nông nghiệp, vị trí thửa đất tại Ấp D T, xã B, tỉnh
Tây Ninh, đúng theo quy định của Luật đất đai cho ông Phan Văn B được quyền
sử dụng.
2. Về án phí hành chính sơ thẩm: Ông Phan Văn B đồng ý nộp thay án phí
cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B. Tạm ứng án phí ông B có nộp số tiền 300.000
đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0016328 ngày 24/12/2025
của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh, được chuyển sang án phí.
4. Án xét xử công khai sơ thẩm, đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền
kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt được
quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản
án được niêm yết./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Nơi nhận: THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND tỉnh Tây Ninh;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- THADS tỉnh Tây Ninh;
- Đương sự;
- Lưu./.
Đoàn Thanh Lâm
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 14/05/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 14/05/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 14/05/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 13/05/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 13/05/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 12/05/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 12/05/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 12/05/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 11/05/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 08/05/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 08/05/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 07/05/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 07/05/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 06/05/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 06/05/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Bản án số 343/2026/DS-PT ngày 06/05/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường
Ban hành: 06/05/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 05/05/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 05/05/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 05/05/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 05/05/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm