Bản án số 02/2022/KDTM-ST ngày 16/02/2022 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 02/2022/KDTM-ST

Tên Bản án: Bản án số 02/2022/KDTM-ST ngày 16/02/2022 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Nai
Số hiệu: 02/2022/KDTM-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 16/02/2022
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: tranh chấp sở hữu trí tuệ
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 02/2022/KDTM-ST
Ngày: 16/02/2022
V/v: “Tranh chấp sở hữu trí tuệ”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Xuân Đào.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Chi
Bà Trần Thị Thu Vân
Thư phiên tòa: Đường Hạc Vương Dung - Thư Tòa án nhân dân
tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Đặng
Thị Thanh Tâm – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 02 năm 2022 tại Hội trường 5 - Trụ sở a án nhân dân tỉnh
Đồng Nai xét xthẩm công khai vụ án thụ số: 04/2020/TLST-KDTM ngày
18 tháng 5 năm 2020 về việc “Tranh chấp sở hữu trí tuệ” theo Quyết định đưa vụ
án ra xét xử số 04/2021/QĐXXST-KDTM ngày 25/6/2021, Thông báo dời thời
gian mở phiên tòa số 44/TB.TA ngày 13/7/2021, Thông báo dời thời gian mở phiên
tòa số 51/TB.TA ngày 12/8/2021, Thông báo mở lại phiên tòa số 61/TB.TA ngày
24/12/2021 Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2022/QĐST-KDTM ngày
19/01/2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty TNHH công nghiệp cao su KD (KD RUBBER IND.
CO.,LTD).
Đại diện theo pháp luật: Ông Yang, Chi-J.
Địa chỉ: đường Chung-s, khu vực M, Yuan-L, Đài Loan, Trung Hoa Dân
Quốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Minh D, sinh năm 1973. (Văn bản
ủy quyền ngày 08/11/2019)
Địa chỉ: phường H, quận B, thành phố Hồ Chí Minh
- Bị đơn: Công ty TNHH K Đ Đồng Nai.
2
Địa chỉ: tổ H, ấp M, xã T, huyện B, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Ngô Bích T- Chủ tịch Hội đồng thành viên
kiêm giám đốc công ty.
(Ông D có mặt; Công ty TNHH K Đ Đồng Nai vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn Công ty TNHH công nghiệp cao su KD do ông Phạm
Minh D đại diện theo ủy quyền trình bày:
Công ty TNHH công nghiệp cao su KD gọi tắt Công ty KD Đài Loan
đứng tên thành viên thành lập Công ty cao su KD tại Việt Nam theo giấy chứng
nhận đăng đầu (mã số dự án): ..58100788, chứng nhận thay đổi lần thứ 5
ngày 23/6/2016 do Ban quản lý các khu công nghiệp Đồng Nai cấp, gọi tắt Công
ty KD Việt Nam.
Công ty Đài Loan đã được Cục sở hữu trí tuệ- Bộ khoa học ng
nghệ Việt Nam cấp giấy chứng nhận đăng nhãn hiệu số ..511 ngày 01/6/2004,
hiệu lực đến ngày 23/01/2012 được gia hạn đến ngày 23/01/2022 theo Quyết định
gia hạn số ..393/QĐ-SHTT ngày 05/10/2011, bảo hộ nhãn hiệu KD đối với các sản
phẩm “Lốp, săm trong, săm ngoài, lốp ô tô, lốp bánh xe…” thuộc nhóm 12 tại Việt
Nam.
Ngoài ra, công ty còn được Cục sở hữu trí tuệ- Bộ khoa học và công nghệ
Việt Nam cấp giấy chứng nhận đăng nhãn hiệu số ..6232 ngày 27/7/2016, bảo
hộ nhãn hiệu “KD” đối với các sản phẩm “Lốp ô , lốp bánh xe, vỏ bọc cho bánh
xe bơm hơi (lốp), săm cho xe bơm hơi, lốp cho bánh xe cộ, lốp đặt cho xe cộ, vỏ
xe bơm khí (lốp xe)…” cũng thuộc nhóm 12 tại Việt Nam.
Do Công ty TNHH K Đ Đồng Nai đã sản xuất hàng hóa (vỏ, ruột xe) in
nhãn hiệu: KDC K Đ DONG NAI Quality products nhãn hiệu KDC K D
DONG NAI CO.,LTD trên hàng hóa, bao hàng hóa bán ra thị trường Việt
Nam có chữ K Đ K D giống với chữ KD của Công ty Đài Loan đã đăng
bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa nên sẽ gây nhầm lẫn cho khách hàng khi chọn mua sản
phẩm của Công ty KĐ Đài Loan.
Công ty TNHH K Đ Đồng Nai không có đăng nhãn hiệu hàng hóa tại
Cục sở hữu trí tuệ và đã có hành vi sản xuất, buôn bán, lưu thông, tàng trữ nhằm để
bán sản phẩm “Săm xe máy” mang các dấu hiệu “KĐ”, “K D” nêu trên nhưng
không được Công ty KĐ Đài Loan cho phép là đã xâm phạm đến quyền sở hữu trí
tuệ của Công ty KĐ Đài Loan.
Ngày 29/01/2015 Công ty Đài Loan đã y quyền bằng văn bản cho
Công ty cao su KD Việt Nam để gởi thông báo cho tất cả các cá nhân, doanh
nghiệp tại thị trường Việt Nam biết về hành vi mua, bán, tiêu thụ ruột xe KD giả
3
mạo trên thị trường Việt Nam và ngày 02/02/2015 Công ty cao su KD Việt Nam đã
có thông báo gởi cho khách hàng.
Do vậy, căn cứ Điều 202 Luật sở hữu ttuệ tại Việt Nam, Công ty Đài
Loan khởi kiện buộc Công ty TNHH K Đ Đồng Nai phải:
+ Chấm dứt hành vi xâm phạm, không tiếp tục sử dụng nhãn hiệu: K Đ, K D
trên các hàng hóa trùng với hàng hóa của ng ty TNHH công nghiệp cao su KD
và phải tiêu hủy các hàng hóa có nhãn hiệu này còn trên thị trường.
+ Xin lỗi, cải chính công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, cụ
thể: Đăng cải chính trên báo hàng ngày của quan trung ương báo địa phương
tỉnh Đồng Nai trong ba số liên tiếp.
- Bị đơn Công ty TNHH K Đ Đồng Nai do Ngô Bích T đại diện theo
pháp luật tại đơn trình bày ý kiến ngày 02/6/2021 trình bày:
Bà không đồng ý với băn bản trả lời của cục sở hữu trí tuệ vì nhãn hiệu hàng
hóa của công ty KDC, còn chữ KD DONGNAI., LTD tên của công ty ghi
kèm để xác định xuất xứ của sản phẩm. Chữ KD DONGNAI., LTD tiếng anh
của công ty bà đăng ký với sở kế hoạch đầu tư và được sở kế hoạch đầu tư cấp giấy
phép kinh doanh, việc sở hữu trí tuđánh đồng tên của công ty TNHH Đồng
Nai với nhãn hiệu hàng hóa như vậy không đúng. Đồng thời, ngay khi công ty
TNHH Đồng Nai mới sản xuất hàng mẫu tđã thông báo của công ty KD
VIỆT NAM cho rằng ng ty TNHH Đồng Nai sản xuất hàng giả nên công ty
TNHHH Đồng Nai đã dừng không cho ra sản phẩm này nữa ra cũng
không thể bán được. Do mẫu mã này không sản xuất nên không sản phẩm này.
Do vậy, đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của công ty KD
RUBBER IND.LTD.,(TW).
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai: Việc tuân thủ
pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xtiến hành đúng quy định của Bộ luật
tố tụng dân sự, thu thập chứng cứ đầy đủ khách quan, thời hạn tố tụng được đảm
bảo, phiên tòa được thực hiện dân chủ, bình đẳng. Những người tham gia tố tụng
thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Ngày 01/6/2004 Cục Sở hữu trí tuệ-Bộ khoa học và công
nghệ Việt Nam cấp giấy chứng nhận đăng nhãn hiệu số ..511 cho Công ty
TNHH công nghiệp cao su KD (Đài Loan) bảo hộ nhãn hiệu KD đối với các sản
phẩm “Lốp, săm trong, săm ngoài, lốp ô tô, lốp bánh xe …” thuộc nhóm 12 tại Việt
Nam hiệu lực đến ngày 23/01/2021 được gia hạn đến ngày 23/01/2022. Về
phía bị đơn Công ty TNHH K Đ Đồng Nai chưa đăng bảo hộ nhãn hiệu hàng
hóa nào tại Cục Sở hữu trí tuệ. Ngày 22/9/2015 Công ty TNHH K Đ Đồng Nai
nhận chuyển nhượng quyền sử dụng các nhãn hiệu được bảo hộ theo các giấy
chứng nhận ĐKNH số ..6828 ngày 19/12/2013 bảo hộ nhãn hiệu KDC” đối với
các sản phẩm lốp xe máy, xe đạp, xe ô thuộc nhóm 12 số ..9264 ngày
4
17/02/2014 bảo hộ nhãn hiệu “KD hình” đối với các sản phẩm lốp xe máy, xe đạp,
xe ô thuộc nhóm 12 từ Công ty TNHHMTV Minh Q theo GCNĐK Hợp đồng
chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp số ..06. Năm 2015 Công ty
TNHH công nghiệp cao su KD (Việt Nam) phát hiện trên thị trường Việt Nam
lưu hành một số sản phẩm nhãn hiệu hàng hóa (bao ruột xe) của ng ty
TNHH K Đ Đồng Nai bao gồm: Nhãn hiệu bao bì có màu vàng, viền đỏ và trên bao
in chữ K D DONG NAI Co., LTD; nhãn hiệu bao màu xanh dương
trên bao hàng chữ KDC K Đ DONG NAI Quality products; nhãn hiệu bao
có màu tím và trên bao bì có hàng chữ KDC K Đ DONG NAI Quality products nên
đã thông báo gửi các doanh nghiệp về việc không mua bán tiêu thụ ruột KD
giả mạo. Năm 2019 Công ty KD (Việt Nam) tiếp tục phát hiện trên thị trường đang
lưu hành các mẫu hàng này. Mặc phía bị đơn không thừa nhận việc sử dụng
nhãn hiệu hàng hóa của nguyên đơn vì cho rằng các hàng hóa của bị đơn đều ghi rõ
tên địa chỉ của Công ty mình nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn. Nhưng tại bút lục 200 ngày 02/6/2021 của NBích T đại diện
theo pháp luật của Công ty K Đ Đồng Nai cho rằng “Khi Công ty TNHH K Đ
Đồng Nai mới sản xuất hàng mẫu thì đã thông báo của Công ty Kd Việt Nam
nói Công ty K Đ Đồng Nai sản xuất hàng giả nên đã dừng không cho ra sản phẩm
này nữa”. Phía bị đơn đã từ chối đến làm việc và tham gia phiên tòa coi như phía bị
đơn từ bỏ quyền lợi ích hợp pháp của mình. Như vậy, công ty K Đ Đồng Nai đã sản
xuất các mặt hàng theo như u cầu khởi kiện của nguyên đơn thật. Đồng
thời, tại công văn số 1550/SHTT-TTKN ngày 04/3/2021 của Cục sở hữu trí tuệ -
Bộ KH&CN thể hiện: c mẫu nhãn hiệu trên các bao bì sản phẩm săm xe máy”
có phần chữ “KDC K Đ”, “KDC K D” do Công ty TNHH K đ Đồng Nai sử dụng là
tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu “KD, hình” và “KD” đối với các sản
phẩm cùng loại thuộc nhóm 12 được bảo htheo GCNĐHNH số ..511, ..6232 của
KD Đài Loan. Từ những phân tích trên yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH công
nghiệp cao su KD là có cơ sở để chấp nhận. Buộc Công ty K Đ Đồng Nai chấm dứt
hành vi xâm phạm, không tiếp tục sử dụng nhãn hiệu KĐ, KD trên các hàng hóa
trùng với hàng hóa của công ty KD sản xuất phải tiêu hủy những hàng hóa
nhãn hiệu này còn trên thị trường. Xin lỗi cải chính công khai trên các phương tiện
thông tin đại chúng: Đăng cải chính công khai trên báo hàng ngày của quan
trung ương báo địa phương tỉnh Đồng Nai trong ba số liên tiếp. Công ty K Đ
Đồng Nai phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra
tại phiên tòa căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên a, Hội đồng xét xử nhận
định:
5
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn Công ty TNHH K Đ Đồng Nai đã được triệu
tập hợp lệ lần thhai nhưng vắng mặt, không có do nên căn cứ điểm b khoản 2
Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn theo
quy định của pháp luật.
Tại văn bản yêu cầu xác minh thu thập tài liệu chứng cứ số 73/YC-VKS-P10
ngày 18/01/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai yêu cầu đưa Công ty
cao su Kd (Việt Nam) vào tham gia tố tụng với cách là người quyền lợi và nghĩa
vụ liên quan. Nhưng tại Văn bản ngày 16/02/2022 của Công ty cao su Kd (Việt
Nam) cho rằng Công ty TNHH công nghiệp cao su KD (KD RUBBER IND.
CO.,LTD) đã khởi kiện Công ty TNHH K Đ Đồng Nai, nên xác định không tham
gia tố tụng với cách người quyền lợi nghĩa vliên quan cam kết không
tranh chấp, khiếu nại liên quan đến vụ kiện này. Nên Hội đồng xét xử thấy rằng
không cần thiết phải đưa Công ty cao su Kd (Việt Nam) vào tham gia tố tụng.
[2] Về quan hệ tranh chấp thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây vụ án
tranh chấp về sở hữu trí tuệ phát sinh giữa nhân, tổ chức đăng kinh
doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận. Bị đơn là Công ty TNHH K Đ Đồng
Nai địa chỉ tại: tổ H, ấp M, T, huyện B, tỉnh Đồng Nai. n căn cứ khoản 2
Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
[3] Về nội dung: Nguyên đơn Công ty TNHH công nghiệp cao su KD (KD
RUBBER IND. CO.,LTD) được thành lập ngày 31/3/1962 tại Đài Loan do Văn
phòng kinh tế- văn hóa Việt Nam tại Đài Bắc chứng nhận/hợp pháp hóa lãnh sự,
lĩnh vực hoạt động, bao gồm: Sản xuất lốp và vỏ xe, sản xuất sản phẩm nhựa tăng
cường, sản xuất máy móc và thiết bị, sản xuất xe đạp phụ tùng xe đạp, bán buôn
lốp và vỏ xe, bán lẻ lốp và vỏ xe…
Bị đơn Công ty TNHH K Đ Đồng Nai đăng doanh nghiệp tại Phòng đăng
kinh doanh Sở kế hoạch đầu tư tỉnh Đồng Nai theo giấy chứng nhận đăng
doanh nghiệp (Mã số doanh nghiệp …2592768), đăng lần đầu ngày 15/9/2011.
Ngành, nghề kinh doanh của bị đơn là: Bán phụ tùng các bphận phụ trợ của ô
tô và xe có động cơ; bán buôn ô tô và xe có động cơ khác; bán buôn máy móc, thiết
bị phụ tùng máy khác, máy khai khoáng, xây dựng; Sản xuất săm, lốp cao su,
đắp và tái chế lốp cao su; Vận tải hàng hóa bằng đường bộ.
Nguyên đơn bị đơn các chủ thể kinh doanh trong cùng một lĩnh vực,
ngành nghề đó sản xuất lốp vỏ xe. Căn cứ vào các chứng cứ i liệu trong
hồ vụ án thể hiện nguyên đơn đã dùng nhãn hiệu KD” trong hoạt động kinh
doanh trước khi bị đơn được thành lập và đăng ký kinh doanh ngày 15/9/2011.
Tại công văn số 1550/SHTT-TTKN ngày 04/3/2021 của Cục sở hữu trí tuệ
thuộc Bộ khoa học công nghệ Công ty TNHH công nghiệp cao su KD (KD
RUBBER IND. CO.,LTD) là: Chủ sở hữu giấy chứng nhận đăng nhãn hiệu số
6
.511, cấp ngày 01/6/2004, hiệu lực đến ngày 23/01/2022, bảo hnhãn hiệu (KD,
hình) đối với các sản phẩm “Lốp, săm trong, săm ngoài, miếng ng cho săm
lốp, ta lông lốp xe, xe thùngthuộc nhóm 12. là chủ sở hữu giấy chứng nhận
đăng ký nhãn hiệu số ..6232 ngày 27/7/2016, có hiệu lực đến ngày 05/12/2023, bảo
hộ nhãn hiệu “KD” đối với các sản phẩm Lốp ô tô, lốp bánh xe, vỏ bọc cho bánh
xe bơm hơi (lốp), săm cho xe bơm hơi, lốp cho bánh xe cộ, lốp đặt cho xe cộ, vỏ xe
bơm khí (lốp xe)…” cũng thuộc nhóm 12.
Bị đơn cho rằng nhãn hiệu hàng hóa của công ty KDC, còn chữ KD
DONGNAI., LTD tên của công ty ghi kèm để c định xuất xứ của sản phẩm.
Chữ KD DONGNAI., LTD tiếng Anh của công ty bị đơn đã đăng với Sở
kế hoạch đầu tư nên đã được Sở Kế hoạch đầu cấp giấy phép kinh doanh,
việc Cục sở hữu trí tuệ đánh đồng tên của công ty TNHH Đồng Nai với nhãn
hiệu hàng hóa như vậy không đúng. Đồng thời, ngay khi Công ty TNHH
Đồng Nai mới sản xuất hàng mẫu thì đã có thông báo của Công ty KD VIỆT NAM
cho rằng công ty TNHH Đồng Nai sản xuất hàng giả nên công ty TNHHH
Đồng Nai đã dừng không cho ra sản phẩm này nữa ra cũng không thể bán
được. Tuy nhiên, theo công văn số 483/ĐKKD ngày 28/8/2020 của Phòng đăng
kinh doanh thuộc Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Đồng Nai thì hiện nay công ty TNHH
K Đ Đồng Nai chưa thực hiện đăng thay đổi nội dung đăng doanh nghiệp
hoặc tạm ngừng kinh doanh hoặc giải thể tại phòng Đăng kinh doanh kể từ khi
được cấp giấy chứng nhận đăng doanh nghiệp lần đầu đến nay. Đồng thời, bị
đơn không cung cấp i liệu, chứng cứ để cung cấp cho lời khai của mình, không
tham gia đối chất theo giấy mời của Tòa án nên không sở xem xét. vậy,
nguyên đơn cho rằng bđơn vi phạm nhãn hiệu mà nguyên đơn đã đăng ký bảo hộ
là có cơ sở.
Theo khoản 3 Điều 6 Luật sở hữu trí tuệ quy định: Quyền sở hữu công
nghiệp đối với nhãn hiệu được xác lập trên sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ
của quan nhà nước thẩm quyền theo thủ tục đăng quy định tại Luật này
hoặc công nhận đăng quốc tế theo điều ước quốc tế Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam thành viên. Nguyên đơn đã đăng nhãn hiệu được cấp văn
bằng bảo hộ theo quy định.
Theo khoản 1, 2 Điều 72 Luật sở hữu trí tuệ, quy định điều kiện chung đối
với nhãn hiệu được bảo hộ “1. dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ
ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể
hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc. 2. khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ
của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác.”. Đồng thời, tại
Điều 129 Luật sở hữu ttuệ quy định về hành vi m phạm quyền đối với nhãn
hiệu: “a) Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ
trùng với hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục đăng kèm theo nhãn hiệu đó; b) Sử
dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ tương tự
7
hoặc liên quan tới hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục đăng kèm theo nhãn hiệu
đó, nếu việc sử dụng khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ;”.
Bị đơn hoạt động kinh doanh cùng ngành nghề nhưng sử dụng cụm t“KDC KD”,
“KDC K Đ” trên sản phẩm từ “KĐ” đđăng cấu thành tên doanh nghiệp
tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu “KD, hình” và “KD” đối với các sản
phẩm cùng loại thuộc nhóm 12 được bảo hộ theo giấy chứng nhận đăng nhãn
hiệu số ..511, ..6232 của nguyên đơn. Nên việc nguyên đơn khởi kiện là có cơ sở để
chấp nhận.
[4] Về án phí:
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên hoàn trả cho
nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Bị đơn Công ty TNHH K Đ Đồng Nai phải chịu 2.000.000đ án phí kinh
doanh thương mại sơ thẩm.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận
định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 203, Điều 220,
điểm b khoản 2 Điều 227 khoản 3 Điều 228, Điều 266 Điều 273 Bộ luật Tố
tụng dân sự;
Căn cứ các khoản 3 Điều 6; khoản 1, 2 Điều 72; Điều 129; Điều 198; Điều
202; Điều 203 Luật sở hữu trí tuệ.
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH công nghiệp
cao su KD (KD RUBBER IND. CO.,LTD).
Buộc Công ty TNHH K Đ Đồng Nai chấm dứt hành vi xâm phạm, không
tiếp tục sử dụng nhãn hiệu: “KDC KD”, “KDC K Đ” và phải tiêu hủy các hàng hóa
có nhãn hiệu này còn trên thị trường.
Buộc Công ty TNHH K Đ Đồng Nai xin lỗi, cải chính công khai đối với
nguyên đơn Công ty TNHH công nghiệp cao su KD (KD RUBBER IND.
CO.,LTD) trên 03 số liên tiếp của Báo trung ương và báo địa phương tại Đồng Nai
8
đã hành vi xâm phạm và sử dụng nhãn hiệu “KDC KD”, KDC K Đcủa
Công ty TNHH công nghiệp cao su KD (KD RUBBER IND. CO.,LTD).
2. Về án phí:
Bị đơn Công ty TNHH K Đ Đồng Nai phải chịu 2.000.000đ án phí kinh
doanh thương mại sơ thẩm.
Nguyên đơn Công ty TNHH công nghiệp cao su KD (KD RUBBER IND.
CO.,LTD) được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp 3.000.000đ theo biên lai
thu số 0003829 ngày 12/5/2020 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai.
Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể tngày tuyên
án. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân
sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án
dân sự.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND T.Đồng Nai (1)
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Cục THADS T.Đồng Nai (1) (đã ký)
- Đương sự (3);
- Lưu (6)
Phạm Thị Xuân Đào
9
Tải về
Bản án số 02/2022/KDTM-ST Bản án số 02/2022/KDTM-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất