Bản án số 02/2022/HS-ST ngày 19/01/2022 của TAND tỉnh Bình Phước về về tội vi phạm các quy đinh khai thác tài nguyên

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 02/2022/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 02/2022/HS-ST ngày 19/01/2022 của TAND tỉnh Bình Phước về về tội vi phạm các quy đinh khai thác tài nguyên
Tội danh: 227.Tội vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Bình Phước
Số hiệu: 02/2022/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 19/01/2022
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Phạm Xuân T phạm tội vi phạm các quy đinh khai thác tài nguyên
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH PHƢỚC
Bản án số: 02/2022/HS-ST
Ngày 19 - 01 - 2022
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƢỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Quý Chi
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Trọng Đức
Ông Điểu Bách
- Thư phiên tòa: Bà Trịnh Như Qunh- Thư Tòa án nhân dân tỉnh Bình
Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà:
Ông Phạm Xuân Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 01 m 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước tiến
hành xét xử thẩm công khai vụ án hình sthụ số 50/2021/TLST- HS ngày 21
tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2022/QĐXXST-HS
ngày 05 tháng 01 năm 2022, đối với bị cáo:
Phạm Xuân T, sinh năm 1982 tại N
Nơi cư trú: Tổ 1, khu phố 6, thị trấn K, huyện H, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp:
Làm nông; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không;
quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Xuân Tr, sinh năm 1954 (đã chết) Hoàng
Thị H, sinh năm 1955; Vợ là Lưu Thị Ph, sinh năm 1989; bị cáo có 02 người con, lớn
nhất sinh m 2008, nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án: không; tiền sự: 01- Ngày
26/02/2021 y ban nhân dân tỉnh Bình Phước ban hành Quyết định xử phạt vi phạm
hành chính số 467/QĐ-XPVPHC về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
i nguyên nước khoáng sản đối với Phạm Xuân T, xử phạt 26.950.00tịch thu
01 máy đào nh ch. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi trú
đến nay, bo có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nga vliên quan:
1. Anh Xuân L, sinh năm 1986, địa chỉ: Tổ 1, ấp V, P, huyện H, tỉnh Bình
Phước ( mặt)
2. Anh Nguyễn Tiến D, sinh năm 1978, địa chỉ: Tổ 3, khu phố S, phường T,
thành phố Đ, tỉnhnh Phước (mặt)
3. Chị Đào Thị Thúy H, sinh năm 1979, địa chỉ: Ấp 6, xã M, huyện C, tỉnh Bình
Phước ( mặt)
4. Chị Dương Thị Thùy Tr, sinh năm 1993, địa chỉ: Tổ 01, ấp V, xã P, huyện H,
tỉnh Bình Phước (mặt).
2
5. Anh Hồ Đức Ng, sinh năm 2000, đa chỉ: Khu phố 6, thị trấn T, huyện H, Bình
Phước (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Ngày 29/3/2020, Phạm Xuân T nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối
với thửa đất số 12, tờ bản đồ số 29, địa chỉ: ấp S, P, huyện H, tỉnh Bình Phước
diện tích 4.576 m
2
của ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1967, nơi trú: ấp, P,
huyện H, tỉnh Bình Phước. T không được quan thẩm quyền cấp giấy phép khai
thác khoáng sản biết không được khai thác đối với thửa đất trên tuy nhiên
mục đích vlợi tháng 7/2020 T bắt đầu hoạt động khai thác đất trái phép để bán lấy
tiền. Ngày 07/01/2021, T bị Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Bình Phước kiểm
tra phát hiện lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi khai thác khoáng sản
không giấy phép khai thác khoáng sản của quan nhà nước thẩm quyền. Sau
đó, Công an tỉnh báo cáo đề xuất UBND tỉnh Bình Phước ra Quyết định xử phạt vi
phạm hành chính đối với Phạm Xuân T. Ngày 26/02/2021, UBND tỉnh ban hành
Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 467/QĐ-XPVPHC về việc xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực i nguyên nước khoáng sản đối với Phạm Xuân
T, xử phạt tiền 26.950.000đ tịch thu 01 máy đào bánh xích, màu vàng, nhãn hiệu
Kobelco, loại u 0,5m
3
, không biển kiểm soát của T phương tiện vi phạm hành
chính. Ngày 05/3/2021, Thanh đã nộp số tiền phạt nêu trên vào Kho bạc Nnước
tỉnh Bình Phước.
Đến ngày 01/4/2021, T tiếp tục thực hiện việc khai thác đất tại vị trí đã khai
thác để n cho một snhân khác đến mua làm vật liệu san lấp. T thuê máy đào
bánh xích nhãn hiệu Mitsubishi Cobelco SK07 màu vàng xanh; không biển số; số
khung LN-5131, số máy 6D15-31818 của ông Vũ Xuân L, sinh năm 1986, nơi cư trú:
ấp V, xã P, huyện H, tỉnh Bình Phước với g80.000đ đầy một xe tải trọng lượng
10m
3
và 40.000đ đầy một xe tải trọng lượng 5m
3
sau đó thuê Hồ Đức Ng, sinh năm
2000, nơi trú: khu phố 6, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước điều khiển để thực
hiện việc khai thác đất. Hàng ngày, T mặt tại khu vực khai thác để thu tiền bán đất
từ các tài xế xe tải với giá 250.000 đồng/1 chuyến xe loại tải trọng 10m
3
, 150.000
đồng/1 chuyến xe loại tải trọng 05m
3
, đồng thời ghi chép vào sổ theo dõi số chuyến
xe đất đã bán ra m sở trả tiền thuê xe y đào cho ông L. Ngày 28/4/2021,
Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm vmôi trường Công an tỉnh Bình Phước kiểm
tra, phát hiện lập biên bản vi phạm hành chính đối với Phạm Xuân T. Tại thời
điểm kiểm tra, phát hiện 01 xe máy đào bánh xích nhãn hiệu Mitsubishi Cobelco
SK07 màu vàng xanh; không biển số; số khung LN-5131, số máy 6D15-318118 do
Hồ Đức Ng điều khiển, 01 xe tải tự đổ biển s93C-079.51 do Nguyễn Tiến D, sinh
năm 1978, nơi trú: khu phố S, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước điều
khiển, Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường đã tiến hành tạm giữ đối
với 02 xe trên.
Quá trình điều tra xác định trong thời gian từ ngày 01/04/2021 đến ngày
28/04/2021, T đã khai thác bán được 219 chuyến xe (gồm 207 chuyến xe loại 10m
3
12 chuyến xe loại 05m
3
), khối lượng đất tương ứng 2.130m
3
, tổng số tiền
ông T thu được từ việc bán đất đã khai thác là 53.500.000 đồng. Trong đó T đã bán
cho Đào Thị Thúy H, sinh năm 1979, nơi trú: ấp 6, M, huyện C, tỉnh Bình
Phước 107 chuyến xe đất, thu được 25.500.000 đồng bán cho nhiều nhân khác
3
thu được số tiền 28.000.000 đồng.
Vật chứng thu giữ gồm:
+ 01 xe ô tô tải t đổ, biển s 93C-079.51, giấy chứng nhận kiểm định số
5301398 bản phô công chứng Giấy chứng nhận đăng ký đối với xe ô tn.
+ 01 xe máy đào nh ch nhãn hiệu Mitsubishi Cobelco SK07 màu vàng-xanh;
không biển số; số khung LN-5131, số máy 6D15-31818.
+ 01 sổ ghi chép c chuyến xe đất đã khai thác do Phạm Xuân T giao np ngày
17/5/2021.
+ 05 phiếu ghi chép khối lượng, số chuyến xe vận chuyển đất đối với xe ô tải
biển số 93C-124.88 do Đào Thị Thúy H giao nộp vào ngày 21/5/2021.
+ 16 phiếu ghi chép khối lượng, số chuyến xe vận chuyển đất đối với xe ô tải
biển số 93C-079.51 do Đào Thị Thúy H giao nộp vào ngày 25/5/2021.
Tại kết quả kiểm tra hiện trường xác định: Phần diện ch đất đã bị khai thác
thuộc thửa đất số 12, tờ bản đồ số 29, địa ch: ấp S, xã P, huyện H, tỉnh Bình Phước
diện tích 4.174,5m
2
, độ sâu khai thác từ 03mét đến 8,24mét
Tại bản kết luận giám định số 3125/C09B ngày 05/7/2021 của Phân viện Khoa
học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Mẫu đất, đã thu tại hiện trường khu
vực khai thác đất là khoáng sản làm vật liệu xây dựng. (BL 107)
Tại bản kết luận giám định số 125 ngày 10/6/2021 của Phòng k thuật hình sự
Công an tỉnh nh Phước kết luận: Xe máy đào bánh xích nhãn hiệu Mitsubishi
Cobelco SK07 màu vàng xanh; không biển số; số khung LN -5131, số y 6D15 -
31818 trước và sau khi giám định không thay đổi.
Kết quả xác minh tại Tổng cục đường bộ Việt Nam c định: Máy đào bánh xích
nhãn hiệu KOBELCO SK07, số máy 6D15-31818 chủ phương tiện chưa đăng .
Kết quả xác minh tại STài nguyên môi trường tỉnh Bình Phước xác định
thửa đất trên không được quan nhà ớc thẩm quyền cấp giấy phép khai thác
khoáng sản.
Cáo trạng số 01/CT-VKS-P1 ngày 16/12/2021 của Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tỉnh Bình Phước truy tố bcáo Phạm Xuân T về tội “Vi phạm các quy định
về khai thác tài nguyên” theo quy định tại các điểm đ khoản 1 Điều 227 Bộ luật Hình
sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
- Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước giữ nguyên nội dung Cáo
trạng số 01/CT-VKS-P1 ngày 16/12/2021 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân n
tỉnh Bình Phước đã truy tố đối với bị cáo. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng
điểm đ khoản 1 Điều 227; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 50 Bộ luật hình sự
năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, tuyên bố bị cáo phạm tội “Vi phạm các quy định
về khai thác tài nguyên”, xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 300.000.000đồng đến
350.000.000đồng, tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 53.500.000đồng
bị cáo thu lợi bất chính từ việc phạm tội; về vật chứng các vấn đề khác đề nghị xử
lý theo quy định của pháp luật.
4
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, quan Điều tra Công
an tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước trong
quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định
của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố tại phiên toà không ai
ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người quan tiến hành tố
tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Bị cáo Phạm Xuân T thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung o trạng
đã truy tnên đủ căn cứ kết luận: mặc bị cáo không được quan nhà nước
thẩm quyền cấp phép khai thác tài nguyên; đã bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi
khai thác tài nguyên trái phép, chưa được a tiền sự nhưng trong khoảng thời gian
từ ngày 01 đến ngày 28 tháng 4 năm 2021, Phạm Xuân T vẫn cố tình thuê xe y
đào của Xuân L thuê Hồ Đức Ng điều khiển xe máy đào thực hiện việc khai
thác đất trái phép. Số lượng đất T đã khai thác trái phép 2.130m
3
với tổng số
tiền thu lợi bất chính là 53.500.000 đồng.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện
trường, Kết luận giám định mẫu đất, lời khai của người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan, người làm chứng các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Nvậy, hành vi
của bị cáo T đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên” quy
định tại điểm đ khoản 1 Điều 227 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ
sung năm 2017. Do đó, cáo trạng số 01/CT-VKS-P1 ngày 16/12/2021 của Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân n tỉnh nh Phước truy tố đối với bcáo căn cứ,
đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi
khai thác tài nguyên mà không được quan thẩm quyền cho phép bị Nhà nước
cấm song do muốn thu lợi bất chính bị cáo vẫn cố tình thực hiện, bị cáo đã chuẩn bị
từ thuê nhân công đến y móc, công cụ khai thác. Hành vi của bị cáo nguy hiểm
cho hội, xâm phạt trật tự quản kinh tế, xâm phạm đến chính sách độc quyền
quản lý về tài nguyên của Quốc gia.
[4] Xét bcáo không tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên,
trong quá trình điều tra tại phiên tòa m nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn
hối cải về hành vi phạm tội, đây những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s
khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét việc cách ly bị cáo khỏi đời sống hội
không cần thiết, mà áp dụng hình phạt tiền là đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo và phòng
ngừa tội phạm chung. Do xử phạt bị cáo với hình phạt chính tiền nên không cần
thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, nhưng cần tịch thu sung vào ngân
sách nhà nước số tiền 53.500.000đ bị cáo thu lợi bất chính từ việc phạm tội.
[5] Liên quan đến vụ án còn có các đối tượng:
Xuân L: người biết Phạm Xuân T không giấy phép khai thác khoáng
sản của quan Nhà nước thẩm quyền nhưng Long vẫn tiếp tc cho T thuê xe
máy đào bánh xích hiệu Cobelco từ ngày 01 đến ngày 28/4/2021 để T khai thác đất
nhằm mục đích thu lợi. Tuy nhiên, L chưa bị xử phạt hành chính về hành vi khai thác
khoáng sản số tiền Lthu được từ việc cho T thuê xe chưa đến mức bị xử
5
nh sự nên hành vi của L không đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm các quy định về
khai thác tài nguyên”
Hồ Đức Ng: được T trả với mc lương 250.000 đồng/1 ngày để thlái xe
máy đào thực hiện khai thác đất, ngoài ra Ng không được ởng vụ lợi khác từ T.
Ng không biết việc T khai thác đất không giấy phép khai thác khoáng sản của
quan Nhà nước thẩm quyền nên đã đồng ý thực hiện. nh vi của Ng không đủ
yếu tố cấu thành tội phạm vì vậy không xem xét xử lý hình sự đối với Ng.
Nguyễn Tiến D: người được Đào Thị Thu H thuê điều khiển xe tải tự đổ
biển số 93C-079.51 thực hiện việc vận chuyển đất đi tiêu thụ. D người làm thuê
hưởng lương do H trả. D không biết việc Thanh khai thác đất nhưng không
giấy phép khai thác khoáng sản của quan Nhà nước thẩm quyền nên nh vi
của D không đủ yếu tố cấu thành tội phạm.
Đào Thị Thúy H: trong thời gian từ ngày 01/4/2021 đến 28/4/2021, bà H đã có
hành vi mua, bán, vận chuyển đất khai thác không nguồn gốc hợp pháp với tổng
khối lượng đất mua của T 1.130m
3
đất san lấp, mục đích để bán lại kiếm lời. C
thể: Sau khi mua đất của T, H đã bán cho anh Lý Gia H, địa chỉ tại ấp B, Q,
huyện C, tỉnh Bình Phước số lượng 57 chuyến xe, tương đương 570m
3
, thu được
51.300.000đ; khối lượng đất còn lại, bà Hiền bán cho các hộ dân khác trên địa bàn xã
Q, huyện C T, huyện H, tỉnh Bình Phước. Hành vi của H đã vi phạm quy định
tại khoản 8 Điều 17 Nghị định 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020 quy định về xử phạt
vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn n hàng giả, hàng
cấm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Công an tỉnh Bình Phước đã chuyển xử
vi phạm hành chính đối với Đào Thị Thúy H theo quy định của pháp luật.
Gia H: trong thời gian từ ngày 01/4/2021 đến ngày 28/4/2021 H mua tổng
khối lượng đất 570m
3
của H, nguồn gốc do H mua của T, mục đích anh H
mua để san lấp mặt bằng cho đất của gia đình. Anh H không biết nguồn gốc đất là do
khai thác trái phép mua số đất trên không động vụ lợi do đó không xem xét
xử lý.
[6] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 xe máy đào bánhch nhãn hiệu Mitsubishi Cobelco SK07 màu vàng-
xanh; không biển số; số khung LN-5131, số máy 6D15-318118 thuộc quyền sở hữu
chung của ông Xuân L Dương Thị Thùy Tr sinh năm 1993, HKTT: tổ 01, ấp
V, P, huyện H, nh Phước (là vợ của ông L). Xe chưa đăng tại Tổng cục đường
bộ Việt Nam. Ông L lỗi trong việc để cho người phạm tội sử dụngo việc thực hiện
tội phạm, Tr không biết việc ông L cho T thuê sử dụng o mục đích phạm tội. Vì
vậy, cần giao xe trên cho Cục Thi nh án tỉnh Bình Phước xbán đấu giá, số tiền
n đấu giá trả lại cho Tr ½ (một nửa), ½ n lại tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
(Theo biên bn giao nhn vt chng, i sản s 0000214 quyển số 0005 ngày
28/12/2021 giữa ng an tỉnh Bình Phước Cục Thi hành án dân sự tnh nh Pc).
Đối với chiếc xe tải tự đổ biển số 93C-079.51, đây là xe thuộc sở hữu của Đào
Thị Thúy H, ngày 21/11/2021, quan CSĐT Công an tỉnh Bình Phước đã giao trả
lại xe cho H nên không xem xét xử lý.
Đối với 01 cuốn sổ bìa mềm màu đỏ, kích thước 9,2cm x 15,2cm gồm 44 tờ
trong đó 03 tờ có nội dung ghi chép số lượng chuyến xe bán đất do T giao nộp
ngày 17/5/2021 16 phiếu được đánh số thứ tự từ 01 đến 16 ghi chép số lượng,
6
chuyến xe san lấp mua tại hầm của T do H giao nộp ngày 25/5/2021 cần lưu kèm
theo hồ sơ vụ án.
[7] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia
phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[8] Án phí hình sự thẩm: B cáo Phạm Xuân T phải chịu theo quy định
pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Xuân T phạm tội Vi phạm các quy
đinh về khai thác tài nguyên
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 227; điểm s khoản 1 Điều 51;
Điều 35; Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Phạm Xuân T 300.000.000đồng (ba trăm triệu đồng)
3. Áp dụng Điều 47 Bluật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm
2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 53.500.000đồng (năm mươi ba
triệu năm trăm nghìn đồng) bị cáo thu lợi bất chính từ việc phạm tội.
- Giao 01 xe máy đào nh xích nhãn hiệu Mitsubishi Cobelco SK07 màu vàng-
xanh; không biển s; số khung LN-5131, số máy 6D15-318118 cho Cục Thi hành án
tỉnhnh Phước xlý bán đấu giá, s tiền bán đấu giá thu đưc trả lại cho bà Dương Th
Thùy Tr ½ (một nửa), ½ (một nửa) n lại tịch thu sung vào ngânch Nhà nước.
4. Về án phí nh sự thẩm: Áp dụng Điều 21, Điều 23 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về án phí,
lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Phạm Xuân T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
5. Bị cáo, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mặt tại phiên toà được
quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo bản án trong thời
hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo
quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
- Toà án ND cấp cao tại TP.HCM;
- Viện kiểm sát cấp cao tại TP.HCM;
- Viện kiểm sát ND tỉnh Bình Phước;
- CQĐT, PV06 Công an tỉnh Bình Phước
- Trại tạm giam Công an tỉnh Bình Phước;
- Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước;
- Cục Thi hành án DS tỉnh Bình Phước;
- Người tham gia tố tụng;
- Cổng thông tin điện tử TANDTC;
- Lưu Hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Đinh Thị Quý Chi
Tải về
Bản án 02/2022/HS-ST Bình Phước Bản án 02/2022/HS-ST Bình Phước

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án 02/2022/HS-ST Bình Phước Bản án 02/2022/HS-ST Bình Phước

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất