Bản án số 02/2018/DS-PT ngày 05/01/2018 của TAND tỉnh Lạng Sơn về tranh chấp quyền sử dụng đất, buộc di dời tài sản trên đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 02/2018/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 02/2018/DS-PT ngày 05/01/2018 của TAND tỉnh Lạng Sơn về tranh chấp quyền sử dụng đất, buộc di dời tài sản trên đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lạng Sơn
Số hiệu: 02/2018/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 05/01/2018
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ông Hướng Văn D và bà Nông Thị L, anh Lục Văn Đ1 tranh chấp với nhau quyền sử dụng thửa đất số 765, tại xã Q, huyện T; ông Hướng Văn D yêu cầu bà Nông Thị L, anh Lục Văn Đ1 di dời tài sản trên đất, trả lại đất cho ông; các bị đơn yêu cầu hủy GCNQSDĐ mà UBND huyện T đã cấp cho nguyên đơn.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LẠNG SƠN
Bản án số: 02/2018/DS-PT
Ngày 05 - 01 - 2018
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất,
buộc di dời tài sản trên đất, hủy giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất.
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tdo - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu LHường;
Các Thẩm phán: Ông Hồ Đức Châm;
Ông Phạm n Tuệ.
- Thư phiên tòa: Chu Thị Phương Thảo Thẩm tra viên Tòa án
nhân dân tỉnh Lạng Sơn;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa:
Bà Phạm Thị Kim Dung – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét
xử phúc thẩm ng khai vụ án thụ số 35/2017/TLPT-DS ngày 17 tháng 10
năm 2017, vtranh chấp quyền sử dụng đất, buộc di dời i sản tn đất và hủy
giy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Do bản án n sự thẩm số 04/2017/DS-ST ngày 31 tháng 8 năm 2017
của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Lạng Sơn bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 02/2017/QĐ-PT ngày
15 tháng 11 năm 2017 và Quyết định hn phiên tòa số 07/2017/QĐ-PT ngày 07
tháng 12 năm 2017, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Hướng n D, sinh năm 1944; địa chỉ: Tn H, Q,
huyện T, tỉnh Lạng Sơn - Có mặt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Hoàng Thị
B, Trợ giúp viên pháp , Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nnước tỉnh Lạng n -
mặt.
- Bị đơn:
1. Bà Nông Thị L, sinh năm 1962 - mặt;
2. Anh Lục Văn Đ1, sinh năm 1996 - Có mặt;
Cùng địa chỉ: Thôn H, xã Q, huyện T, tỉnh Lạng Sơn.
2
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của các bị đơn: Ông Hoàng n
L, Luật cộng tác viên Trung m Trợ giúp pháp Nhà nước tỉnh Lạng n -
Vắng mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Hướng Thị T, sinh năm 1965 - Có mặt;
2. Anh Lục Văn H, sinh năm 1992 - Vắng mặt;
3. Anh Lục Văn Đ2, sinh năm 1994 - Vắng mặt;
Cùng địa chỉ: Thôn H, xã Q, huyện T, tỉnh Lạng Sơn;
4. Ủy ban nhân dân (UBND) huyện T, tỉnh Lạng Sơn;
Người đại diện theo ủy quyền của UBND huyện T: Ông Đỗ Đức T, P
Chủ tịch UBND huyện T, tỉnh Lạng Sơn (theo Giấy ủy quyền ngày 26/5/2017
của Chủ tịch UBND huyện T) - Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vng mặt).
- Người kháng cáo: Anh Lục Văn Đ1, là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án thẩm i liệu trong hồ , nội dung vụ án được m
tắt như sau:
Ông Hướng n D tranh chấp với ng Thị L anh Lục n Đ1
quyền sử dụng thửa đất số 765, diện tích 8.210m
2
, tờ bản đồ địa chính số 02
Q, huyn T, tỉnh Lạng n (viết tắt là thửa đất số 765) và tài sản y trồng
trên đất. Hình thể thửa đất hình tứ giác, ranh giới tiếp giáp và kích thước
cạnh như sau:
- Phía Đông Bắc giáp thửa đất số 757, chiu dài cạnh là 55,7m + 50,7m;
- Phía Tây Bắc giáp thửa đất số 756, đất nghĩa trang do UBND Q
quản lý, chiều dài cạnh là 70,5m;
- Phía Đông Nam giáp thửa đất số 775, chiều dài cạnh là 76,9m;
- Phía Tây Nam giáp đường dự án B – K, tổng chiều dài cạnh là 115,6m.
Giá tr đất tranh chấp 41.050.000 đồng; tổng giá trtài sản tn đất là
12.579.000 đồng, trong đó 1.500 cây bạch đàn mi trồng trị giá 12.000.000
đồng; 08 cây bạch đàn, đường kính từ 14cm đến 22 cm, trị giá 579.000 đồng.
m 1994, ông Hướng n D được UBND huyn T giao hai đất rừng
theo hồ sơ giao quyền quản và sử dụng rng và đất trồng rng số 17, trong đó
số 171, diện tích 01ha. m 2000, ông Hướng n D được cấp đổi ts
giao quyền quản sử dụng rng đất trồng rừng sang giấy chứng nhận
quyền sdụng đất đối với thửa đất số 171. m 2008, sau khi tnh lp bản đồ
địa chính đất m nghiệp, ông Hướng n D tiếp tục khai, đăng ký cấp li
giy chứng nhận quyền s dụng đất, theo bản đồ địa chính thửa đất số 765,
ngày 08/12/2010, hộ ông Hướng n D được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, số vào sổ CH00189, đối với thửa đất số 765.
3
Về quá trình sử dụng đất, ông Hướng n D cho rằng bố ca ông đã quản
, sử dụng khu đất rừng này tnhững m 1960. Trong nhiều năm, gia đình
ông đã trồng y thông, hồi, bạch đàn, nhưng đều bchặt phá, hiện nay chỉ n
08 cây bạch đàn, đường kính từ 14cm đến 22cm, trng năm 2004.
Tháng 9 năm 2011, Nông Thị L tý vào thửa đất số 765 chặt và đốt
cây của gia đình ông Hướng n D để gia đình ng Thị L trồng sắn. Ông
Hướng Văn D đã viết đơn gửi Ban hòa giải thôn H và UBND xã Q nhưng không
được gii quyết. Tháng 6 năm 2016, Nông Thị L con trai là anh Lục Văn
Đ1 tiếp tục trồng 1.500 y bạch đàn tn thửa đất số 765 của gia đình ông. Do
đó, ông Hướng Văn D khởi kiện Nông Thị L anh Lục Văn Đ1, u cầu
Tòa án giải quyết ng nhận gia đình ông được quyền sử dụng thửa đất số 765;
buộc Nông Thị L anh Lục n Đ1 di dời 1.500 y bạch đàn mới trồng ra
khỏi thửa đất s765.
ng Thị L và anh Lục n Đ1 cho rằng gia đình Nông Thị L đã
quản lý, sử dụng diện tích đất rừng tranh chấp từ lâu. Ngày 01/12/1994, ông Lục
Văn D (đã chết), là chồng bà ng Thị L được giao lô đất rừng số 173, din tích
2,3ha theo hgiao quyền quản sdụng rừng đất trồng rừng số 21.
Sau năm 1994, gia đình Nông Thị L trồng y hồi bạch đàn tn đất,
nhưng cũng đều bị chặt phá. Hiện nay, trên đất tranh chấp chỉ n khoảng 07
đến 08 y bạch đàn to do gia đình trồng m 2007; ngi ra, năm 2016, gia
đìnhng Thị L đã trồng thêm 1.500 cây bạch đàn con.
ng Thị L xác định đất rừng số 173 chính là thửa đất số 765. Do
đó, ng Thị L và anh Lục Văn Đ1 không chấp nhận u cầu khởi kiện của
ông Hướng Văn D; đồng thời yêu cầu hủy giy chứng nhn quyền sử dụng đất
mà hộ ông Hướng Văn D đã được cấp đối với thửa đất số 765.
Đối với 08 y bạch đàn đường kính từ 14cm đến 22cm trên thửa đất số
765, nguyên đơn bị đơn thống nhất ý kiến ai được quyền sử dụng thửa đất số
765 thì người đó được quyền sở hữu các cây bạch đàn nói trên.
Hướng Thị T, là người quyền li, nghĩa vụ liên quan v phía
nguyên đơn, đồng ý với ý kiến của nguyên đơn;
Anh Lục n H anh Lục n Đ2, người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan về phía b đơn đồng ý với ý kiến của các bị đơn.
Người đại diện theo ủy quyền của UBND huyn T trình bày, năm 1994,
UBND huyện T giao cho ông Hướng n D quản lý, sdụng đất rng tại
171, diện tích 01ha, số 190, diện tích 2,2ha. Ngày 11/12/2000, ông Hướng
Văn D được UBND huyện T cấp đổi sang giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
số vào sổ 00172/QSDĐ/QĐ1237-UB(H) đối với thửa đất số 171 190. m
2008, sau khi đo đạc bản đồ địa chính đất lâm nghiệp, ông Hướng n D tiếp
tục khai được cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất
số 765, diện tích 8.210m
2
thửa đất số 795, diện tích 21.826m
2
. Diện tích
hình thể các thửa đất ssai lệch do bản đồ giao đất lâm nghiệp m 1994
4
được đo đạc thủ ng, độ chính xác không cao; bản đồ địa chính đất lâm nghiệp
năm 2008 được đo đạc bằng máy và chụp ảnh vệ tinh, độ chính xác cao hơn.
UBND huyện T xác định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho
hộ ông Hướng n D m 2000 và cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
năm 2008 đúng quy định; qtrình thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất không có khiếu nại. Do đó, UBND huyện T kng chấp nhận
yêu cầu của Nông Thị L anh Lục Văn Đ1 vviệc hủy giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất đã cấp cho ông hộ Hướng Văn D đối vi thửa đất số 765.
Tại bản án n s thẩm số 04/2017/DT-ST ngày 31/8/2017, Tòa án
nhân dân huyện T đã quyết định:
Áp dụng Điều 164, 166 ca Bộ luật Dân sự 2015; Điều 166, khoản 1 Điều
203 của Luật Đất đai năm 2013;
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hướng n D, công nhận quyền
sử dụng đất hợp pháp của hộ ông Hướng Văn D đối với thửa đất số 765; ông
Hướng n D được quyền sở hữu 08 y bạch đàn thân lớn trên thửa đất số 765
nói tn;
- Buộc ng Thị L và anh Lục n Đ1 phải di dời 1.500 cây bạch đàn
trồng năm 2016 ra khỏi thửa đất số 765;
- Không chấp nhận yêu cầu của ng Thị L anh Lục n Đ1 về
việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số seri bìa BD 641499, do UBND
huyện T cấp cho hộ ông Hướng Văn D ngày 08/12/2010.
Ngoài ra, bản án thẩm n quyết định về nghĩa vụ chịu chi phí xem xét
thm định tại chỗ, định giá tài sản, án pdân sự thẩm quyền kháng cáo
của các đương sự theo quy định.
Ngày 14/9/2017, anh Lục Văn Đ1 kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa
án cấp phúc thẩm giải quyết cho gia đình anh Lục n Đ1 được quyền quản lý,
sử dụng thửa đất số 765, kiểm tra tính hợp pháp ca giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất do UBND huyện T cấp cho ông Hướng Văn D.
Tại phiên tòa phúc thẩm, anh Lục n Đ1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Về căn cứ chứng minh quyền sử dụng đất, anh Lục Văn Đ1 cho rằng tại buổi
hòa gii tranh chấp đất đai do UBND Q tổ chức ngày 07/9/2011 giữa
Nông Thị L Hướng Thị T, hai n đã thỏa thuận với nội dung gia đình bà
Hướng Thị T sử dụng một phần thửa đất số 765, diện tích 547,2m
2
, phần còn li
thuộc quyền sử dụng của bà Nông Thị L.
Nông Thị L nhất trí với nội dung anh Lục Văn Đ1 đã trình y và xác
định trên thửa đất số 765 còn một lán tạm do ng Thị L dng năm 2015,
rộng khoảng 10m
2
, cột gỗ, xung quanh quây bạt, mái lợp bạt.
Người bảo v quyền li ích hợp pháp của ông Hướng Văn D đề nghị
Hội đng xét xử xem xét, không chấp nhận kháng cáo ca bị đơn, giữ nguyên
bản án sơ thẩm.
5
Ông Hướng n D không chấp nhận kháng cáo của anh Lục Văn Đ1 và
xác định trên thửa đất s765, ngi 1.500 cây bạch đàn do bà ng Thị L trồng,
còn một lán tạm ca ng Thị L như ng Thị L đã trình bày. Quá
trình giải quyết vụ án tại cấp thẩm, cho rằng lán tạm giá trkhông ln
nên ông Hướng n D không u cầu Tòa án giải quyết. Ông Hướng n D có
thin chòa giải theo hướng ông sẽ thanh toán cho ng Thị L giá tr 1.500
cây bạch đàn theo giá Hội đồng định giá xác định, nhưng Nông Thị L và anh
Lục n Đ1 kng đồng ý. Do đó, ông Hướng n D bổ sung u cầu buộc bà
Nông Thị L và anh Lục n Đ1 tháo dỡ, di dời lán tạm của Nông Thị L ra
khỏi thửa đất s765 của ông.
Đại diện Viện kiểm sát nhân n tỉnh Lạng n phát biểu ý kiến tại phiên
tòa phúc thẩm như sau:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tiến hành tố tụng và những
người tham gia tố tụng: Quá trình thụ , gii quyết vụ án tại cấp phúc thẩm và
tại phiên tòa phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các
đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụngn sự.
Về kháng cáo của người kháng cáo: Anh Lục n Đ1 kháng cáo bản án
thẩm trong thời hạn luật định, do đó, kháng cáo hợp lệ.
Quan điểm về việc giải quyết đối vi bản án thẩm bị kháng cáo: Tại
phiên tòa phúc thẩm, ông Hướng Văn D,Nông Thị L và anh Lụcn Đ1 đều
thừa nhận năm 2015, ng Thị L dựng một lán tạm, diện tích khoảng 10m
2
trên thửa đất tranh chấp. Tuy nhiên, q trình giải quyết vụ án tại cấp
thm, các n đều không yêu cầu nên bản án sơ thẩm chưa giải quyết đối với i
sản là lán tạm của bà Nông Thị L.
Để bảo đảm giải quyết triệt để i sản gn liền với đất tranh chấp, đề ngh
Hội đồng xét xử n ckhoản 3 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng n sự; hủy tn
bộ bản án n sự thẩm số 04/2017/DT-ST ngày 31/8/2017 của Tòa án nhân
dân huyện T để xét xử sơ thẩm li theo thủ tục chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Phiên tòa ngày 05/01/2018 phiên tòa triệu tập
ln thứ hai. Anh Lục Văn H anh Lục n Đ2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ
hai lần, nhưng vắng mặt không có lý do; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của bà ng Thị L và anh Lục Văn Đ1 vắng mặt tại phiên tòa, nhưng các bị đơn
đều đề nghị Tòa án tiếp tục xét xử vụ án; người đại diện theo ủy quyền của
UBND huyện T vng mặt đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng
xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đương sự, người đại diện hợp pháp của
đương sự người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn theo khoản 3 Điu
296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự thừa nhận
trên thửa đất số 765, ngoài y bạch đàn còn một lán tạm, diện tích khoảng
10m
2
, cột gỗ, quây bạt mái che bạt do Nông Thị L dng năm 2015. Quá
6
trình giải quyết vụ án tại cấp thẩm, các đương sự chưa yêu cầu gii quyết đối
với phần i sản lán tạm. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Hướng n D bổ sung
yêu cầu buộc ng Thị L và anh Lục Văn Đ1 tháo dỡ, di dời lán tạm nói tn
ra khỏi thửa đất số 765 của gia đình ông.
[3] Xét thấy, tại cấp sơ thẩm, các đương sự chưa yêu cầu và Tòa án cấp
thm chưa xem xét, giải quyết đi vi phần i sản lán tạm trên thửa đất
tranh chấp. Để gii quyết triệt để vụ án về tranh chấp quyền sử dụng đất tài
sản gắn liền vi đất, bảo đảm nguyên tắc hai cấp xét xử, bảo đảm quyền lợi
ích hp pháp của các đương sự, Hội đồng xét xử thấy cần hủy bản án thẩm,
chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp thẩm gii quyết lại vụ án theo thủ tục chung.
[4] Về án pn sự phúc thẩm: Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án
thm bị kháng cáo để xét xử lại theo thủ tục thẩm nên anh Lục Văn Đ1 kng
phải chịu án pdân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 3 Điều 148 của B
luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308; khoản 3 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 3 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của y ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Hủy bản án n sự thẩm số 04/2017/DT-ST ngày 31 tháng 8 m
2017 của Tòa án nhân n huyện T, tỉnh Lạng n chuyển hồ cho Toà án
cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục thẩm.
2. Án phí dân sự phúc thẩm: Anh Lục n Đ1 không phải chịu án phí dân
sự phúc thẩm. Hoàn trả anh Lục n Đ1 số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn
đồng) tạm ng án phí đã nộp theo biên lai thu số 03613 ngày 22 tháng 9 năm
2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Lng Sơn.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND cấp cao tại Hà Nội;
- VKSND cấp cao tại Hà Nội;
- VKSND tỉnh Lạng Sơn;
- TAND huyện T;
- Chi cục THADS huyện T;
- Đương sự, người đại diện hợp pháp
của đương s
ự;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa DS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Chu Lệ Hường
Tải về
Bản án số 02/2018/DS-PT Bản án số 02/2018/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất