Bản án số 01/2026/KDTM-PT ngày 03/02/2026 của TAND tỉnh Sơn La về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 01/2026/KDTM-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 01/2026/KDTM-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 01/2026/KDTM-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 01/2026/KDTM-PT ngày 03/02/2026 của TAND tỉnh Sơn La về tranh chấp hợp đồng tín dụng |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Sơn La |
| Số hiệu: | 01/2026/KDTM-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 03/02/2026 |
| Lĩnh vực: | Kinh doanh thương mại |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Tại cấp phúc thẩm nguyên đơn thay đổi nội dung kháng cáo |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH S
Bản án số: 01/2026/KDTM-PT
Ngày 03 - 02 - 2026
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng và
xử lý tài sản thế chấp
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH S
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ to
̣
a phiên to
̀
a: Bà Điêu Thị K.
Thẩm phán: Bà Tòng Thị H, bà Lại Thị H.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị H - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh S.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh S tham gia phiên tòa: Bà Phạm
Thị M - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh S xét xử phúc
thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 01/2025/TLPT-KDTM
ngày 10/11/2025 về việc Tranh chấp hợp đồng tín dụng và xử lý tài sản thế chấp.
Do bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 02/2025/KDTM-ST ngày 25 tháng
9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - S bị kháng cáo. Theo Quyết định
đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 02/2025/QĐ-PT ngày 18 tháng 12 năm 2025;
Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2026/QĐ-PT ngày 29 tháng 12 năm 2025; Quyết
định hoãn phiên tòa số 03/2026/QĐ-PT ngày 12/01/2026; Quyết định hoãn phiên
tòa số 04/2026/QĐ-PT ngày 20/01/2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng A. Địa chỉ: Số 18 Lê Văn L, phường T, Thành
phố H. Người đại diện theo pháp luật: Ông Lưu Trung T - Chủ tịch Hội đồng quản
trị. Vắng mặt có uỷ quyền.
- Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Công ty TNHH Quản lý nợ và
khai thác tài sản - Ngân hàng A. Địa chỉ: Tầng 5, số 175 G, phường Ô, Thành phố
H.
- Người đại diện theo ủy quyền lại của người đại diện theo ủy quyền của
nguyên đơn: Bà Nguyễn Diệu A, ông Hg Thái S, ông Dương Quốc H - Công ty
TNHH Quản lý nợ và khai thác tài sản - Ngân hàng A. Địa chỉ: Tầng 5, số 175 G,
phường Ô, Thành phố H. Bà Nguyễn Diệu A, ông Dương Quốc H vắng mặt, ông
Hg Thái S có mặt.
2
2. Bị đơn: Công ty TNHH một thành viên HK S. Địa chỉ: Tiểu khu 4, thị
trấn H, huyện M, tỉnh S (nay là tiểu khu 4, xã M, tỉnh S). Người đại diện theo
pháp luật: Ông Nguyễn Văn H - Giám đốc. Có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn Đ. Địa chỉ: Phòng 1302,
N2D KĐT T, Phường Y, Thành phố H. Có mặt.
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị Quỳnh N, sinh
năm 1980 và ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1970. Địa chỉ: Tiểu khu 4, thị trấn H,
huyện M, tỉnh S (nay là tiểu khu 4, xã M, tỉnh S). Bà Phạm Thị Quỳnh N vắng
mặt, ông Nguyễn Văn H có mặt.
4. Người kháng cáo: Ngân hàng A - là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo nội dung đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án
và tại phiên tòa, nguyên đơn Ngân hàng A (gọi tắt là Ngân hàng A) trình bày:
Ngân hàng A - Chi nhánh S (MB S) và bên vay là Công ty TNHH MTV
HK S (Công ty HK S) đã ký Hợp đồng cấp tín dụng số 2171.20.785.2364244.TD
ngày 15 tháng 01 năm 2020 và các văn bản tín dụng kèm theo với tổng số tiền
giải ngân ban đầu là: 48.840.014.460 VNĐ (Bốn mươi tám tỷ, tám trăm bốn mươi
triệu, không trăm mười bốn nghìn, bốn trăm sáu mươi đồng).
Tài sản bảo đảm cho các nghĩa vụ tín dụng của Công ty HK S bao gồm:
+ Tài sản 1: Toàn bộ quyền sử dụng đất của bà Phạm Thị Quỳnh N và ông
Nguyễn Văn H cùng toàn bộ các quyền và lợi ích phát sinh từ quyền sử dụng đất
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP773399 do UBND thành phố S
cấp ngày 11/12/2014 (bản gốc) với các đặc điểm như sau:
Địa chỉ: Tổ 2, phường Quyết Thắng, thành phố S, tỉnh S.
Thửa đất số: 9 Tờ bản đồ số: 21 – 10. Diện tích: 91,0m
2
.
Hình thức sử dụng: Sử dụng riêng: 91,0m
2
Sử dụng chung: 0m
2
.
Thời hạn sử dụng: Lâu dài.
Nguồn gốc sử dụng: Nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
+ Tài sản 2: Toàn bộ quyền sử dụng đất của bà Phạm Thị Quỳnh N và ông
Nguyễn Văn H cùng toàn bộ các quyền và lợi ích phát sinh từ quyền sử dụng đất
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số E0342689, vào sổ cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số 1626 QSDĐ, theo QĐ số 399/QĐ-UB ngày 02/04/1997
của UBND tỉnh và do UBND tỉnh S cấp ngày 02/04/1997 cho bà Lương Thị Lan.
Ngày 22/07/2015 được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố S đăng
ký sang tên cho bà Phạm Thị Quỳnh N và ông Nguyễn Văn H theo hồ sơ chuyển
nhượng số 1047 ngày 20/07/2015 (bản gốc) với các đặc điểm như sau:
Địa chỉ: Tổ 15, phường Quyết Thắng, thành phố S, tỉnh S.
Thửa đất số: Tờ bản đồ số: Diện tích: 91 m
2
.
3
Thời hạn sử dụng: Lâu dài.
+ Tài sản 3: Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của bà
Phạm Thị Quỳnh N và ông Nguyễn Văn H theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BT452482, số vào sổ cấp
GCN CH00123, Quyết định số: 3293/QĐ-UBND ngày 04/11/2015 do UBND
huyện M, tỉnh S cấp ngày 04/11/2015 với các đặc điểm như sau:
Tổng số thửa đất: 2; Tổng diện tích: 474,7m
2
Tài sản gắn liền với đất là Nhà ở:
Diện tích xây dựng: 56m
2
Diện tích sàn: 56m
2
Số tầng: 01 Kết cấu: Nhà xây, đổ mái bê tông
+ Tài sản 4: Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của bà
Phạm Thị Quỳnh N và ông Nguyễn Văn H theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BT452483, số vào sổ cấp
GCN CH00124, Quyết định số: 3292/QĐ-UBND ngày 04/11/2015 do UBND
huyện M, tỉnh S cấp ngày 04/11/2015, với các đặc điểm như sau:
Tổng số thửa đất: 2; Tổng diện tích: 305,0 m
2
Tài sản gắn liền với đất là Nhà ở:
Diện tích xây dựng: 66 m
2
Diện tích sàn: 132 m
2
Số tầng: 2 Kết cấu: Nhà xây, đổ mái bê tông
+ Tài sản 5: Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của bà
Phạm Thị Quỳnh N và ông Nguyễn Văn H theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BT452484, số vào sổ cấp
GCN CH00125, Quyết định số: 3294/QĐ-UBND ngày 04/11/2015 do UBND
huyện M, tỉnh S cấp ngày 04/11/2015, với các đặc điểm như sau:
Địa chỉ: Tiểu khu 4, thị trấn H, huyện M, tỉnh S.
Thửa đất số: 130 (2) Tờ bản đồ: 150-6 Diện tích: 63,0m
2
Hình thức sử dụng: Riêng: 63,0 m
2
Chung: 0 m
2
Mục đích sử dụng: Đất ở tại đô thị.
Thời hạn sử dụng: Lâu dài.
Nguồn gốc sử dụng: Nhận chuyển nhượng đất được Nhà nước giao có thu
tiền sử dụng đất.
Tài sản gắn liền với đất là Nhà ở:
Diện tích xây dựng: 63m
2
Diện tích sàn: 126m
2
Số tầng: 02 Kết cấu: Nhà xây, đổ mái bê tông
+ Tài sản 6: Phương tiện giao thông thuộc quyền sở hữu của Công ty TNHH
MTV HK S theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 012141 do Phòng Cảnh sát
giao thông Công an tỉnh S cấp ngày 11/10/2017, đăng ký lần đầu ngày 14/02/2017.
+ Tài sản 7: Phương tiện giao thông thuộc quyền sở hữu của Công ty TNHH
MTV HK S theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 012430 do Phòng Cảnh sát
giao thông Công an tỉnh S cấp ngày 02/12/2017.
4
+ Tài sản 8: 02 Phương tiện giao thông thuộc quyền sở hữu của Công ty
TNHH MTV HK S theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 013419, 013420 do
Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh S cấp ngày 24/02/2018.
+ Tài sản 9: Phương tiện giao thông thuộc quyền sở hữu của Công ty TNHH
MTV HK S theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 012313 do Phòng Cảnh sát
giao thông Công an tỉnh S cấp ngày 22/11/2017.
+ Tài sản 10: Phương tiện giao thông thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn
Văn H và bà Phạm Thị Quỳnh N theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 018168
do Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh S cấp ngày 17/05/2019, cấp lần đầu
ngày 06/06/2016.
+ Tài sản 11: Xe máy chuyên dùng thuộc quyền sở hữu của Công ty TNHH
MTV HK S theo Giấy chứng nhận đăng ký xe máy chuyên dùng số
73/2017/XMCD do Sở Giao thông vận tải tỉnh S cấp ngày 01/11/2017.
+ Tài sản 12: Xe máy chuyên dùng thuộc quyền sở hữu của Công ty TNHH
MTV HK S theo Giấy chứng nhận đăng ký xe máy chuyên dùng số
74/2017/XMCD do Sở Giao thông vận tải tỉnh S cấp ngày 01/11/2017.
+ Tài sản 13: 02 Xe máy chuyên dùng thuộc quyền sở hữu của Công ty
TNHH MTV HK S theo Giấy chứng nhận đăng ký xe máy chuyên dùng số
78/2017/XMCD, 79/2017/XMCD do Sở Giao thông vận tải tỉnh S cấp ngày
08/11/2017.
+ Tài sản 14: Xe máy chuyên dùng thuộc quyền sở hữu của Công ty TNHH
MTV HK S theo Giấy chứng nhận đăng ký xe máy chuyên dùng số
00002/2018/XMCD do Sở Giao thông vận tải tỉnh S cấp ngày 22/01/2018.
+ Tài sản 15: 02 Xe máy chuyên dùng thuộc quyền sở hữu của Công ty
TNHH MTV HK S theo Giấy chứng nhận đăng ký xe máy chuyên dùng số
00041/2020/XMCD, 00042/2020/XMCD do Sở Giao thông vận tải tỉnh S cấp
ngày 24/11/2020.
+ Tài sản 16: Xe máy chuyên dùng thuộc quyền sở hữu của Công ty TNHH
MTV HK S theo Giấy chứng nhận đăng ký xe máy chuyên dùng số
00002CL/2019/XMCD do Sở Giao thông vận tải tỉnh S cấp ngày 23/05/2019.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bên vay đã không thực hiện trả nợ theo
như cam kết trong Hợp đồng cấp tín dụng, các khế ước nhận nợ, khoản vay bị quá
hạn từ ngày 25/03/2022, cụ thể:
+ Đến ngày 22/4/2024, bên vay đã trả được số tiền 982.283.450 VNĐ tiền
nợ gốc; 5.342.475.112 VNĐ tiền nợ lãi; Tổng là 6.324.758.562 VNĐ.
+ Dư nợ tạm tính của Công ty TNHH MTV HK S đến ngày 22/4/2024 tại
Ngân hàng A là: 62.173.439.949 VNĐ (Sáu mươi hai tỷ một trăm bảy mươi ba
triệu bốn trăm ba mươi chín nghìn chín trăm bốn mươi chín đồng) bao gồm
47.857.731.010 VNĐ nợ gốc; 14.315.708.939 VNĐ nợ lãi.
5
Ngân hàng đã nhiều lần làm việc, có văn bản, công văn yêu cầu bên vay trả
nợ và bàn giao tài sản bảo đảm cho Ngân hàng A xử lý theo đúng quy định nhưng
bên vay đều không thực hiện theo yêu cầu, có biểu hiện kéo dài thời gian và cố
tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Công ty TNHH Quản lý nợ và khai thác tài sản –
Ngân hàng A đã gửi thông báo khởi kiện đến khách hàng và các bên liên quan
theo đúng quy định.
Như vậy, bên vay đã vi phạm các nghĩa vụ cam kết, thỏa thuận theo các
Hợp đồng tín dụng và các văn bản, giấy tờ khác có liên quan đã ký với Ngân hàng
A.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng A bổ sung
yêu cầu khởi kiện tính đến ngày 25/9/2025:
- Buộc Công ty HK S thanh toán cho Ngân hàng A số tiền: 70.732.692.593
VNĐ (Bảy mươi tỷ, bảy trăm ba mươi hai triệu, sáu trăm chín mươi hai nghìn,
năm trăm chín mươi ba đồng), bao gồm 47.857.731.010 VNĐ nợ gốc;
560.698.998 VNĐ nợ lãi trong hạn; 22.314.262.585 VNĐ lãi quá hạn (tạm tính
đến hết ngày 25/9/2025).
- Buộc Công ty HK S thanh toán phần nợ lãi, tiền phạt phát sinh theo lãi
suất quá hạn thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số 2171.20.785.2364244.TD ký
ngày 15 tháng 01 năm 2020 và các văn bản tín dụng kèm theo kể từ ngày tiếp theo
cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, Công ty HK S không thực hiện
hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát
sinh thì Ngân hàng A có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án tiến hành kê biên,
phát mại tài sản bảo đảm của khoản vay nói trên để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho
Ngân hàng A.
Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để
thanh toán nghĩa vụ trả nợ của Công ty HK S đối với Ngân hàng A. Nếu số tiền
thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì Công
ty HK S vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng A.
* Bị đơn - Công ty TNHH một thành viên HK S - người đại diện theo pháp
luật là ông Nguyễn Văn H - Giám đốc đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ
liên quan trình bày:
Công ty TNHH MTV HK S là khách hàng vay vốn của Ngân hàng TMCP
Quân Đội trong thời gian dài. Công ty TNHH MTV HK S hiện còn dư nợ tại ngân
hàng đối với Hợp đồng cấp tín dụng số 2171.20.785.2364244.TD ngày 15 tháng
01 năm 2020 và các văn bản tín dụng kèm theo với tổng số tiền giải ngân ban đầu
là: 48.840.014.460VNĐ.
Để đảm bảo vay vốn, Công ty có thế chấp 19 tài sản như khởi kiện của
6
Ngân hàng gồm 05 bất động sản và 14 động sản. Các tài sản thế chấp đều có ký
kết hợp đồng thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật.
Công ty TNHH MTV HK S xác nhận còn nợ như yêu cầu tạm tính của
nguyên đơn.
Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A, Công ty TNHH MTV HK S
đang gặp khó khăn về việc xoay vòng vốn. Vì vậy, ông H đề nghị Ngân hàng A
gia hạn cho công ty thời gian thanh toán đến hết tháng 12/2025, ông H cam đoan
thanh toán đủ số tiền gốc và lãi cho Ngân hàng A.
Ông H xác nhận các bất động sản vẫn giữ nguyên hiện trạng như khi ký hết
các hợp đồng thế chấp với Ngân hàng A. Các động sản vẫn đang phục vụ cho hoạt
động kinh doanh của công ty, hiện đang ở các công trường xây dựng. Do đó, ông
H tiếp tục đề nghị Ngân hàng tiếp tục gia hạn thời gian để trả nợ, trường hợp
không thanh toán được thì công ty nhất trí bàn giao tài sản thế chấp cho Ngân
hàng A để xử lý nợ.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Quỳnh N trình bày:
Bà Nga nhất trí với các ý kiến của ông Nguyễn Văn H về việc giải quyết vụ án,
không có ý kiến bổ sung.
* Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 02/2025/KDTM-ST ngày
25 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - S đã Quyết định:
Căn cứ Khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 158, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều
288, khoản 1 Điều 244, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 100, 103, 107 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024; Điều 117, 123, 280, 320,
323, khoản 1 Điều 325, 357, 407, 466 và 468 của Bộ luật Dân sự 2015; Điểm a
khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy
định về mức thu, miê
̃
n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án:
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng A:
Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên HK S phải thanh toán
cho Ngân hàng A tổng số tiền còn nợ gốc và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng
số 2171.20.785.2364244.TD ngày 15/01/2020 tính đến ngày 25/9/2025 là
70.732.692.593 VNĐ (Bảy mươi tỷ, bảy trăm ba mươi hai triệu, sáu trăm chín
mươi hai nghìn, năm trăm chín mươi ba đồng), bao gồm 47.857.731.010VNĐ nợ
gốc (Bốn mươi bảy tỷ, tám trăm năm mươi bảy triệu, bảy trăm ba mươi mốt nghìn,
không trăm mười đồng); 560.698.998VNĐ (Năm trăm sáu mươi triệu, sáu trăm
7
chín mươi tám nghìn, chín trăm chín mươi tám đồng) nợ lãi trong hạn và
22.314.262.585VNĐ (Hai mươi hai tỷ, ba trăm mười bốn triệu, hai trăm sáu mươi
hai nghìn, năm trăm tám mươi lăm đồng) lãi quá hạn.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong,
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án
theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số
2171.20.785.2364244.TD ngày 15/01/2020.
Trong trường hợp Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên HK S không
trả được tổng số tiền nợ gốc và lãi phát sinh trên, Ngân hàng A được quyền đề
nghị Cơ quan Thi hành án tiến hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm của khoản
vay để thu hồi toàn bộ nợ theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản
gắn liền với đất của bên thứ ba số 443, quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD tại phòng
công chứng số 1, tỉnh S ngày 23/7/2015; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
và tài sản gắn liền với đất của bên thứ ba số 01.15.785.2364244.BĐ ngày
30/6/2015; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của
bên thứ ba số 93715.15.785.2364244.BĐ ngày 06/11/2015; hợp đồng thế chấp xe
máy chuyên dùng số 36249.19.785.2364244.BĐ ngày 10/10/2019, số
25862.17.785.2364244.BĐ ngày 09/11/2017; số 183.17.785.2364244.BĐ ngày
18/01/2017, số 26484.17.785.2364244.BĐ ngày 09/11/2017, số
2959.18.785.2364244.BĐ ngày 24/01/2018, số 26230.17.785.2364244.BĐ ngày
09/11/2017, số 28852.17.785.2364244.BĐ ngày 30/11/2017, số
30642.17.785.2364244.BĐ ngày 05/01/2018, số 12855.18.785.2364244.BĐ ngày
24/4/2008, số 17759.19.785.2364244.BĐ ngày 28/5/2019, số
65940.20.785.2364244.BĐ ngày 26/11/2020 được ký giữa Ngân hàng A với công
ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên HK S và ông Nguyễn Văn H, bà Phạm Thị
Quỳnh N, gồm:
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn
liền với đất số BT 452482, số vào sổ cấp GCN CH 00123, Quyết định số:
3293/QĐ-UBND ngày 04/11/2015 do UBND huyện M, tỉnh S cấp ngày
04/11/2015 với các đặc điểm như sau: Tổng diện tích: 460,6m
2
; trong đó thửa số
158 có diện tích 120,0m
2
, loại đất thổ cư; thửa số 158 (1) là 340,6m
2
, loại đất
trồng cây lâu năm; địa chỉ tại tiểu khu 4, thị trấn H, huyện M, tỉnh S.
Tứ cạnh cụ thể:
Phía bắc giáp đường dân sinh 02m dài 9,6m + 8,77m (hiện trạng không thể
hiện con đường dân sinh như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).
Phía đông giáp Trường mầm non Sao Mai dài 11,4m + 2,41m + 5,02m.
Phía nam giáp đất hộ bà Đào Thị Lương dài 6,04m + 3,4m + 3,03m; giáp
đất hộ ông Nguyễn Xuân Lâm dài 3,84m + 7,82m.
8
Phía tây giáp đất hộ ông Nguyễn Hồng Phong dài 2,35m + 10,46m; giáp
đường dân sinh dài 3,95m + 12,29m.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn
liền với đất số BT 452483, số vào sổ cấp GCN CH 00124, Quyết định số:
3292/QĐ-UBND ngày 04/11/2015 do UBND huyện M, tỉnh S cấp ngày
04/11/2015 với các đặc điểm như sau: Tổng diện tích: 304,4m
2
; trong đó thửa số
129 có diện tích 200,0m
2
, loại đất thổ cư; thửa số 129 (1) là 104,4m
2
, loại đất
trồng cây lâu năm; địa chỉ tại tiểu khu 4, thị trấn H, huyện M, tỉnh S.
Tứ cạnh cụ thể:
Phía bắc giáp hộ ông Vũ Quốc Dũng dài 5,78m + 1,62m + 2,04m; giáp đất
bà Phạm Thị Bốn dài 3,72m.
Phía đông giáp trường mầm non Sao Mai dài 11,66m + 2,36m + 3,46m.
Phía nam giáp đường dân sinh 02m dài 18,4m (hiện trạng không thể hiện
con đường dân sinh như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).
Phía tây giáp đường dân sinh dài 5,38m + 9,77m.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn
liền với đất số BT 452484, số vào sổ cấp GCN CH 00125, Quyết định số:
3294/QĐ-UBND ngày 04/11/2015 do UBND huyện M, tỉnh S cấp ngày
04/11/2015 (bản gốc), với các đặc điểm như sau: Tổng diện tích: 63,0m
2
; thửa số
130 (2), loại đất thổ cư; địa chỉ tại tiểu khu 4, thị trấn H, huyện M, tỉnh S.
Tứ cạnh cụ thể:
Phía bắc giáp đất ông Nguyễn Văn Hoan dài 17,64m
Phía đông giáp đường dân sinh dài 3,55m.
Phía nam giáp đất ông Nguyễn Văn Quang dài 17,88m.
Phía tây giáp đất bà Lê Thị Suốt dài 3,55m.
Tài sản trên đất gồm: 01 ngôi nhà xây 03 tầng, tường xây 110mm, đổ trần
bê tông cốt thép, nền lát gạch ceramic diện tích 52,6m
2
; sân lát gạch diện tích
10,4m
2
.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số E 0342689, vào sổ cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số 1626 QSDĐ, theo QĐ số 399/QĐ-UB ngày 02/04/1997
của UBND tỉnh và do UBND tỉnh S cấp ngày 02/04/1997 cho bà Lương Thị Lan.
Ngày 22/07/2015 được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố S đăng
ký sang tên cho bà Phạm Thị Quỳnh N và ông Nguyễn Văn H theo hồ sơ chuyển
nhượng số 1047 ngày 20/07/2015: Thuộc thửa số 129 tờ bản đồ số 48; tổng diện
tích là 109.3m
2
, trong đó đất ở tại đô thị 97,0m
2
(diện tích nằm trên giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất được cấp là 91m
2
), đất trồng cây lâu năm 12,3m
2
(diện
9
tích không thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Địa chỉ thửa đất theo bìa
cấp năm 1995 tại: Tổ 15, phường Quyết Thắng, thành phố S, tỉnh S (thời điểm
xem xét thẩm định thuộc tổ 2, phường Quyết Thắng, thành phố S, tỉnh S).
Trong đó: Diện tích đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là
91m
2
. Tứ cạnh cụ thể như sau:
Phía Bắc giáp rãnh nước chiều dài 18m.
Phía Đông giáp đất chưa được cấp giấy chứng nhận 5,4m.
Phía Tây giáp đất bà Nga dài 18m.
Phía Tây Nam giáp đường bê tông dân sinh dài 5,39m.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn
liền với đất số BP 773399 do UBND thành phố S cấp ngày 11/12/2014 thuộc thửa
số 9 tờ bản đồ số 21-10 (Nay được xác định là thửa đất số 127 tờ bản đồ số 48
theo tờ bản đồ địa chính): Tổng diện tích là 106,9m
2
, trong đó đất ở tại đô thị
90,4m
2
(diện tích nằm trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất), đất trồng cây lâu
năm 16,5m
2
(diện tích không thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Địa chỉ
thửa đất: Tổ 2, phường Quyết Thắng, thành phố S, tỉnh S.
Trong đó: Diện tích đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là
91m
2
. Tứ cạnh cụ thể như sau:
Phía Bắc giáp bà Lan (đã chuyển nhượng cho bà Nga) dài 16,86m.
Phía Đông giáp đất chưa được cấp giấy chứng nhận dài 5,37m.
Phía Tây giáp đất bà Mộc dài 16,86m.
Phía Nam giáp đường bê tông dân sinh dài 5,36m.
(Hình thể các thửa đất được thể hiện trong sơ đồ Trích đo thửa đất kèm
theo bản án).
+ Xe tải tự đổ, biển số 26C-064.09 thuộc quyền sở hữu của Công ty TNHH
HK S theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 012141 do Phòng Cảnh sát giao
thông Công an tỉnh S cấp ngày 11/10/2017, đăng ký lần đầu ngày 14/02/2017.
+ Xe tải tự đổ, biển số 26C-074.54 thuộc quyền sở hữu của Công ty TNHH
HK S theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 012430 do Phòng Cảnh sát giao
thông Công an tỉnh S cấp ngày 02/12/2017.
+ Xe tải tự đổ, biển số 26C-077.76 thuộc quyền sở hữu của Công ty TNHH
HK S theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 013419 do Phòng Cảnh sát giao
thông Công an tỉnh S cấp ngày 24/02/2018.
+ Xe tải tự đổ, biển số 26C-077.07 thuộc quyền sở hữu của Công ty TNHH
HK S theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 013420 do Phòng Cảnh sát giao
10
thông Công an tỉnh S cấp ngày 24/02/2018.
+ Xe tải tự đổ, Biển số 26C-074.27 thuộc quyền sở hữu của Công ty TNHH
HK S theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 012313 do Phòng Cảnh sát giao
thông Công an tỉnh S cấp ngày 22/11/2017.
+ Ô tô con, biển số 26A-044.99 thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Văn
H và bà Phạm Thị Quỳnh N theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 018168 do
Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh S cấp ngày 17/05/2019, cấp lần đầu ngày
06/06/2016.
+ Máy đào bánh lốp, biển số 26LA-0158 thuộc quyền sở hữu của Công ty
TNHH HK S theo Giấy chứng nhận đăng ký xe máy chuyên dùng số
73/2017/XMCD do Sở Giao thông vận tải tỉnh S cấp ngày 01/11/2017.
+ Máy đào bánh xích, biển số 26XA-0280 thuộc quyền sở hữu của Công ty
TNHH HK S theo Giấy chứng nhận đăng ký xe máy chuyên dùng số
74/2017/XMCD do Sở Giao thông vận tải tỉnh S cấp ngày 01/11/2017.
+ Máy đào bánh xích, biển số 26XA-0323 thuộc quyền sở hữu của Công ty
TNHH HK S theo Giấy chứng nhận đăng ký xe máy chuyên dùng số
78/2017/XMCD do Sở Giao thông vận tải tỉnh S cấp ngày 08/11/2017.
+ Xe lu rung, biển số 26SA-0091 thuộc quyền sở hữu của Công ty TNHH
HK S theo Giấy chứng nhận đăng ký xe máy chuyên dùng số 79/2017/XMCD do
Sở Giao thông vận tải tỉnh S cấp ngày 08/11/2017.
+ Xe lu rung, biển số 26SA-0094 thuộc quyền sở hữu của Công ty TNHH
HK S theo Giấy chứng nhận đăng ký xe máy chuyên dùng số 00002/2018/XMCD
do Sở Giao thông vận tải tỉnh S cấp ngày 22/01/2018.
+ Xe lu tĩnh bánh thép, biển số 26SA-0106 thuộc quyền sở hữu của Công
ty TNHH HK S theo Giấy chứng nhận đăng ký xe máy chuyên dùng số
00041/2020/XMCD do Sở Giao thông vận tải tỉnh S cấp ngày 24/11/2020.
+ Lu tĩnh bánh thép, biển số 26SA-0107 thuộc quyền sở hữu của Công ty
TNHH HK S theo Giấy chứng nhận đăng ký xe máy chuyên dùng số
00042/2020/XMCD do Sở Giao thông vận tải tỉnh S cấp ngày 24/11/2020.
+ Máy đào bánh xích, biển số 26XA-0310 thuộc quyền sở hữu của Công ty
TNHH HK S theo Giấy chứng nhận đăng ký xe máy chuyên dùng số
00002CL/2019/XMCD do Sở Giao thông vận tải tỉnh S cấp ngày 23/05/2019.
Đối với tài sản đảm bảo là các động sản thì Ngân hàng A có quyền đề nghị
Cơ quan Thi hành án tiến hành kê biên, phát mại khi biết vị trí các động sản trên.
Tuyên vô hiệu một phần hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản
gắn liền với đất theo các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
ở và tài sản gắn liền với đất số BP 773399; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
11
số E 0342689; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
gắn liền với đất số BT 452482; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BT 452483 về phần tài sản gắn liền với
đất là nhà ở tại tiểu khu 4, thị trấn H, huyện M, tỉnh S (nay là tiểu khu 4, xã M,
tỉnh S) và tổ 2, phường Quyết Thắng, thành phố S, tỉnh S (nay là tổ 2, phường Tô
Hiệu, tỉnh S). Trường hợp Ngân hàng A đề nghị Cơ quan Thi hành án tiến hành
kê biên, phát mại tài sản bảo đảm của khoản vay là quyền sử dụng đất theo các
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với
đất số BP 773399; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số E 0342689; Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BT
452482; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn
liền với đất số BT 452483 thì tài sản được xử lý bao gồm cả tài sản gắn liền với
đất.
Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp không đủ để thi
hành khoản nợ thì công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên HK S có nghĩa vụ
thanh toán hết số tiền còn lại cho Ngân hàng.
Trường hợp công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên HK S đã thực hiện
xong nghĩa vụ thanh toán tiền nợ gốc và lãi cho Ngân hàng A thì Ngân hàng có
nghĩa vụ trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài
sản gắn liền với đất số BT 452482, số vào sổ cấp GCN CH 00123, Quyết định số:
3293/QĐ-UBND ngày 04/11/2015 do UBND huyện M, tỉnh S cấp ngày
04/11/2015; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
gắn liền với đất số BT 452483, số vào sổ cấp GCN CH 00124, Quyết định số:
3292/QĐ-UBND ngày 04/11/2015 do UBND huyện M, tỉnh S cấp ngày
04/11/2015; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
gắn liền với đất số BT 452484, số vào sổ cấp GCN CH 00125, Quyết định số:
3294/QĐ-UBND ngày 04/11/2015 do UBND huyện M, tỉnh S cấp ngày
04/11/2015; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
gắn liền với đất số BP 773399 do UBND thành phố S cấp ngày 11/12/2014; Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số E 0342689, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số 1626 QSDĐ, theo QĐ số 399/QĐ-UB ngày 02/04/1997 của UBND
tỉnh và do UBND tỉnh S cấp ngày 02/04/1997 cho bà Lương Thị Lan, ngày
22/07/2015 được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng thành phố S đăng ký sang
tên cho bà Phạm Thị Quỳnh N và ông Nguyễn Văn H theo hồ sơ chuyển nhượng
số 1047 ngày 20/07/2015 cho ông Nguyễn Văn H và bà Phạm Thị Quỳnh N.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí dân sự sơ thẩm, chi phí xem xét thẩm
định tại chỗ và quyền kháng cáo cho các đương sự.
* Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 03/10/2025, nguyên đơn Ngân hàng A có
đơn kháng cáo không nhất trí với toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị huỷ toàn bộ nội
dung bản án sơ thẩm.
12
Tại cấp phúc thẩm nguyên đơn thay đổi nội dung kháng cáo: Đề nghị sửa
một phần nội dung Bản án sơ thẩm, xem xét giải quyết chấp nhận toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Ý kiến của nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền lại của người đại
diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Do bản án sơ thẩm chưa xem xét đầy đủ các
hợp đồng thế chấp tài sản giữa các bên nên tuyên vô hiệu một phần hợp đồng thế
chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo các Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BP 773399;
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số E 0342689; Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BT 452482; Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số
BT 452483 về phần tài sản gắn liền với đất là nhà ở tại tiểu khu 4, thị trấn H,
huyện M, tỉnh S (nay là tiểu khu 4, xã M, tỉnh S) và tổ 2, phường Quyết Thắng,
thành phố S, tỉnh S (nay là tổ 2, phường Tô Hiệu, tỉnh S) làm ảnh hưởng đến
quyền lợi hợp pháp của nguyên đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử sửa một phần nội
dung Bản án sơ thẩm, xem xét giải quyết chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn.
- Ý kiến của bị đơn, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn, người có
quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Không nhất trí nội dung kháng cáo của nguyên đơn.
Việc cấp sơ thẩm tuyên vô hiệu một phần đối các hợp đồng thế chấp là đúng quy
định pháp luật. Đề nghị giữ nguyên bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm.
* Quan điểm giải quyết của Kiểm sát viên:
Việc tuân theo và chấp hành pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng
xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải
quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị
án đa
̃
thư
̣
c hiê
̣
n va
̀
chấ p ha
̀
nh đầ y đu
̉
, đúng quy đi
̣
nh cu
̉
a Bô
̣
luâ
̣
t Tố tu
̣
ng dân sư
̣
.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng
dân sự chấp nhận nội dung đơn kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án kinh doanh
thương mại sơ thẩm số 02/2025/KDTM-ST ngày 25 tháng 9 năm 2025 của Tòa
án nhân dân khu vực 4 - S. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn,
xác định các hợp đồng thế chấp tài sản hợp pháp và phát sinh hiệu lực.
Về án phí: Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên
toà; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như
sau:
13
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án:
Nguyên đơn Ngân hàng A khởi kiện yêu cầu bị đơn là Công ty TNHH MTV
HK S có địa chỉ trụ sở tại: Số 143, tiểu khu 4, thị trấn H, huyện M, tỉnh S - nay là
tiểu khu 4, xã M, tỉnh S) trả số tiền vay gồm nợ gốc và lãi theo Hợp đồng cấp tín
dụng số 2171.20.785.2364244.TD ngày 15 tháng 01 năm 2020 và xử lý tài sản
thế chấp bảo đảm cho khoản vay theo hợp đồng tín dụng, đây là tranh chấp phát
sinh từ hợp đồng tín dụng, các bên có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi
nhuận. Tòa án nhân dân khu vực 4 - S thụ lý giải quyết và xác định quan hệ pháp
luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng và xử lý tài sản thế chấp là có căn cứ, đúng
thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a
khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn có đơn kháng cáo toàn bộ nội
dung bản án sơ thẩm, đúng chủ thể, nội dung, thời hạn kháng cáo. Tại cấp phúc
thẩm, nguyên đơn thay đổi nội dung kháng cáo: Đề nghị sửa một phần nội dung
Bản án sơ thẩm, xem xét giải quyết chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn. Xét yêu cầu thay đổi nội dung kháng cáo của nguyên đơn là đúng
phạm vi, đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 284 Bộ luật Tố tụng dân sự nên
được chấp nhận xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại
diện theo ủy quyền lại của người đại diện theo ủy quyền bà Nguyễn Diệu A, ông
Dương Quốc H, người có quyền lợi liên quan bà Phạm Thị Quỳnh N đều đã được
triệu tập hợp lệ lần 2 nhưng vắng mặt. Tòa án nhân dân tỉnh S tiến hành xét xử
vắng mặt theo quy định tại khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét nội dung kháng cáo của nguyên đơn Ngân hàng A, Hội đồng xét xử
xét thấy:
[2.1] Về hiệu lực và việc thực hiện Hợp đồng cấp tín dụng:
Ngày 15/01/2020, Ngân hàng A và Công ty HK S đã kí kết Hợp đồng cấp
tín dụng số 2171.20.785.2364244.TD và các văn bản tín dụng kèm theo với tổng
số tiền giải ngân ban đầu là: 48.840.014.460 VNĐ. Sau khi hợp đồng tín dụng
được kí kết Ngân hàng A đã giải ngân toàn bộ số tiền cho vay và Công ty HK S
đã nhận đủ số tiền vay theo hợp đồng.
Xét về chủ thể tham gia ký kết đều có đủ năng lực hành vi dân sự; hợp đồng
được ký kết trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng; mục đích và nội dung của hợp
đồng không trái pháp luật và đạo đức xã hội do đó có hiệu lực, phát sinh quyền
và nghĩa vụ giữa các bên tham gia giao kết hợp đồng.
Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty HK S đã vi phạm nghĩa vụ khi thực
hiện hợp đồng, không trả các khoản nợ gốc, nợ lãi theo thời hạn thỏa thuận với
14
Ngân hàng A. Ngân hàng A và đại diện công ty là ông Nguyễn Văn H đều xác
nhận khoản vay của Công ty HK S bị quá hạn từ ngày 25/03/2022 để phát sinh nợ
gốc, lãi quá hạn, kéo dài tình trạng chậm trả nợ. Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị đơn
phải thanh toán toàn bộ dư nợ gốc, lãi theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là
có căn cứ.
[2.2] Đối với các hợp đồng thế chấp tài sản và xử lý tài sản bảo đảm thế chấp:
Để đảm bảo nghĩa vụ cho khoản vay theo Hợp đồng cấp tín dụng số
2171.20.785.2364244.TD ngày 15/01/2020, tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng
năm 2022, công ty HK S đã thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản trên đất và các
bất động sản thuộc sở hữu của bị đơn và của ông Nguyễn Văn H, bà Phạm Thị
Quỳnh N theo hợp đồng thế chấp số 93715.15.785.2364244.BĐ ngày 06/11/2015,
hợp đồng sửa đổi bổ sung số 93715.15.785.2364244.BĐ.PL01 ngày 10/7/2017.
Các tài sản thế chấp đều có ký kết hợp đồng thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm
theo quy định của pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành xem xét thẩm
định tại chỗ đối với các diện tích đất và tài sản trên đất đã thế chấp.
Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 24/12/2024 đối với đất và tài sản
trên đất (thửa đất số: 129, 129(1) tờ bản đồ 149-5; thửa đất số 158, 158(1) tờ bản
đồ 149-5) tại tiểu khu 4, thị trấn H, huyện M, tỉnh S như sau:
- Diện tích quyền sử dụng đất tại các thửa đất số: 129 tờ bản đồ 149-5 phù
hợp với hợp đồng thế chấp các bên đã ký kết; tại thửa đất số 129 (1) tờ bản đồ
149-5 diện tích: 104,4m
2
là thiếu 0,6m
2
; tại thửa đất số 158 tờ bản đồ 149-5 diện
tích: 120,0m
2
là phù hợp với hợp đồng thế chấp các bên đã ký kết; tại thửa đất số
158 (1) tờ bản đồ 149-5 diện tích: 340,6m
2
là thiếu 14,1m
2
.
- Đối với tài sản trên đất là 01 ngôi nhà xây kiểu biệt thự 02 tầng, trần đổ
bê tông cốt thép, nền gạch ceramic, kèm bể bơi trong nhà, xây dựng năm 2015 có
diện tích xây trên đường dân sinh là 24,7m
2
. Tòa án cấp sơ thẩm xác định do cả
nguyên đơn và bị đơn khi ký kết hợp đồng thế chấp tài sản gắn liền với đất là
không đúng với hợp đồng; ngôi nhà trên có phần diện tích xây dựng trái phép nên
căn cứ Điều 407, Điều 123 Bộ luật Dân sự tuyên vô hiệu một phần hợp đồng thế
chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với phần thế chấp tài sản
gắn liền với đất.
Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 10/01/2025 đối với đất và tài sản
trên đất (thửa đất số: 127 tờ bản đồ 48; thửa đất số 129 tờ bản đồ 48) tại tổ 2,
phường Quyết Thắng, thành phố S như sau:
- Về diện tích quyền sử dụng đất tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BP 773399 do UBND thành phố
S cấp ngày 11/12/2014 thuộc thửa số 9 tờ bản đồ số 21-10 (Nay được xác định là
15
thửa đất số 127 tờ bản đồ số 48 theo tờ bản đồ địa chính): thửa đất số 127 tờ bản
đồ 48; Diện tích: 90,4m
2
là thiếu 0,6m
2
.
- Diện tích quyền sử dụng đất tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số E
0342689, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1626 QSDĐ, theo
QĐ số 399/QĐ-UB ngày 02/04/1997 của UBND tỉnh và do UBND tỉnh S cấp
ngày 02/04/1997 cho bà Lương Thị Lan; ngày 22/07/2015 được Văn phòng đăng
ký quyền sử dụng thành phố S đăng ký sang tên cho bà Phạm Thị Quỳnh N và
ông Nguyễn Văn H theo hồ sơ chuyển nhượng số 1047 ngày 20/07/2015: Thuộc
thửa số 129 tờ bản đồ số 48; Diện tích: 97,0m
2
là thừa 6,0m
2
.
Kết quả xem xét về tài sản gắn liền với đất thế chấp không
phù hợp với hợp
đồng thế chấp các bên đã ký kết. Nhà xây trên hai diện tích đất trên có diện tích
xây dựng trên phần chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 12,3m
2
+ 16,5m
2
= 28,8m
2
. Tòa án cấp sơ thẩm xác định do tài sản trên đất không phù
hợp với mô tả trong hợp đồng thế chấp, có phần diện tích nhà xây trên phần đất
chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nguyên đơn và bị đơn khi ký
kết hợp đồng thế chấp tài sản gắn liền với đất là không đúng với hợp đồng; ngôi
nhà trên có phần diện tích xây dựng trái phép nên căn cứ Điều 407, Điều 123 Bộ
luật Dân sự tuyên vô hiệu một phần đối với phần thế chấp tài sản gắn liền với đất
đối với các hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số E 0342689 và Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BP 773399.
Xét thấy: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của các Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BP 773399;
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số E 0342689; Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BT 452482; Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số
BT 452483 và quyền sử dụng đất cùng tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BT
452484 của bị đơn và bên thứ ba đối với Ngân hàng A là hợp pháp về mặt hình
thức, được lập thành văn bản, có công chứng và được đăng ký giao dịch bảo đảm
theo quy định của pháp luật. Nội dung không vi phạm pháp luật và trái đạo đức
xã hội, khi kí kết hợp đồng thế chấp các bên hoàn toàn tự nguyện. Tài sản thế chấp
thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bên thế chấp, hiện trạng tài sản trước khi thế
chấp đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận, có đăng ký biến động
sau khi thế chấp và không thay đổi hiện trạng khi xem xét thẩm định tại chỗ; nội
dung thế chấp bao gồm toàn bộ các quyền và lợi ích phát sinh từ quyền sử dụng
đất nên không vi phạm các điều kiện vô hiệu trong hợp đồng thế chấp. Bên cạnh
đó, đường dân sinh tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Phạm Thị
Quỳnh N và ông Nguyễn Văn H trong tờ bản đồ 149-5 tại thị trấn Hát Lót hiện
nay không còn. Bị đơn xác nhận ngôi nhà được xây từ năm 2015, không thay đổi
16
hiện trạng, lý do xây dựng do khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất bị đơn
không nắm được nội dung có con đường dân sinh rộng 02m đi qua giữa hai thửa
đất, bị đơn đã đề nghị đăng ký biến động đất đai theo quy định. Do đó, Hợp đồng
thế chấp trên có hiệu lực pháp luật, cần chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn về xử lý tài sản thế chấp.
Trường hợp công ty HK S không có khả năng thanh toán tiền nợ cho Ngân
hàng A thì kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của Ngân hàng A, công ty HK
S phải có nghĩa vụ bàn giao toàn bộ tài sản thế chấp hợp lệ trên cho Ngân hàng A
xử lý theo quy định.
* Đối với tài sản thế chấp là các động sản:
Ngày 15/9/2025, Toà án nhân dân cấp sơ thẩm đã quyết định xem xét thẩm
định tại chỗ nhưng bị đơn không có mặt, không cung cấp thông tin vị trí của các
động sản, nguyên đơn không cung cấp được thông tin vị trí của các động sản. Tuy
nhiên, căn cứ kết quả yêu cầu xác minh của Tòa án nhân dân khu vực 4 - S với
Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh S thì các động sản được thế chấp trên
chưa có sự thay đổi, phù hợp với hợp đồng thế chấp. Ông Nguyễn Văn H trong
quá trình giải quyết vụ án xác nhận các động sản trên vẫn đang được sử dụng phục
vụ cho công việc kinh doanh của công ty. Hợp đồng thế chấp tài sản đối với các
động sản đã tuân thủ đầy đủ quy định pháp luật về hình thức và nội dung, hợp
đồng có hiệu lực pháp luật nên việc không xác định được các động sản là tài sản
thế chấp ở đâu tại thời điểm tranh chấp không làm vô hiệu hợp đồng tín dụng và
hợp đồng thế chấp.
Do đó, Toà án nhân dân cấp sơ thẩm tuyên trong trường hợp Công ty HK
S không trả được tổng số tiền nợ gốc và lãi phát sinh trên, Ngân hàng A được
quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án tiến hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm
của khoản vay để thu hồi toàn bộ nợ khi biết vị trí các động sản trên là có căn cứ.
Từ những nhận định, phân tích nêu trên, chấp nhận nội dung kháng cáo của
nguyên đơn Ngân hàng A, sửa một phần bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm
của Tòa án nhân dân khu vực 4 - S.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ngân hàng A không phải chịu án phí dân
sự phúc thẩm do bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm bị sửa.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
(sửa đổi, bổ sung năm 2025):
1. Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Ngân hàng A.
17
Sửa một phần bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 02/2025/KDTM-
ST ngày 25 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - S như sau:
Căn cứ Điều 100, 103, 107 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024; Điều 117,
118, 119, 280, 320, 323, khoản 1 Điều 357, 466 và 468 của Bộ luật Dân sự 2015;
Điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy
định về mức thu, miê
̃
n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng A:
Buộc Công ty TNHH MTV HK S phải thanh toán cho Ngân hàng A tổng
số tiền còn nợ gốc và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng số
2171.20.785.2364244.TD ngày 15/01/2020 tính đến ngày 25/9/2025 là
70.732.692.593VNĐ (Bảy mươi tỷ, bảy trăm ba mươi hai triệu, sáu trăm chín
mươi hai nghìn, năm trăm chín mươi ba đồng), bao gồm 47.857.731.010VNĐ nợ
gốc (Bốn mươi bảy tỷ, tám trăm năm mươi bảy triệu, bảy trăm ba mươi mốt nghìn,
không trăm mười đồng); 560.698.998VNĐ (Năm trăm sáu mươi triệu, sáu trăm
chín mươi tám nghìn, chín trăm chín mươi tám đồng) nợ lãi trong hạn và
22.314.262.585VNĐ (Hai mươi hai tỷ, ba trăm mười bốn triệu, hai trăm sáu mươi
hai nghìn, năm trăm tám mươi lăm đồng) lãi quá hạn.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong,
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án
theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số
2171.20.785.2364244.TD ngày 15/01/2020.
Trong trường hợp Công ty TNHH MTV HK S không trả được tổng số tiền
nợ gốc và lãi phát sinh trên, Ngân hàng A được quyền đề nghị Cơ quan Thi hành
án tiến hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm của khoản vay để thu hồi toàn bộ
nợ theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của bên
thứ ba số 443, quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD tại phòng công chứng số 1, tỉnh S
ngày 23/7/2015; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
của bên thứ ba số 01.15.785.2364244.BĐ ngày 30/6/2015; Hợp đồng thế chấp
quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của bên thứ ba số
93715.15.785.2364244.BĐ ngày 06/11/2015; hợp đồng thế chấp xe máy chuyên
dùng số 36249.19.785.2364244.BĐ ngày 10/10/2019, số
25862.17.785.2364244.BĐ ngày 09/11/2017; số 183.17.785.2364244.BĐ ngày
18/01/2017, số 26484.17.785.2364244.BĐ ngày 09/11/2017, số
2959.18.785.2364244.BĐ ngày 24/01/2018, số 26230.17.785.2364244.BĐ ngày
09/11/2017, số 28852.17.785.2364244.BĐ ngày 30/11/2017, số
18
30642.17.785.2364244.BĐ ngày 05/01/2018, số 12855.18.785.2364244.BĐ ngày
24/4/2008, số 17759.19.785.2364244.BĐ ngày 28/5/2019, số
65940.20.785.2364244.BĐ ngày 26/11/2020 được ký giữa Ngân hàng A với công
ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên HK S và ông Nguyễn Văn H, bà Phạm Thị
Quỳnh N, gồm:
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn
liền với đất số BT 452482, số vào sổ cấp GCN CH 00123, Quyết định số:
3293/QĐ-UBND ngày 04/11/2015 do UBND huyện M, tỉnh S cấp ngày
04/11/2015 với các đặc điểm như sau: Tổng diện tích: 460,6m
2
; trong đó thửa số
158 có diện tích 120,0m
2
, loại đất thổ cư; thửa số 158 (1) là 340,6m
2
, loại đất
trồng cây lâu năm; địa chỉ tại tiểu khu 4, thị trấn H, huyện M, tỉnh S.
Tứ cạnh cụ thể:
Phía bắc giáp đường dân sinh 02m dài 9,6m + 8,77m (hiện trạng không thể
hiện con đường dân sinh như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).
Phía đông giáp trường mầm non Sao Mai dài 11,4m + 2,41m + 5,02m.
Phía nam giáp đất hộ bà Đào Thị Lương dài 6,04m + 3,4m + 3,03m; giáp
đất hộ ông Nguyễn Xuân Lâm dài 3,84m + 7,82m.
Phía tây giáp đất hộ ông Nguyễn Hồng Phong dài 2,35m + 10,46m; giáp
đường dân sinh dài 3,95m + 12,29m.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn
liền với đất số BT 452483, số vào sổ cấp GCN CH 00124, Quyết định số:
3292/QĐ-UBND ngày 04/11/2015 do UBND huyện M, tỉnh S cấp ngày
04/11/2015 với các đặc điểm như sau: Tổng diện tích: 304,4m
2
; trong đó thửa số
129 có diện tích 200,0m
2
, loại đất thổ cư; thửa số 129 (1) là 104,4m
2
, loại đất
trồng cây lâu năm; địa chỉ tại tiểu khu 4, thị trấn H, huyện M, tỉnh S.
Tứ cạnh cụ thể:
Phía bắc giáp hộ ông Vũ Quốc Dũng dài 5,78m + 1,62m + 2,04m; giáp đất
bà Phạm Thị Bốn dài 3,72m.
Phía đông giáp trường mầm non Sao Mai dài 11,66m + 2,36m + 3,46m.
Phía nam giáp đường dân sinh 02m dài 18,4m (hiện trạng không thể hiện
con đường dân sinh như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).
Phía tây giáp đường dân sinh dài 5,38m + 9,77m.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn
liền với đất số BT 452484, số vào sổ cấp GCN CH 00125, Quyết định số:
3294/QĐ-UBND ngày 04/11/2015 do UBND huyện M, tỉnh S cấp ngày
04/11/2015 (bản gốc), với các đặc điểm như sau: Tổng diện tích: 63,0m
2
; thửa số
130 (2), loại đất thổ cư; địa chỉ tại tiểu khu 4, thị trấn H, huyện M, tỉnh S.
19
Tứ cạnh cụ thể:
Phía bắc giáp đất ông Nguyễn Văn Hoan dài 17,64m
Phía đông giáp đường dân sinh dài 3,55m.
Phía nam giáp đất ông Nguyễn Văn Quang dài 17,88m.
Phía tây giáp đất bà Lê Thị Suốt dài 3,55m.
Tài sản trên đất gồm: 01 ngôi nhà xây 03 tầng, tường xây 110mm, đổ trần
bê tông cốt thép, nền lát gạch ceramic diện tích 52,6m
2
; sân lát gạch diện tích
10,4m
2
.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số E 0342689, vào sổ cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số 1626 QSDĐ, theo QĐ số 399/QĐ-UB ngày 02/04/1997
của UBND tỉnh và do UBND tỉnh S cấp ngày 02/04/1997 cho bà Lương Thị Lan.
Ngày 22/07/2015 được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố S đăng
ký sang tên cho bà Phạm Thị Quỳnh N và ông Nguyễn Văn H theo hồ sơ chuyển
nhượng số 1047 ngày 20/07/2015: Thuộc thửa số 129 tờ bản đồ số 48; tổng diện
tích là 109.3m
2
, trong đó đất ở tại đô thị 97,0m
2
(diện tích nằm trên giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất được cấp là 91m
2
), đất trồng cây lâu năm 12,3m
2
(diện
tích không thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Địa chỉ thửa đất theo bìa
cấp năm 1995 tại: Tổ 15, phường Quyết Thắng, thành phố S, tỉnh S (thời điểm
xem xét thẩm định thuộc Tổ 2, phường Quyết Thắng, thành phố S, tỉnh S).
Trong đó: Diện tích đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là
91m
2
. Tứ cạnh cụ thể như sau:
Phía Bắc giáp rãnh nước chiều dài 18m.
Phía Đông giáp đất chưa được cấp giấy chứng nhận 5,4m.
Phía Tây giáp đất bà Nga dài 18m.
Phía Tây Nam giáp đường bê tông dân sinh dài 5,39m.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn
liền với đất số BP 773399 do UBND thành phố S cấp ngày 11/12/2014 thuộc thửa
số 9 tờ bản đồ số 21-10 (Nay được xác định là thửa đất số 127 tờ bản đồ số 48
theo tờ bản đồ địa chính): Tổng diện tích là 106,9m
2
, trong đó đất ở tại đô thị
90,4m
2
(diện tích nằm trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất), đất trồng cây lâu
năm 16,5m
2
(diện tích không thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Địa chỉ
thửa đất: Tổ 2, phường Quyết Thắng, thành phố S, tỉnh S.
Trong đó: Diện tích đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là
91m
2
. Tứ cạnh cụ thể như sau:
Phía Bắc giáp bà Lan (đã chuyển nhượng cho bà Nga) dài 16,86m.
Phía Đông giáp đất chưa được cấp giấy chứng nhận dài 5,37m.
20
Phía Tây giáp đất bà Mộc dài 16,86m.
Phía Nam giáp đường bê tông dân sinh dài 5,36m.
(Hình thể các thửa đất được thể hiện trong sơ đồ Trích đo thửa đất kèm theo
bản án).
+ Xe tải tự đổ, biển số 26C-064.09 thuộc quyền sở hữu của Công ty TNHH
HK S theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 012141 do Phòng Cảnh sát giao
thông Công an tỉnh S cấp ngày 11/10/2017, đăng ký lần đầu ngày 14/02/2017.
+ Xe tải tự đổ, biển số 26C-074.54 thuộc quyền sở hữu của Công ty TNHH
HK S theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 012430 do Phòng Cảnh sát giao
thông Công an tỉnh S cấp ngày 02/12/2017.
+ Xe tải tự đổ, biển số 26C-077.76 thuộc quyền sở hữu của Công ty TNHH
HK S theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 013419 do Phòng Cảnh sát giao
thông Công an tỉnh S cấp ngày 24/02/2018.
+ Xe tải tự đổ, biển số 26C-077.07 thuộc quyền sở hữu của Công ty TNHH
HK S theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 013420 do Phòng Cảnh sát giao
thông Công an tỉnh S cấp ngày 24/02/2018.
+ Xe tải tự đổ, Biển số 26C-074.27 thuộc quyền sở hữu của Công ty TNHH
HK S theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 012313 do Phòng Cảnh sát giao
thông Công an tỉnh S cấp ngày 22/11/2017.
+ Ô tô con, biển số 26A-044.99 thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Văn
H và bà Phạm Thị Quỳnh N theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 018168 do
Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh S cấp ngày 17/05/2019, cấp lần đầu ngày
06/06/2016.
+ Máy đào bánh lốp, biển số 26LA-0158 thuộc quyền sở hữu của Công ty
TNHH HK S theo Giấy chứng nhận đăng ký xe máy chuyên dùng số
73/2017/XMCD do Sở Giao thông vận tải tỉnh S cấp ngày 01/11/2017.
+ Máy đào bánh xích, biển số 26XA-0280 thuộc quyền sở hữu của Công ty
TNHH HK S theo Giấy chứng nhận đăng ký xe máy chuyên dùng số
74/2017/XMCD do Sở Giao thông vận tải tỉnh S cấp ngày 01/11/2017.
+ Máy đào bánh xích, biển số 26XA-0323 thuộc quyền sở hữu của Công ty
TNHH HK S theo Giấy chứng nhận đăng ký xe máy chuyên dùng số
78/2017/XMCD do Sở Giao thông vận tải tỉnh S cấp ngày 08/11/2017.
+ Xe lu rung, biển số 26SA-0091 thuộc quyền sở hữu của Công ty TNHH
HK S theo Giấy chứng nhận đăng ký xe máy chuyên dùng số 79/2017/XMCD do
Sở Giao thông vận tải tỉnh S cấp ngày 08/11/2017.
+ Xe lu rung, biển số 26SA-0094 thuộc quyền sở hữu của Công ty TNHH
HK S theo Giấy chứng nhận đăng ký xe máy chuyên dùng số 00002/2018/XMCD
21
do Sở Giao thông vận tải tỉnh S cấp ngày 22/01/2018.
+ Xe lu tĩnh bánh thép, biển số 26SA-0106 thuộc quyền sở hữu của Công
ty TNHH HK S theo Giấy chứng nhận đăng ký xe máy chuyên dùng số
00041/2020/XMCD do Sở Giao thông vận tải tỉnh S cấp ngày 24/11/2020.
+ lu tĩnh bánh thép, biển số 26SA-0107 thuộc quyền sở hữu của Công ty
TNHH HK S theo Giấy chứng nhận đăng ký xe máy chuyên dùng số
00042/2020/XMCD do Sở Giao thông vận tải tỉnh S cấp ngày 24/11/2020.
+ Máy đào bánh xích, biển số 26XA-0310 thuộc quyền sở hữu của Công ty
TNHH HK S theo Giấy chứng nhận đăng ký xe máy chuyên dùng số
00002CL/2019/XMCD do Sở Giao thông vận tải tỉnh S cấp ngày 23/05/2019.
Đối với tài sản đảm bảo là các động sản thì Ngân hàng A có quyền đề nghị
Cơ quan Thi hành án tiến hành kê biên, phát mại khi biết vị trí các động sản trên.
Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp không đủ để thi
hành khoản nợ thì Công ty TNHH MTV HK S có nghĩa vụ thanh toán hết số tiền
còn lại cho Ngân hàng A.
Trường hợp Công ty TNHH MTV HK S đã thực hiện xong nghĩa vụ thanh
toán tiền nợ gốc và lãi cho Ngân hàng A thì Ngân hàng có nghĩa vụ trả lại Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số
BT 452482, số vào sổ cấp GCN CH 00123, Quyết định số: 3293/QĐ-UBND ngày
04/11/2015 do UBND huyện M, tỉnh S cấp ngày 04/11/2015; Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BT 452483,
số vào sổ cấp GCN CH 00124, Quyết định số: 3292/QĐ-UBND ngày 04/11/2015
do UBND huyện M, tỉnh S cấp ngày 04/11/2015; Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BT 452484, số vào sổ cấp
GCN CH 00125, Quyết định số: 3294/QĐ-UBND ngày 04/11/2015 do UBND
huyện M, tỉnh S cấp ngày 04/11/2015; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BP 773399 do UBND thành phố S cấp
ngày 11/12/2014; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số E 0342689, vào sổ cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1626 QSDĐ, theo QĐ số 399/QĐ-UB ngày
02/04/1997 của UBND tỉnh và do UBND tỉnh S cấp ngày 02/04/1997 cho bà
Lương Thị Lan, ngày 22/07/2015 được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất
thành phố S đăng ký sang tên cho bà Phạm Thị Quỳnh N và ông Nguyễn Văn H
theo hồ sơ chuyển nhượng số 1047 ngày 20/07/2015 cho ông Nguyễn Văn H và
bà Phạm Thị Quỳnh N.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ngân hàng A không phải chịu án phí dân
sự phúc thẩm. Được trả lại số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 2.000.000đ (hai triệu
đồng) theo biên lai thu số 0000342 ngày 08/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh
S.
22
3. Các quyết định khác của bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm không
có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn
kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án (03/02/2026).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7
a
, 7
b
và
9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh S;
- VKSND khu vực 4 - S;
- Tòa án nhân dân khu vực 4 - S;
- Phòng THADS khu vực 4 - S;
- Thi hành án dân sự tỉnh S;
- Các đương sự;
- Phòng GĐ, TT, KTNV&THA;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Điêu Thị K
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Tòng Thị H Lại Thị H
THẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Điêu Thị K
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 06/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 05/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 05/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 04/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 31/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 27/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 26/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm