Bản án số 7/2026/HNGĐ-PT ngày 29/01/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 7/2026/HNGĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 7/2026/HNGĐ-PT ngày 29/01/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 7/2026/HNGĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/01/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chị Hằng kiện anh Phước ly hôn chia tài sản chung vợ chồng
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH VĨNH L Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 07/2026/HNGĐ-PT
Ngày: 29/01/2026
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con,
chia tài sản chung
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH L
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Triệu Hữu
Các Thẩm phán: Bà Sơn Nữ Phà Ca
Ông Vương Minh Tâm
- Thư phiên tòa: Huỳnh Thanh Thảo Thẩm tra viên chính Tòa án
nhân dân tỉnh Vĩnh L.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh L tham gia phiên tòa: Bà Trần
Thị Kim Ngân - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 01 m 2026, tại Trụ sở a án nhân dân tỉnh Vĩnh L xét xử
phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 60/TLPT HNGĐ
ngày 19/12/2025 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con, chia tài sản chung” .
Do Bản án Hôn nhân gia đình thẩm số: 80/2025/HNGĐ-ST ngày 09
tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Vĩnh L bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 10/2025/QĐ-PT ngày 09
tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thi Thúy H, sinh năm: 1986; Địa chỉ: ấp P, xã
H, tỉnh Vĩnh L: có mặt
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Phạm Văn H - Văn phòng
Luật sư Phạm Văn H, Đoàn Luật sư tỉnh V: có mặt
2. Bị đơn: Anh Huỳnh Tấn P, sinh năm: 1982; Địa chỉ: ấp H, H, tỉnh Vĩnh
L: vắng mặt
Đại diện theo ủy quyền:Huỳnh Thanh K, sinh năm 1979. Địa chỉ: ấp H,
xã H, tỉnh Vĩnh L: có mặt
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp: Luật sư Trần Minh Hoan H- Văn
phòng L, Đoàn luật sư tỉnh V: có mặt
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Lữ Thị L, sinh năm: 1957: vắng mặt;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Tấn L, sinh năm: 1985.
3.2. Ông Huỳnh Văn L, sinh năm: 1970: vắng mặt;
2
3.3. Anh Huỳnh Tấn L, sinh năm: 1985: có mặt.
Cùng địa chỉ: ấp H, xã H, tỉnh Vĩnh L.
3.4. Ngân hàng N.
Địa chỉ trụ sở chính: Số B, L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V, chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Thanh L, chức vụ: Giám đốc phòng
G: vắng mặt
4. Người kháng cáo: Bị đơn Huỳnh Tấn P người quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan Lữ Thị L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng
như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thúy H trình bày:
- Về hôn nhân: Hôn nhân giữa chị H và anh P hình thành do quen biết, được
sự chấp thuận của cha mẹ hai bên, chung sống với nhau vào năm 2007 và đăng
ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H vào ngày 29/05/2007. Vợ chồng sống hạnh
phúc đến khoảng năm 2020 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ
chồng không hợp tính tình, bất đồng quan điểm sống nên tình cảm vợ chồng lạnh
nhạt, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Vợ chồng sống ly thân từ đầu năm
2024 cho đến nay.
Nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, cuộc sống hôn nhân không
đạt, đời sống chung không thể kéo dài nên chị H yêu cầu ly hôn với anh Huỳnh
Tấn P.
- Về con chung: 01 con chung tên Huỳnh Tố N, sinh ngày 28/01/2008.
Khi ly hôn, chị H yêu cầu nuôi dưỡng cháu Huỳnh Tố N và không yêu cầu anh P
cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung của vợ chồng gồm có :
+ Thửa đất số 260, tờ bản đồ số 6, diện tích 1.526,6m
2
, thửa đất số 289,
tờ bản đồ số 6, diện tích 1.105,3m
2
, cùng loại đất chuyên trồng lúa nước, do anh
Huỳnh Tấn P đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tọa lạc tại ấp H, H,
huyện V, tỉnh Vĩnh L (nay là ấp H, xã H, tỉnh Vĩnh L).
Chị H thống nhất giá đất theo biên bản định gtài sản ngày 09/4/2025
Hội đồng định giá xác định là đất lúa giá 100.000đ/m
2
. Khi ly hôn, chị H đồng ý
giao phần đất thửa 289 và thửa 260 cho anh P quản lý sử dụng và yêu cầu anh P
thanh toán ½ giá trị đất của 02 thửa đất nêu trên cho chị H số tiền
131.595.000đồng.
+ Một chiếc xe biển số 64D1-710.83 mua vào năm 2022, do anh P
đứng tên chủ sở hữu, chị H thống nhất giá trị sdụng còn lại của chiếc xe
70.800.000đồng. Khi ly hôn chị H đồng ý giao chiếc xe biển số 64D1-
710.83 cho anh P quản sử dụng, chị H yêu cầu anh P thanh toán lại ½ giá trị
3
chiếc xe là 35.400.000đồng.
+ Nhà công trình vật kiến trúc theo biên bản định giá tài sản ngày
09/4/2025 mà Hội đồng định giá đã xác định380.485.000đồng, xây dựng trên
phần đất thửa 261, tờ bản đồ số 6, diện tích chung 1.246,9m
2
(trong đó đất
300,0m
2
, đất trồng cây lâu năm 946,9m
2
), tọa lạc tại xã H, huyện V, tỉnh Vĩnh L
do Lữ Thị L đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi ly hôn chị H
đồng ý giao nhà ở, công trình vật kiến trúc nằm trên phần đất thửa 261 cho anh P
quản sử dụng, chị H yêu cầu anh P thanh toán lại ½ giá trị căn nhà cho chị H
với số tiền 190.242.000đồng.
Về phần đất thửa 261 thì chị H không tranh chấp, đồng ý giao lại cho bà Lữ
Thị L quản lý, sử dụng.
+ Chị H rút lại yêu cầu chia phần đất thửa 42, tờ bản đồ số 7, diện tích
1.351,7m
2
, đất chuyên trồng lúa nước, tọa lạc tại ấp H, xã H, huyện V, tỉnh Vĩnh
L do ông Huỳnh Văn L đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vì giữa chị
H anh P, ông L đã tự thỏa thuận giải quyết xong, không yêu cầu Tòa án giải
quyết.
+ Năm 2022, chị H anh P gửi tiền tiết kiệm tại Ngân hàng N1, chi
nhánh V1, phòng G1 (nay phòng G) số tiền 180.000.000đồng, số tiền này chị
H đã rút và sử dụng hết để lo chi phí ăn, học cho cháu N và lo chi phí trồng cam,
chi tiêu trong gia đình, anh P ng biết. Nay anh P yêu cầu chia đôi số tiền nêu
trên thì chị H không đồng ý.
- Về các khoản nợ chung của vchồng: Chị H không yêu cầu Tòa án giải
quyết.
Trong đơn khởi kiện phản tố và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án
bị đơn anh Huỳnh Tấn P trình bày:
- Về hôn nhân: Anh P thống nhất theo lời trình bày của chị H về mối quan
hệ hôn nhân, về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng. Nay anh P đồng ý ly hôn với
chị Nguyễn Thị Thúy H.
- Về con chung: Có một con chung tên Huỳnh Tố N, sinh ngày 28/01/2008.
Khi ly hôn, anh P đồng ý giao cháu N cho chị H nuôi dưỡng và anh P không phải
cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung của vợ chồng gồm có :
+ Một chiếc xe mô tô biển số 64D1-710.83 mua vào năm 2022, anh P thống
nhất trị g70.800.000đồng, khi ly hôn anh P đồng ý nhận chiếc xe mô tô biển số
64D1-710.83 đồng ý thanh toán cho chị H ½ giá trị chiếc xe 35.400.000đồng.
+ Nhà công trình vật kiến trúc theo biên bản định giá tài sản ngày
09/4/2025 mà Hội đồng định giá đã xác định380.485.000đồng, xây dựng trên
phần đất thửa 261, tờ bản đồ số 6, diện tích chung là 1.246,9m
2
, tọa lạc tại xã H,
huyện V, tỉnh Vĩnh L do Lữ Thị L đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất.
4
Khi ly hôn, anh P yêu cầu giao căn nhà cho chị H quản lý sử dụng và chị H
phải thanh toán lại ½ giá trị căn nhà cho anh P.
Về phần đất thửa 261 thì anh P không tranh chấp, đồng ý giao trả lại cho bà
Lữ Thị L quản lý, sử dụng. L ý kiến đồng ý giao lại phần đất gắn liền tài
sản trên đất gồm nhà ở và công trình vật kiến trúc trên thửa đất 261 cho người nào
quản lý, sử dụng thì nghĩa vụ thanh toán lại cho L số tiền 200.000.000đồng,
anh P thống nhất theo ý kiến bà L.
+ Anh P rút lại yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu vô hiệu hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất với ông Huỳnh Văn L tại phần đất thửa 42, tờ bản đồ
số 7, diện tích 1.351,7m
2
, đất chuyên trồng lúa nước, tọa lạc tại ấp H, xã H, huyện
V, tỉnh Vĩnh L do ông Huỳnh Văn L đứng tên giấy chứng nhận quyền sdụng đất
vì giữa anh và chị H, ông L đã tự thỏa thuận giải quyết xong, không yêu cầu Tòa
án giải quyết.
+ Vào năm 2022, anh chị H gửi tiền tiết kiệm tại Ngân hàng N1, chi
nhánh V1, phòng G1 (nay phòng G), số tiền gửi 180.000.000 đồng, hiện số tiền
này do chị H đang quản lý. Nay anh P yêu cầu chia đôi số tiền này, đồng ý chia
cho chị H nhận số tiền 90.000.000 đồng yêu cầu chị H giao lại cho anh P số
tiền 90.000.000đồng do chH đang quản lý.
+ Đối với phần đất thửa 260, tờ bản đồ số 6, diện tích 1.526,6m
2
, loại đất
chuyên trồng lúa nước thửa đất số 289, tờ bản đồ số 6, diện ch 1.105,3m
2
,
loại đất chuyên trồng lúa nước do anh Huỳnh Tấn P đứng tên quyền sử dụng đất,
thì nguồn gốc thửa đất 260 và thửa 289 của cha, mẹ cho riêng anh. Anh P không
đồng ý chia theo yêu cầu của chị H đây là tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân.
- Về các khoản nợ chung của vợ chồng: Anh P không yêu cầu Tòa án giải
quyết
Trong đơn khởi kiện độc lập và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án
cũng như tại phiên tòa sơ thẩm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lữ Thị
L trình bày:
Lữ Thị L đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích
1.246,9m
2
(trong đó đất 300,0m
2
, đất trồng cây lâu năm 946,9m
2
), tại thửa 261,
tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại H, huyện V, tỉnh Vĩnh L. Khoảng năm 2013, L
cho anh P, chị H cất nhà cấp 4 ở nhờ trên phần đất này đến khoảng năm 2016 thì
cho anh P y nhà tường cấp 4, mái lợp tol, lót gạch men. Anh P và chị H ly hôn
thì L yêu cầu anh P, chH phải trả lại cho L phần đất 1.246,9m
2
, tại thửa
261, tờ bản đồ số 6.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Văn L trình bày:
Phần đất thửa 42, diện tích 1.351,7m
2
, đất chuyên trồng lúa nước, tọa lạc tại
ấp H, H, huyện V, tỉnh Vĩnh L do ông Huỳnh Văn L đứng tên giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất. Hiện giữa ông L và chị H, anh P đã tự nguyện thỏa thuận giải
quyết xong, không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông L không
5
có ý kiến và yêu cầu gì trong vụ án này.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng N1 do ông Trần Thanh
L3 đại diện trình bày:
Phần đất thửa 42, tờ bản đồ số 7, diện tích 1.351,7m
2
, đất chuyên trồng lúa
nước, tọa lạc tại ấp H, xã H, huyện V, tỉnh Vĩnh L do ông Huỳnh Văn L đứng tên
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vay thuế chấp tại Ngân hàng N1, phòng
G1 (nay là phòng G).
Anh P chị H tự nguyện rút yêu cầu khởi kiện đối với phần đất thửa 42,
diện tích 1.351,7m
2
do ông L đứng tên quyền sử dụng đất, không yêu cầu chia tài
sản chung của vợ chồng, không tranh chấp nên Ngân hàng không ý kiến yêu
cầu gì trong vụ án này.
Tại Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 80/2025/ DS-ST ngày 09 tháng
9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Vĩnh L đã quyết định:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị
Thúy H.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Thúy H được ly hôn với
anh Huỳnh Tấn P.
2. Về con chung: Giao con chung Huỳnh Tố N, sinh ngày 28/01/2008
cho chị Nguyễn Thị Thúy H đưc trc tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi ng,
giáo dc. Anh Hunh Tn P không phi cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung
không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom
để cản trở gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo
dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm
nom con của người đó.
3. Về tài sản chung của vợ chồng:
3.1 Giao cho anh Huỳnh Tấn P được quyền quản lý, sử dụng 01 chiếc xe mô
biển số 64D1-710.83 do anh Huỳnh Tấn P đứng tên chủ sở hữu. Buộc anh
Huỳnh Tấn P thanh toán cho chị Nguyễn Thị Thúy H số tiền 35.400.000 đồng (Ba
mươi lăm triệu bốn trăm ngàn đồng).
3.2 Giao cho anh Huỳnh Tấn P được quyền quản lý, sử dụng nhà ở, công
trình vật kiến trúc nằm trên phần đất diện tích 300m
2
(trong đó có 100m
2
đất ở và
200m
2
đất trồng cây lâu năm), thuộc chiết thửa 261, tờ bản đồ s6, nằm trong
diện tích chung 1.246,9m
2
,
tọa lạc tại ấp H, H, tỉnh Vĩnh L do LThị L
đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Buộc anh Huỳnh Tấn P thanh toán cho chị Nguyễn Thị Thúy H số tiền
190.242.000đồng (Một trăm chín mươi triệu hai trăm bốn mươi hai ngàn đồng).
Chấp nhận yêu cầu của bà Lữ Thị L. Buộc bà Lữ Thị L chuyển nhượng phần
đất diện tích 300m
2
(trong đó 100m
2
đất và 200m
2
đất trồng cây lâu năm)
gắn liền nhà công trình vật kiến trúc thuộc chiết thửa 261, tờ bản đồ số 6,
6
nằm trong diện tích chung 1.246,9m
2
,
tọa lạc tại ấp H, xã H, tỉnh Vĩnh L cho anh
Huỳnh Tấn P.
Anh Huỳnh Tấn P trách nhiệm liên hệ với quan Nhà nước thẩm
quyền để thực hiện đầy đủ các thủ tục cấp quyền sử dụng đất theo quy định của
pháp luật về đất đai.
Buộc anh Huỳnh Tấn P nghĩa vụ trả cho Lữ Thị L giá trị đất số tiền
200.000.000đồng (Hai trăm triệu đồng).
3.3 Giao cho anh Huỳnh Tấn P quản lý, sử dụng phần đất thửa 289, tbản
đồ số 6, diện tích 1.105,3m
2
, loại đất chuyên trồng lúa nước, do anh Huỳnh Tấn
P đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tọa lạc tại ấp H, xã H, tỉnh Vĩnh
L. Anh Huỳnh Tấn P được quyền quản lý, sử dụng toàn bộ cây trồng trên đất.
Buộc anh Huỳnh Tấn P có nghĩa vụ thanh toán cho chị Nguyễn Thị Thúy H
số tiền 55.265.000 đồng (Năm mươi lăm triệu hai trăm sáu mươi lăm ngàn đồng).
3.4 Bác yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thúy H về việc yêu cầu chia
phần đất thửa đất số 260, tờ bản đồ số 6, diện tích 1.526,6m
2
, loại đất chuyên
trồng lúa nước do anh Huỳnh Tấn P đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
tọa lạc tại ấp H, xã H, tỉnh Vĩnh L.
(Kèm theo trích đo bản đồ địa chính khu đất của Chi nhánh Văn phòng đăng
ký đất đai huyện V)
3.5 Bác yêu cầu khởi kiện của anh Huỳnh Tấn P về việc yêu cầu chia tài sản
chung là số tiền gửi tiết kiệm 180.000.000đồng (Một trăm tám mươi triệu đồng).
3.6 Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thúy H anh Huỳnh
Tấn P đối với phần đất thửa 42, tờ bản đồ số 7, diện tích 1.351,7m
2
, đất chuyên
trồng lúa nước, tọa lạc tại ấp H, xã H, tỉnh Vĩnh L do ông Huỳnh Văn L đứng tên
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
4. Về nợ chung của vợ chồng: chị Nguyễn Thị Thúy H và anh Huỳnh Tấn P
thống nhất xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, nghĩa vụ thi hành án
quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 18 tháng 9 năm 2025, bị đơn Huỳnh Tấn P
người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Lữ Thị L kháng cáo bản án thẩm như
sau:
1. Anh Huỳnh Tấn P yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa một phần bản án sơ
thẩm theo hướng công nhận thửa đất 289 tài sản riêng của anh P; chia hai số
tiền gửi tiết kiệm 180.000.000 đồng; định giá lại căn nhà của anh P chị H xây
dựng năm 2016; miễn giảm tiền án phí thẩm do anh P bị bệnh hạn chế năng
lực hành vi dân sự.
2. Bà Lữ Thị L yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa một phần bản án sơ thẩm
theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của bà.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn trình bày: Vẫn giữ nguyên yêu cầu
7
khởi kiện. Không đồng ý yêu cầu kháng cáo. Đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị đơn do người đại diện theo ủy quyền trình bày: Anh P kháng cáo yêu cầu
công nhận thửa số 289, diện tích 1.105,3m
2
, loại đất chuyên trồng lúa nước là tài
sản riêng của anh P do được tặng cho riêng. Yêu cầu chị H trả lại ½ số tiền
180.000.000 đồng là tiền tiết kiệm của vợ chồng do chị H tự ý rút sử dụng. Yêu
cầu định giá lại căn nhà vì theo định giá có giá trị cao. Rút lại yêu cầu kháng cáo
xin miễn, giảm án phí.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lữ Thị L do người đại diện theo ủy
quyền trình bày: Yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, không buộc L phải chuyển
nhượng đất. Bà L đồng ý để căn nhà của anh P và chị H tồn tại trên đất và đồng ý
để anh P sở hữu nhà, quyền sử dụng đất gắn liền nhà để L anh P tự thỏa
thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong phần tranh tụng, các đương sự thống nhất:
Bị đơn, anh P rút một phần yêu cầu kháng cáo về giá trị căn nhà và yêu câu
xin miện giảm án phí. Các đương sự đồng ý với kết quả xem xét thẩm định tại
chỗ, đo đạc, định giá theo bản án thẩm. Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
thay đổi yêu cầu kháng cáo. Đồng ý để tồn tại căn nhà cho anh P quản lý sử dụng,
bà L và anh P tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết về đất gắn liền căn
nhà giao cho anh P.
Vấn đkhông thống nhất: Anh P không đồng ý chia tài sản chung bằng giá
trị đất thửa 289 yêu cầu chị H trả lại 90.000.000 đồng phân nửa số tiền
180.000.000 đồng tiền tiết kiệm của vợ chồng do chị H đã rút ra sử dụng sau
khi nộp đơn ly hôn nhưng chH không đồng ý.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của đương sự đề nghị chấp nhận
yêu cầu của đương sự.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố
tụng là đảm bảo theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến
khi xét xử phúc thẩm.
Về việc giải quyết vụ án: Thửa đất số 289 tài sản riêng của anh P nhưng
chị H công sức đóng góp nên buộc anh P trả giá trị công sức đóng góp cho chị
H bằng 20% giá trị quyền sử dụng đất.
Căn cứ Điều 289, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự. Đình chỉ xét
xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo do bị đơn đã rút. Chấp nhận một phần
yêu cầu kháng cáo của anh P. Chấp nhận kháng cáo của bà L. Sửa bản án dân sự
sơ thẩm theo hướng công nhận thửa đất số 289 là tài sản riêng của anh P và buộc
anh P trả công sức đóng góp cho chị H bằng 20% giá trị quyền sử dụng đất. Buộc
chị H phải giao lại cho anh P 50% số tiền 180.000.000 đồng tiền gửi ngân hàng
của vợ chồng do chị H đã tự rút sau khi nộp đơn ly hôn.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn phát biểu về án phí dân sự phúc thẩm.
8
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa; trên cơ sở xem xét toàn diện các chứng cứ; ý kiến trình bày của các đương
sự; căn cứ vào kết quả tranh luận phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên
tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn người quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan là hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về việc thay đổi và rút một phần yêu cầu kháng cáo không vượt quá phạm
vi kháng cáo ban đầu nên đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo
do bị đơn đã rút tại phiên tòa.
[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan. Hội đồng xét xử xét thấy:
Theo văn bản số 01/TA-NHNoVLi ngày 21/11/2024, Ngân hàng N1 chi
nhánh huyện V1 xác định ngày 28/9/2022, chị H gửi số tiền 180.000.000 đồng và
đã rút tiền vào ngày 22/7/2024. Tại phiên tòa, chị H xác định đã ly thân với anh P
trước thời điểm khởi kiện ngày 22/7/2024 cũng chính ngày đơn khởi kiện
của chị H được Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý vụ án. Do vậy, việc chị H trình bày đã
rút tiền trong thời gian chung sống vợ chồng để sử dụng cho mục đích chung của
gia đình nhưng không chứng cứ chứng minh nên không đủ cơ sở để được chấp
nhận.
Đối với yêu cầu xác định quyền sử dụng đất thửa 289 là quyền tài sản riêng
của anh P không sở chấp nhận do đã được bà L tặng cho trên thực tế từ
năm 2008 sau khi anh P, chị H kết hôn, đã được các bên thừa nhận nên là tài sản
trong thời kỳ hôn nhân không văn thỏa thuận vợ chồng về việc xác lập tài
sản riêng. Tại phiên tòa, phía bà L thừa nhận việc hợp đồng tặng cho ngày
09/11/2021 (BL 129) giữa L cho anh P cũng mục đích để cho anh P, chị L
được đoàn tụ nên hợp đồng này chỉ để hợp thức quyền sử dụng đất đã được bà L
tặng cho chung cho vợ chồng anh P, chị L trong thời kỳ hôn nhân là phù hợp với
ý chí của các bên.
Đối với kháng cáo của L về việc không đồng ý chuyển nhượng đất nán
sơ thẩm quyết định mà đồng ý căn nhà giao cho anh P tồn tại trên đất để bà L
anh P tự thỏa thuận về quyền sử dụng đất gắn liền căn nhà. Chị H cũng đồng ý
với yêu cầu này của bà L nên kháng cáo của bà L và thỏa thuận của đương sự về
nội dung này là có cơ sở chấp nhận.
[3] Căn cứ pháp lý đánh giá chứng cứ như đã nhận định trên sở để
chấp nhận hoặc không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn,
yêu cầu kháng cáo của bị đơn, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, quan điểm
của Luật đại diện Viện kiểm sát. Sửa bản án thẩm theo nhận định nêu
trên.
[4] V án phí:
9
[4.1] Án phí dân s sơ thẩm:
Nguyên đơn, bị đơn phải chu án phí có giá ngạch tương ng vi giá tr tài
sn chung v chồng được chia như án sơ thẩm đã xác định, anh P và ch H, mi
ngưi còn phi chịu thêm án phí đi vi s tiền 90.000.000 đồng được chia. C
th ch H phi chu án phí ly hôn không có giá ngạch là 300.000đ và án phí chia
tài sản chung: 14.045.000đ + (90.000.000đ x 5%) = 18.545.000đ, tng cng
18.845.000đ nhưng đưc khu tr vào tin tm ứng án phí đã nộp 9.063.000đ
theo Biên lai s 009279 ngày 22/7/2024 và 300.000đ theo Biên lai s 009324
ngày 11/9/2024 ca Phòng thi hành án dân s khu vc 4. Ch H còn phi np
thêm 9.482.000 đồng (Chín triu bốn trăm tám mươi hai nghìn đồng).
Anh Hunh Tn P phi chu án phí chia tài sản chung: 23.236.000đ +
(90.000.000đ x 5%) = 27.736.000đ nhưng được khu tr vào tin tm ng án phí
đã nộp 3.300.000đ theo Biên lai thu s 009443 ngày 15/10/2024 ca Phòng thi
hành án khu vc 4. Anh P còn phi np thêm 24.436.000 đồng (Hai mươi bốn
triu bốn trăm ba mươi sáu nghìn đồng)
Bà L người cao tuổi nên đã được min np tin tm ng án phí và không
phi chu án phí dân s sơ thẩm.
[4.2] Án phí dân s phúc thẩm: Người kháng cáo không phi chu. Hoàn tr
li cho anh P tin tm ng án phí dân s phúc thẩm đã nộp.
Các quyết định khác của bản án thẩm về việc ly hôn; con chung; không
chấp nhận yêu cầu chia tài sản đối với thửa 260, tờ bản đồ s 6, diện tích
1.526,6m
2
; đình chỉ yêu cầu tài sản chung đất thửa 42, tờ bản đồ số 7, diện tích
1.351,7m
2
do đã rút khởi kiện; nợ chung; chi phí đo đạc, định giá không kháng
cáo, không bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xét và hiệu lực pháp luật
kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các l trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 289 của Bộ luật tố tụng dân sự. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với
yêu cầu kháng cáo do bị đơn Huỳnh Tấn P đã rút tại phiên tòa về việc yêu cầu
định giá lại căn nhà và miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Căn cứ Điều 300, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự. Chấp nhận một
phần kháng cáo của bị đơn Huỳnh Tấn P. Chấp nhận kháng cáo của người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lữ Thị L. Sửa một phần bản án Hôn nhân gia
đình thẩm số 80/2025/HN-ST ngày 09/9/2025 của Tòa án nhân dân khu
vực 4 – Vĩnh L.
Áp dụng các Điều 33, 43, khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều
83 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 27, Điều 29 ca Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
10
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Thúy
H. Chia tài sản chung vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Thúy H và anh Huỳnh Tấn
P cụ thể như sau:
1.1 Giao cho anh Huỳnh Tấn P được quyền quản lý, sử dụng 01 chiếc xe mô
biển số 64D1-710.83 do anh Huỳnh Tấn P đứng tên chủ sở hữu. Buộc anh
Huỳnh Tấn P thanh toán cho chị Nguyễn Thị Thúy H số tiền 35.400.000 đồng (Ba
mươi lăm triệu bốn trăm nghìn đồng).
1.2 Giao cho anh Huỳnh Tấn P được quyền quản lý, sử dụng nhà ở, công
trình vật kiến trúc gắn liền phần đất thuộc chiết thửa 261, tờ bản đồ số 6 diện tích
1.246,9m
2
,
tọa lạc tại ấp H, xã H, tỉnh Vĩnh L do Lữ Thị L đứng tên giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất.
Buộc anh Huỳnh Tấn P thanh toán cho chị Nguyễn Thị Thúy H số tiền
190.242.000đồng (Một trăm chín mươi triệu hai trăm bốn mươi hai nghìn đồng).
Công nhận sự thỏa thuận của đương sự về việc bà Lữ Thị L đồng ý cho anh
Huỳnh Tấn P tiếp tục quản lý, sử dụng nhà công trình vật kiến trúc thuộc
chiết thửa 261, tờ bản đồ số 6, trong diện tích chung 1.246,9m
2
,
tọa lạc tại ấp H,
xã H, tỉnh Vĩnh L. Về quyền sử dụng đất gắn liền căn nhà và công trình, vật kiến
trúc trên đất do Lữ Thị L anh Huỳnh Tấn P tự thỏa thuận, không yêu cầu
tòa án giải quyết.
1.3. Giao cho anh Huỳnh Tấn P quản lý, sử dụng phần đất thửa 289, tbản
đồ số 6, diện tích 1.105,3m
2
, loại đất chuyên trồng lúa nước, do anh Huỳnh Tấn
P đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tọa lạc tại ấp H, xã H, tỉnh Vĩnh
L. Anh Huỳnh Tấn P được quyền quản lý, sử dụng toàn bộ cây trồng trên đất.
Buộc anh Huỳnh Tấn P có nghĩa vụ thanh toán cho chị Nguyễn Thị Thúy H
số tiền 55.265.000 đồng (Năm mươi lăm triệu hai trăm sáu mươi lăm ngàn đồng).
(Kèm theo trích đo bản đồ địa chính khu đất của Chi nhánh Văn phòng đăng
ký đất đai huyện V)
1.4. Chấp nhận yêu cầu của anh Huỳnh Tấn P về việc chia tài sản chung
số tiền gửi tiết kiệm 180.000.000đồng (Một trăm tám mươi triệu đồng). Buộc chị
Nguyễn Thị Thúy H nghĩa vụ trả lại cho anh P số tiền 90.000.000đ (chín mươi
triệu đồng)
1.5. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho
đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án
còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy
định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí:
2.1. Án phí dân sự sơ thẩm:
2.1.1. Ch Nguyn Th Thúy H phi chu án phí ly hôn không có giá ngch
300.000đ và án phí chia tài sản chung 18.845.000đ nhưng được khu tr vào
11
tin tm ứng án phí đã nộp 9.063.000đ theo Biên lai s 009279 ngày 22/7/2024
và 300.000đ theo Biên lai số 009324 ngày 11/9/2024 ca Phòng thi hành án dân
s khu vc 4. Ch H còn phi np thêm s tiền 9.482.000 đồng (Chín triu bn
trăm tám mươi hai nghìn đồng).
2.1.2. Anh Hunh Tn P phi chu án phí chia tài sản chung: 27.736.000đ
nhưng được khu tr vào tin tm ứng án phí đã nộp 3.300.000đ theo Biên lai
thu s 009443 ngày 15/10/2024 ca Phòng thi hành án khu vc 4. Anh P còn
phi np thêm s tiền 24.436.000 đồng (Hai mươi bốn triu bn trăm ba mươi
sáu nghìn đồng)
2.1.3. Bà L Th L người cao tuổi nên đã được min np tin tm ng án
phí và không phi chu án phí dân s thẩm.
2.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo không phi chu án phí dân
s phúc thm. Hoàn tr li cho anh Hunh Tn P 300.000 đồng (ba trăm nghìn
đồng) tin tm ng án phí dân s phúc thẩm đã nộp theo biên lai s 0002919
ngày 19/9/2025 ca Thi hành án dân s tnh Vĩnh L.
3. Các quyết định khác của bản án thẩm về việc ly hôn; con chung; không
chấp nhận yêu cầu chia tài sản đối với thửa 260, tờ bản đồ s 6, diện tích
1.526,6m
2
; đình chỉ yêu cầu tài sản chung đất thửa 42, tờ bản đồ số 7, diện tích
1.351,7m
2
do đã rút khởi kiện; nợ chung; chi phí đo đạc, định giá không kháng
cáo, không bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xét và hiệu lực pháp luật
kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bn án phúc thm có hiu lc pháp lut k t ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật
Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
- Chánh án;
- VKSND tỉnh Vĩnh L;
- TAND Khu vực 4 -Vĩnh L;
- VKSND Khu vực 4- Vĩnh L;
- THADS tỉnh Vĩnh L;
- Phòng THADS KV4-Vĩnh L;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lâm Triệu Hữu
Tải về
Bản án số 7/2026/HNGĐ-PT Bản án số 7/2026/HNGĐ-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 7/2026/HNGĐ-PT Bản án số 7/2026/HNGĐ-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất