Bản án số 05-2026/2026/KDTM-PT ngày 30/01/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về các tranh chấp trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 05-2026/2026/KDTM-PT

Tên Bản án: Bản án số 05-2026/2026/KDTM-PT ngày 30/01/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về các tranh chấp trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng
Quan hệ pháp luật: Các tranh chấp trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 05-2026/2026/KDTM-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/01/2026
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Buộc Công ty TNHH Đ trả ngay cho A2 tổng số nợ còn thiếu tính đến ngày 03/07/2024 là 303.416.326 đồng (Bằng chữ
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH ĐẮK LẮK Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 05/2026/KDTM-PT
Ngày: 30 -01- 2026
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng và tranh chấp
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị My My
Các Thẩm phán: Bà Đinh Thị Tuyết
Lưu Thị Thu Hường
- Thư ký phiên toà: Bà Thị Hồng Phúc - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh
Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk: Phan Thị Ngọc Châu
- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 30 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét
xử phúc thẩm công khai vụ án Kinh doanh thương mại thụ số: 05/2025/TLPT-
KDTM ngày 06 tháng 10 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng tranh
chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do bản án Kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2025/KDTM-ST ngày
15/5/2025 của Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk, nay là Tòa án
nhân dân khu vực 2 Đắk Lắk bnguyên đơn đơn Ngân hàng TMCP Á kháng
cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xphúc thẩm thẩm số 14/2025/QĐ-PT
ngày 04/12/2025 Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2025/QĐ-PT ngày
30/12/2025, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Á (A2)
- Địa chỉ: D N, phường B, Tp ..
Đại diện theo pháp luật: Ông Từ Tiến P Chức vụ: Tổng giám đốc - Ngân
hàng TMCP Á.
Đại diện khởi kiện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đình L Chức vụ: Phó
Giám đốc phòng quản lý nA2;
Đại diện tham gia tố tụng theo ủy quyền: Nguyễn Thị Cẩm V Chức
vụ: Nhân viên quản lý nợ A2, có mặt.
2
Địa chỉ: 152-154-156 Y, phường B, tỉnh Đắk Lắk.
* Bị đơn: Công ty TNHH Đ
Đại diện theo pháp luật: Ông Dương Minh T Chức vụ: Giám đốc.
Địa chỉ: Số A, thôn C, xã E, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.
* Người quyền lợi nghĩa vliên quan yêu cầu độc lập: Ông
Trần Văn V1, sinh năm 1958 và bà Nông Thị S, sinh năm 1958
Đại diện theo ủy quyền của bà Nông Thị S1: Ông Trần Văn V1, có mặt
Trú tại: Thôn A, xã E, tỉnh Đắk Lắk.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho ông Trần Văn V1, Nông
Thị S: Bà Nguyễn Thị Thu T1 Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm trợ giúp
pháp lý nhà nước tỉnh Đ, có mặt.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Dương Minh T, sinh năm 1969 và bà Nông Thị Hồng H, sinh
năm 1975
Trú tại: Thôn T, xã X, tỉnh Khánh Hòa, đều vắng mặt.
- Ủy ban nhân dân xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hữu T2 chức vụ: Chủ tịch UBND
xã, có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, Nguyễn Thị Cẩm V trình
bày:
Ngân hàng TMCP Á (A2) cấp tín dụng cho Công ty TNHH Đ căn cứ theo
Hợp đồng tín dụng hạn mức Số BMT.DN.05170113 ngày 17/01/2013.
Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số DAL.DN.051701 13/SĐBS-01 ngày
30/01/2013: về việc sửa đổi bổ sung điều khoản số tiền vay biện pháp bảo đảm.
Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số DAL.DN.05170113/SĐBS-02 ngày 26/02/2013: về
việc sửa đổi bổ sung điều khoản số tiền vay biện pháp bảo đảm, chi tiết như
sau:
Hạn mức tín dụng cho vay: Ngày 17/01/2013 110.000.000 đồng; Ngày
30/01/2013 là 2.250.000.000 đồng; Ngày 26/02/2013 là 450.000.000 đồng.
Mục đích cho vay: Bổ sung vốn lưu động và phát hành bảo lãnh trong nước
phục vụ hoạt động kinh doanh mua bán vật liệu xây dựng.
Phương thức cho vay: Cho vay theo hạn mức tín dụng.
Phương thức giải ngân được quy định trong từng Khế ước nhận nợ cụ thể:
3
Thời hạn cho vay: Được ghi trên mỗi Khế ước nhận nợ và tối đa không quá
06 tháng. Lãi suất trong hạn: Được quy định trong từng Khế ước nhận nợ cụ thể:
Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn; Lãi suất phạt chậm trả lãi 10%/năm.
Để thực hiện Hợp đồng tín dụng nêu trên, A2 đã giải ngân cho Công ty
TNHH Đ bằng hai Khế ước nhận nợ như sau:
Số BMT.DN.05170113/01. Số tham chiếu: 153284649. Ngày 18/01/2013,
số tiền giải ngân là 110.000.000 đồng. Thời hạn cho vay từ ngày 18/01/2013 đến
ngày 18/7/2013. Lãi suất trong hạn: 15,25 %/năm, cố định trong thời hạn 06 tháng
đầu tiên. Lãi suất sau đó được điều chỉnh 03 tháng/lần theo công thức sau: i
suất cho vay (%/năm) = LS13 + 5.2%/năm + 0.3%/năm + Lãi suất quá hạn: 150%
lãi suất trong hạn. Lãi suất phạt chậm trả: 10%/năm.
Số BMT.DN.05170113/02. Số tham chiếu: 153961599. Ngày 30/01/2013,
số tiền giải ngân 2.140.000.000 đồng. Thời hạn cho vay từ ngày 30/01/2013
đến ngày 30/7/2013. Lãi suất trong hạn: 14,71 %/năm, cố định trong thời hạn 03
tháng đầu tiên. Lãi suất sau đó được điều chỉnh 03 tháng/lần theo công thức sau:
Lãi suất cho vay (%/năm) = LS13 + 5.66%/năm + 0.3%/năm + Lãi suất quá hạn:
150% lãi suất trong hạn. Lãi suất phạt chậm trả: 10%/năm.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, Công ty TNHH Đ đã trả nợ
cho ngân hàng A2 theo các hạn mức tín dụng, nên ngân hàng A2 đã giải chấp trả
lại cho Công ty TNHH Đ 02 tài sản thế chấp gồm: Giấy chứng nhận QSD đất số
U 183354 do UBND thành phố B cấp ngày 15/4/2002 giấy chứng nhận QSD
đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất số BB 221624 do UBND huyện
B cấp ngày 22/6/2010.
nợ chưa trả. Tính đến ngày 03/07/2024, Công ty TNHH Đ còn nợ ngân
hàng A2 theo các khế ước nhận nợ sau:
1. Khế ước nhận nợ số 153284649 81.409.734 đồng (trong đó nợ gốc
10.500.000 đồng; nợ lãi trong hạn 873.667 đồng; lãi quá hạn 70.036.067 đồng).
2. Khế ước nhận nợ số 153961599 222.006.592 đồng (trong đó nợ gốc
40.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn 3.085747 đồng; lãi quá hạn 175.704.006 đồng;
phạt chậm trả lãi 3.216.839).
Khoản nợ nêu trên được bảo đảm bằng các biện pháp bảo đảm Quyền sử
dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 237, tờ bản đồ số 20c, địa chỉ:
T, huyện B, tỉnh Đắk Lắk thuộc quyền shữu, sử dụng của ông Dương Minh T
Nông Thị Hồng H theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X 802284,
do UBND huyện B cấp ngày 28/06/2004, cập nhật chủ sử dụng đất ngày
27/11/2012. Theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của người thứ ba
DAL.BD.CN.05170113 ngày 17/01/2013 được công chứng tại Phòng C tỉnh Đắk
4
Lắk, số công chứng 000216; đăng thế chấp tại Văn phòng đăng quyền sử
dụng đất huyện B, tỉnh Đắk Lắk ngày 17/01/2013.
Hợp đồng thế chấp quyền sdụng đất của người thứ ba đvay vốn bổ sung
số DAL.BĐ.CN.05170113/CCBS-01 ngày 30/01/2013 được công chứng tại
Phòng C tỉnh Đắk Lắk, số công chứng 000390.
Cam kết thế chấp tài sản ngày 17/01/2013. Bảo lãnh của ông Dương Minh
T và Nông Thị Hồng H theo Giấy cam kết về việc trả nợ lập ngày 30/01/2013.
Theo đó, bên bảo lãnh đồng ý trả thay cho bên được cấp tín dụng (Công ty TNHH
Đ) các khoản nợ của bên được cấp tín dụng với A2 khi bên được cập tín dụng
không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ. Nay
ngân hàng A2 đề nghị Tòa án giải quyết:
Buộc Công ty TNHH Đ trả ngay cho A2 tổng số nợ còn thiếu tính đến ngày
03/07/2024 303.416.326 đồng (Bằng chữ: Ba trăm lẻ ba triệu, bốn trăm ời
sáu nghìn, ba trăm hai mươi sáu đồng), trong đó gồm: Nợ gốc 50.500.000 đồng,
lãi trong hạn 3.959.414 đồng, lãi quá hạn 245.740.073 đồng, phạt chậm trả i
3.216.839 đồng phải tiếp tục trả tiền lãi, phạt chậm trả lãi phát sinh theo mức
lãi suất quy định tại Hợp đồng cấp tín dụng Khế ước nhận nợ, tính từ ngày
04/07/2024 đến ngày trả hết nợ.
Nếu Công ty TNHH Đ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa
vụ trả nợ thì tài sản bảo đảm được cơ quan có thẩm quyền xử lý để thu hồi nợ là:
Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 237, tờ bản đồ số 20c,
diện tích 910m
2
; địa chỉ đất: Thôn A, T, huyện B, tỉnh Đắk Lắk thuộc quyền
sở hữu, sử dụng của ông Dương Minh TNông Thị Hồng H. Đồng thời, bên
bảo lãnh ông Dương Minh T Nông Thị Hồng H trách nhiệm liên đới
thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo Giấy cam kết vviệc trả nợ ngày 30/01/2013
cho đến khi Công ty TNHH Đ trả hết nợ.
Đối với đơn kiện yêu cầu độc lập của ông Trần Văn V1, bà Nông Thị S thì
ngân hàng A2 ý kiến như sau:
- Giao dịch thế chấp Thửa đất số 237 có hiệu lực pháp luật: Theo quy định
tại khoản 20 Điều 3 Luật Đất đai 2003 thì Giấy chứng nhận số X 802284 là giấy
chứng nhận do Nhà nước cấp để bảo hộ quyền lợi ích hợp pháp của người
quyền sử dụng đất (vợ chồng ông T). Vì vậy, A2 đã căn cứ vào Giấy chứng nhận
nêu trên để quyết định nhận thế chấp Thửa đất số 237 từ vợ chồng ông T là hoàn
toàn đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 106 Luật Đất đai 2003. Hợp đồng thế
chấp Thửa đất số 237 đã được công chứng, đăng thế chấp nên đã phát sinh hiệu
lực, kể cả hiệu lực đối kháng với người thứ ba, theo quy định tại Điều 130 Luật
Đất đai 2003 Điều 10, Điều 11 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày
29/12/2006 của Chính phủ quy định về giao dịch bảo đảm. Tại thời điểm A2 nhận
thế chấp tài sản, Tổ chức hành nghề công chứng, quan Đăng đất đai đều xác
5
nhận các bên trong giao dịch chủ thể đầy đủ thẩm quyền xác lập giao dịch
tài sản không thông tin ngăn chặn, tranh chấp. vậy, A2 không thẩm
quyền hay nghĩa vụ phải xem xét lại giá trị pháp của Giấy chứng nhận cũng
như xác định chủ sở hữu, sử dụng không được công nhận trên Giấy chứng nhận
khi nhận thế chấp tài sản. Từ nội dung nêu trên cho thấy A2 đã thực hiện đầy đ
trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật để nhận thế chấp Thửa đất số 237 từ
vợ chồng ông T. Giao dịch thế chấp giữa A2 vợ chồng ông T đã hiệu lực
pháp luật và chỉ chấm dứt theo quy định tại Điều 327 Bộ luật Dân sự 2015.
- Ngân hàng A2 là người thứ ba ngay tình khi nhận thế chấp tài sản:
Thứ nhất, A2 đã thẩm định tài sản trước khi nhận thế chấp. Mặc tại thời
điểm A2 nhận thế chấp Thửa đất số 237 (năm 2013), pháp luật không quy định
ngân hàng khi thẩm định tài sản thế chấp phải xác minh, làm rõ mối quan hệ giữa
chủ sở hữu với chủ thể khác đang quản , sử dụng tài sản đó, nhưng trước khi
nhận thế chấp tài sản từ vợ chồng ông T tA2 đã thực hiện thẩm định Thửa đất
số 237 (có biên bản thẩm định) và ghi nhận trên thửa đất này nhà do ông T cho
bên thứ ba mướn (thuê) để ở. Tại thời điểm thẩm định và trong suốt quá trình A2
nhận thế chấp, Thửa đất số 237 không phát sinh bất kỳ tranh chấp, khiếu nại nào
từ bên thứ ba, kể cả vợ chồng ông V1. Việc vợ chồng ông V1 trên tài sản thoả
thuận riêng (nếu có) giữa các đương sự này, không liên quan và không ảnh hưởng
đến giao dịch thế chấp giữa vợ chồng ông T với A2. A2 cũng không biết, không
thể biết không buộc phải biết về giao dịch, thoả thuận (nếu có) liên quan đến
tài sản khi nhận thế chấp.
Thứ hai, A2 ngay tình khi nhận thế chấp: Theo quy định tại khoản 2 Điều
133 Bộ luật Dân sự 2015 thì trường hợp giao dịch dân sự hiệu nhưng tài sản
đã được đăng ký tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao
bằng một giao dịch dân sự khác cho người thứ ba người này căn cứ vào việc
đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu; và
theo hướng dẫn của Toà án nhân dân tối cao tại mục 1 phần II Công văn số
64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 về việc thông báo kết quả giải đáp trực tuyến
một số vướng mắc về hình sự, dân sự tố tụng hành chính thì thế chấp giao
dịch chuyển giao tài sản có điều kiện. Như vậy, quyền lợi của Ngân hàng người
thứ ba ngay tình sẽ được bảo đảm (giao dịch không bị hiệu) khi đáp ứng hai
điều kiện sau: (i) tài sản đã được đăng tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền;
(ii) người nhận chuyển giao tài sản căn cứ vào việc đăng tài sản để thực
hiện giao dịch. Trong vụ việc này, Thửa đất số 237 đã được cấp Giấy chứng nhận
số X 802284 cho vợ chồng ông T, A2 đã căn cứ Giấy chứng nhận này để quyết
định nhận thế chấp tài sản hoàn toàn đúng theo quy định của pháp luật (giao
dịch thế chấp được công chứng, đăng thế chấp đã chứng minh Thửa đất số 237
có đầy đủ điều kiện giao dịch theo quy định của Luật Đất đai như A2 phân tích ở
trên). Đồng thời, A2 không biết, không thể biết, không trách nhiệm phải biết
về giao dịch trước đó liên quan đến Thửa đất số 237.
Từ nội dung nêu trên cho thấy A2 bên nhận thế chấp hợp pháp và ngay
tình đối với Thửa đất số 237 từ vợ chồng ông T (giao dịch thế chấp không bị
hiệu). Theo quy định tại khoản 3 Điều 133 Bộ luật Dân sự 2015 thì chủ sở hữu
6
không có quyền đòi tài sản từ người thứ ba ngaynh nhưng có quyền khởi kiện,
yêu cầu chủ thể có lỗi dẫn đến việc giao dịch được xác lập với người thứ ba phải
hoàn trả những chi phí hợp lý và bồi thường thiệt hại. Do đó, yêu cầu độc lập của
vợ chồng ông V1, bà S không có cơ sở chấp nhận.
Về án phí và chi phí tố tụng: Đề nghị bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân
sự sơ thẩm và chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật.
- Bị đơn Công ty TNHH Đ, người đại diện theo pháp luật của công ty
ông Dương Minh T, đồng thời người quyền lợi nghĩa vụ liên quan,
cũng như người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nông Thị Hng H đã
được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt kng
có lý do.
- Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan, yêu cầu độc lập ông Trần
Văn V1 trình bày:
Tôi quen biết ông Dương Minh T là do con trai tôi, Trần Chiến H1 lái xe ô
cho ông T, thời gian đó ông T làm giám đốc Công ty Đ. Thời điểm đó ông T
đnghị với tôi là cần địa điểm bán vật liệu xây dựng nên ngỏ ý muốn mượn
giấy chứng nhận QSD đất của gia đình tôi để kết với Công ty cung cấp vật liệu
xây dựng. Tôi nói giấy chứng nhận QSD đất đang thế chấp tại ngân hàng N còn
nợ khoảng 50.000.000 đồng chưa trả, thì ông T nói cho tôi mượn 50.000.000 đồng
để trả nợ ngân hàng lấy giấy chứng nhận QSD đất ra cho ông T mượn trong
thời gian 01 năm rồi trả lại, vì vậy tôi đã đồng ý.
Ngày 12/11/2012 giữa tôi với ông Dương Minh T viết giấy cho ợn
giấy chứng nhận QSD đất số X 802284 cấp ngày 28/6/2004, ông T nói mục đích
mượn giấy chứng nhận QSD đất của tôi là đưa cho Công ty cung cấp vật liệu xây
dựng biết địa điểm, để công ty cung cấp vật liệu.
Trong giấy cho mượn giấy chứng nhận QSD đất thì thời gian cho mượn
01 năm, từ ngày 12/11/2012 đến ngày 12/11/2013 nhưng đến ngày 12/11/2013
không thấy ông T trả lại giấy chứng nhận QSD đất, tôi đến nhà ông T thôn
C, xã T thì không gặp, tôi điện thoại thì không liên lạc được, qua tìm hiểu thì biết
ông T đã chuyển đi nơi khác sinh sống.
Gia đình tôi chưa bao giờ hợp đồng chuyển nhượng QSD đất với ông
Dương Minh T tại UBND xã T, Nông Thị S là đồng bào dân tộc thiểu số nghe,
nói tiếng kinh không rành, S từ trước đến nay không biết chữ. vậy, tôi khẳng
định chữ viết Nông Thị S trong hợp đồng chuyển nhượng QSD đất ngày
22/11/2012 tại UBND T đối với thửa đất số 237, tờ bản đồ s20C, diện tích
910m
2
theo giấy chứng nhận QSD đất số X 802284 cấp ngày 28/6/2004 không
phải của S; còn chữ của tôi trong hợp đồng thể của tôi, trong thời
gian đó ông T có nhờ tôi ký một số giấy tờ (hợp đồng) để mở đại lý bán Vật liệu
xây dựng nên tôi có ký nhưng không đọc, trước đó tôi đã cho ông T mượn giấy
chứng nhận QSD đất. Gia đình tôi không hề biết việc ông Dương Minh T đã thế
chấp QSD đất của gia đình tôi để vay tiền tại ngân hàng TMCP Á. Ngày
22/11/2024 Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn xuống nhà tôi tiến hành xem xét,
7
thẩm định tại chỗ tài sản thì tôi mới biết ông T đã thế chấp QSD đất của gia đình
tôi để vay tiền tại ngân hàng Á.
vậy, tôi yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn giải quyết tuyên vô
hiệu hợp đồng chuyển nhượng QSD đất ngày 22/11/2012 giữa ông Trần Văn V1,
Nông Thị S với ông Dương Minh T. Đồng thời hủy biến động trang 03 trong
giấy chứng nhận QSD đất do Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện B
xác nhận ngày 17/01/2013.
Đề nghị Tòa án tuyên bố hiệu đối với hợp đồng thế chấp QSD đất của
người thứ ba giữa ông Dương Minh T, Nông Thị Hồng H với Ngân hàng TMCP
Á (A2) ngày 17/01/2013, đối với thửa đất số 237, tờ bản đồ số 20c, diện tích
910m
2
, tại thôn A, xã T, huyện B, tỉnh Đắk Lắk.
Ông Trần Văn V1 đề nghị Tòa án áp dụng thời hiệu khởi kiện theo quy
định.
- Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho ông Trần Văn V1,
Nông Thị S: Nguyễn Thị Thu T1 Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm tợ
giúp pháp lý nhà nước tỉnh Đắk Lắk, đồng ý với ý kiến và yêu cầu của ông Trần
Văn V1.
Tại Bản án Kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2025/KDTM-ST ngày
15/5/2025 của Tòa án nhân nhân huyện B, tỉnh Đắk Lắk, nay là Tòa án nhân
dân khu vực 2 – Đắk Lắk đã quyết định:
Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 91, khoản 1 Điều
147, Điều 160, Điều 161, Điều 162, Điều 184, Điều 185, Điều 203 điểm b
khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng Dân sự.
Áp dụng: khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277, Điều 299, Điều 319,
Điều 323, Điều 429, Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự;
Điều 91, Điều 94 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12
năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định ván phí, lệ phí Tòa
án.
1. Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Ngân hàng TMCP Á (A2).
Buộc bị đơn Công ty TNHH Đ và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
ông Dương Minh T, Nông Thị Hồng H nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng
TMCP Á (A2) số nợ gốc 50.500.000 đồng (năm mươi triệu năm trăm nghìn đồng).
Đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ về tài sản thì kể từ ngày
đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong,
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án
theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Á (A2) về số
tiền lãi 252.961.326 đồng và yêu cầu xử tài sản thế chấp đối với quyền sdụng
đất số X 802284 cấp ngày 28/6/2004 cho hộ ông Trần Văn V1, thay đổi biến động
chủ shữu do Văn phòng đăng QSD đất xác nhận ngày 27/12/2012 đăng
ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký QSD đất ngày 17/01/2013.
8
2. Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của ông Trần Văn V1.
- Tuyên bố, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trần
Văn V1, Nông Thị S ông Dương Minh Thành L1 ngày 22/11/2012, được
chứng thực tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, đối với thửa đất số 237, tờ bản đ
20c, diện tích 910m
2
, tọa lạc tại thôn A, xã T, huyện B, tỉnh Đắk Lắk vô hiệu.
- Tuyên bố, hợp đồng thế chấp QSD đất của người thứ ba để vay vốn bổ
sung số: DAL.BĐ.CN.05170113/CCBS-01 ngày 30/01/2013 giữa bên nhận thế
chấp Ngân hàng TMCP Á (A2) Chi nhánh Đ1 bên thế chấp ông Dương Minh
T, bà Nông Thị Hồng H vô hiệu.
Ngân hàng TMCP Á (A2) Chi nhánh Đ1 trách nhiệm trả lại cho ông
Trần Văn V1 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X 802284 cấp ngày 28/6/2004
cho hộ ông Trần Văn V1.
Đối với hậu quả của hợp đồng hiệu sẽ được giải quyết bằng một vụ án
dân sự khác khi đương sự có yêu cầu.
- Kiến nghị Chi nhánh V2 đăng ký đất đai huyện B, tỉnh Đắk Lắk xóa biến
động trang 03 trong giấy chứng nhận QSD đất số X 802284 cấp ngày 28/6/2004
cho hộ ông Trần Văn V1, thay đổi biến động chủ sở hữu do Văn phòng đăng
QSD đất xác nhận ngày 27/12/2012 đăng thế chấp tại Văn phòng đăng
QSD đất ngày 17/01/2013 theo quy định của pháp luật.
Ông Trần Văn V1, bà Nông Thị S trách nhiệm liên hệ đến các Cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện việc điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, Tòa án cấp thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, ván phí
quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 27/5/2025 nguyên đơn Ngân hàng TMCP Á kháng cáo toàn bộ bản
án thẩm s01/2025/KDTM-ST ngày 15/5/2025 của Tòa án nhân dân huyện
Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk, nay là Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đắk Lắk. Đề nghị
Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử lại vụ án.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Ngân hàng thay đổi một phần nội dung đơn
kháng cáo, kng đề nghị cấp phúc thẩm xem xét lại phần quyết định của
bán án về số nợ gốc, các nội dung còn lại thì giữ nguyên kng cáo.
Tại cấp phúc thẩm các con của ông Trần Văn V1, Nông Thị S bao gồm
Trần Thị S2 sinh năm 1984, Trần Tuấn A sinh năm 1986, Trần Chiến Hữu sinh
năm 1993, Trần Hữu P1 sinh năm 1997, Trần Văn A1 sinh năm 2000 đều làm đơn
trình bày thống nhất như lời trình bày của ông V1, S, đơn từ chối tham gia tố
tụng đơn xin xét xử vắng mặt; Trần Kim H2 sinh năm 1989 đã chết ngày
02/7/2024, có trích lục khai tử kèm theo.
Tại đơn trình bày Trần Thị S2, ông Trần Tuấn A, ông Trần Chiến
H1 trình bày:
Các ông thành viên trong hộ gia đình sở hữu thửa đất số 237, tờ bản
đồ số 20c tại thôn A, T, tỉnh Đắk Lắk. Sau khi Tòa án thụ lý giải quyết vụ án
thì các ông bà mới biết thửa đất đã được chuyển nhượng sang tên ông T và ông T
mang thửa đất đi thế chấp vay ngân hàng. Các ông xác định Nông Thị S
9
không biết, không ký vào hợp đồng chuyển nhượng. Thửa đất trên vẫn do bố mẹ
các ông bà quản lý sử dụng ổn định từ trước đến nay.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kim sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk phát biểu
quan điểm về vụ án:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ giải quyết ván Thẩm phán, Hội đồng
xét xử, Thư ký, các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân
sự.
Về nội dung: Kháng cáo của nguyên đơn không có căn cứ. Đề nghị HĐXX
căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự - Không chấp nhận kháng cáo của
Ngân hàng TMCP Á - Giữ nguyên bản án kinh doanh thương mại thẩm số
01/2025/KDTM-ST ngày 15/5/2025 của Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn, tỉnh
Đắk Lắk nay là Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đắk Lắk.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa,
căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ các tài liệu
chứng cứ, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét
xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của Ngân hàng TMCP Á trong hạn
luật định, đã nộp tạm ứng án phí nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét nội dung kháng cáo của Ngân hàng TMCP Á, Hội đồng xét xử
thấy rằng:
[2.1] Tại cấp phúc thẩm nguyên đơn thay đổi một phần nội dung đơn kháng
cáo, không yêu cầu phúc thẩm xem xét lại khoản tiền gốc nên cấp phúc thẩm
không xem xét.
[2.2] Về lãi suất: Quá trình tham gia tố tụng ông Trần Văn V1 m đơn áp
dụng thời hiệu khởi kiện với hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng với Công ty Đ.
Bản án sơ thẩm áp dụng thời hiệu không chấp nhận yêu cầu về lãi suất của ngân
hàng không căn cứ. Bởi lẽ, ông V1 tham gia tố tụng với cách người
quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trong vụ án tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông Dương Minh T. Đối với tranh chấp
hợp đồng tín dụng xác định nghĩa vụ trả nợ giữa Công Ty Đ với Ngân hàng không
làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông V1 nên ông V1 không
quyền yêu cầu áp dụng thời hiệu đối với hợp đồng tín dụng. Do đó, cần chấp nhận
kháng cáo của ngân hàng sửa bản án về lãi suất.
Tại cấp phúc thẩm Ngân hàng cung cấp chứng từ thể hiện tổng dư nợ đến
ngày đến ngày 30/01/2025 của Công ty Đ là 321.587.098 đồng. Trong đó nợ gốc
50.500.000 đồng, lãi trong hạn 3.959.414 đồng, lãi quá hạn 263.351.273 đồng,
phạt chậm trả 3.776.411 đồng. Do đó, cần buộc Công ty Đ người có quyền lợi,
10
nghĩa vụ liên quan ông Dương Minh T, bà Nông Thị Hồng H nghĩa vụ liên đới
trả cho Ngân hàng tổng số tiền cả gốc và lãi là 321.587.098 đồng.
[2.3] Xét kháng cáo của Ngân hàng cho rằng Ngân hàng người thứ 3 ngay
tình khi nhận tài sản thế chấp nên yêu cầu xử lý tài sản thế chấp và đề nghị không
chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Trần văn V1. HĐXX thấy rằng:
[2.3.1] Quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 237, tờ bản đồ 20c do UBND
huyện B cấp ngày 28/6/2004 cho hộ Trần Văn V1 nên đâytài sản chung ca hộ
gia đình ông Trần Văn V1, việc xác lập giao dịch liên quan đến tài sản này phải
được sự thống nhất của bà S và các con.
Biên bản làm việc ngày 06/5/2025 (BL 149) ông V1 xác định tại thời điểm
hợp đồng chuyển nhượng đất hộ gia đình ông gồm vợ chồng ông các con
đã thành niên Trần Thị S2 sinh năm 1984, Trần Tuấn A sinh năm 1986, Trần Kim
H2 sinh năm 1989, Trần Chiến Hữu sinh năm 1993. Tại giấy xác nhận nơi cư trú
ngày 03/4/2023 do ông V1 cung cấp thể hiện hộ gia đình ông V1 tại thời điểm xác
nhận gồm các con H2, H1, P. Như vậy, có căn cứ để xác định ngày 22/11/2012
khi lập hợp đồng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong hộ gia đình
của ông V1 các thành viên khác đã trên 18 tuổi nhưng không ký vào hợp đồng
chuyển nhượng là chưa đảm bảo, ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của
các thành viên khác trong gia đình. Cấp sơ thẩm không đưa các con ông V1 vào
tham gia tố tụng là thiếu sót. Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm đã khắc phục nên cấp
thẩm cần rút kinh nghiệm. Nông Thị S là dân tộc thiểu số, ông V1 các
thành viên trong gia đình đều xác định nghe nói chưa thành thạo tiếng phổ
thông và không biết chữ, chữ viết chữ ký trong Hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất không phải của bà S.
Ông V1 cho rằng vào ngày 12/11/2012 giữa ông với ông T thỏa thuận
ông T cho ông V1 ợn 50.000.000 đồng trả vào ngân hàng để lấy GCNQSDĐ
thế chấp ở ngân hàng và ông V1 cho ông T mượn giấy chứng nhận QSD đất thời
hạn là 01 năm từ ngày 12/11/2012 đến ngày 12/11/2013 để ông T mượn địa điểm
kết với Công ty cung cấp vật liệu xây dựng, hết thời hạn ông T trả lại giấy
chứng nhận QSD đất còn ông V1 trả lại cho ông T 50.000.000 đồng chứ giữa các
bên không thực hiện thỏa thuận chuyển nhượng đất. Đến khi ngân hàng khởi kiện
thì ông mới biết ông T đã hoàn tất thủ tục sang tên ông T và ông T mang thửa đất
gia đình ông đang quản lý đi thế chấp vay tiền của ngân hàng.
HĐXX thấy rằng quá trình tham gia tố tụng ông V1 cung cấp tài liệu chứng
cứ là giấy cho mượn quyền sử dụng đất ngày 12/11/2012 giữa ông T và ông V1.
Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ theo quy
định nhưng bị đơn Công ty Đ, người quyền lợi nghĩa vliên quan ông
Dương Minh T đồng thời đại diện theo pháp luật của Công Ty Đ Nông
Thị Hồng H vắng mặt. Tòa án đã căn cứ vào các tài liệu do các đương skhác
xuất trình để làm cơ sở giải quyết vụ án là phù hợp. Hơn nữa, thực tế thửa đất do
gia đình ông V1 quản lý, sử dụng canh tác trên đất từ trước đến nay chưa chuyển
giao cho ai. Do đó, lời trình bày của ông V1 là có cơ sở.
Bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu độc lập của ông V1 tuyên bố hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trần Văn V1, bà Nông Thị S và ông
11
Dương Minh Thành L1 ngày 22/11/2012, được chứng thực tại Ủy ban nhân dân
xã T, huyện B, đối với thửa đất số 237, tờ bản đồ 20c, diện tích 910m
2
vô hiệu
căn cứ quy định tại các điều 117, 122, 123 Bộ luật dân snăm 2015. Tuy nhiên,
phần nhận định của bản án xác định hợp đồng vô hiệu do giả tạo là chưa phù hợp
và phần quyết định của bản án không nêu căn cứ điều luật áp dụng nên cấp phúc
thẩm cần bổ sung.
[2.3.2] Ngân hàng cho rằng đã thực hiện thẩm định thửa đất, biên bản
thẩm định và ghi nhận trên thửa đất có nhà do ông T mượn để ở. Tuy nhiên, quá
trình tham gia tố tụng tại cấp thẩm cũng như tại cấp phúc thẩm Ngân hàng
không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh nên không căn cứ để
xác định quá trình Ngân hàng xem xét thẩm định đang có người quản lý, sử dụng
tài sản trên đất và người này biết việc ông T, bà H thế chấp tài sản này. Bản án
thẩm xác định Ngân hàng không phải là người thứ ba ngay tình theo quy định tại
khoản 2 Điều 133 của Bộ luật dân sự năm 2015; mục 1 phần II của Công văn số
64/TANDTC-PC; mục 1, phần III Giải đáp số 02/2021/TANDTC-PC ngày
02/8/2021 của Tòa án nhân dân tối cao tuyên bố hợp đồng thế chấp QSD
hiệu căn cứ, đúng quy định nên không sở chấp nhận kháng cáo của
Nguyên đơn.
Từ những phân tích, nhận định nêu trên, xét thấy cần chấp nhận một phần
kháng cáo ca Ngân hàng TMCP Á, sửa một phần bản án kinh doanh thương mi
thẩm số 01/2025/KDTM-ST ngày 15/5/2025 của Tòa án nhân dân huyện Buôn
Đôn, tỉnh Đắk Lắk, nay là Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đắk Lắk về lãi suất.
[3] Về án phí kinh doanh thương mại:
[3.1] Về án phí sơ thẩm: Do sửa bản án thẩm về lãi suất nên cần sửa án
phí sơ thẩm.
Buộc Công ty TNHH Đ phải chịu 16.079.354 đồng án phí sơ thẩm.
Ngân hàng TMCP Á không phải chịu án phí thẩm. Được nhận lại
7.585.000 đồng (bảy triệu năm trăm tám mươi lăm nghìn đồng) tạm ứng án phí
dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số: 0004950 ngày 22/10/2024 ca Chi cục thi
hành án dân sự huyện Buôn Đôn, tỉnh ĐắkLắk.
[3.2] Về án phí phúc thẩm: Do đơn kháng cáo được chấp nhận một phần
nên Ngân hàng TMCP Á không phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc
thẩm, được nhận lại số tiền tạm ứng án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm đã
nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự;
Chấp nhận mt phần kháng cáo của Ngân hàng TMCP Á - Sửa một phần
bản án kinh doanh thương mại thẩm số 01/2025/KDTM-ST ngày 15/5/2025
của Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk, nay là Tòa án nhân dân khu
vực 2 - Đắk Lắk về lãi suất.
12
Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 91, khoản 1 Điều
147, Điều 160, Điều 161, Điều 162, Điều 184, Điều 185, Điều 203 điểm b
khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng Dân sự 2015.
Áp dụng: khoản 3 Điều 40, các điều 117, 122, 123, điểm b khoản 2 Điều
277, Điều 299, Điều 319, Điều 323, Điều 429, Điều 463, Điều 466 của Bộ luật
Dân sự 2015;
Điều 91, Điều 94 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12
năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định ván phí, lệ phí Tòa
án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng
TMCP Á (A2).
Buộc bị đơn Công ty TNHH Đ và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
ông Dương Minh T, Nông Thị Hồng H có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng
TMCP Á (A2) tổng cộng 321.587.098 đồng (ba trăm hai mươi mốt triệu, năm
trăm tám mươi bảy nghìn, không trăm chín mươi tám đồng). Trong đó, nợ gốc
50.500.000 đồng, lãi suất 271.087.098 đồng.
Đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ về tài sản thì kể từ ngày
đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong,
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án
theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Á (A2) về yêu
cầu xử tài sản thế chấp đối với quyền sử dụng đất số X 802284 cấp ngày
28/6/2004 cho hộ ông Trần Văn V1, thay đổi biến động chủ sở hữu do Văn phòng
đăng QSD đất xác nhận ngày 27/12/2012 đăng thế chấp tại Văn phòng
đăng ký QSD đất ngày 17/01/2013.
2. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của ông Trần Văn V1.
- Tuyên bố, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trần
Văn V1, Nông Thị S ông Dương Minh Thành L1 ngày 22/11/2012, được
chứng thực tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, đối với thửa đất số 237, tờ bản đ
20c, diện tích 910m
2
, tọa lạc tại thôn A, xã T, huyện B, tỉnh Đắk Lắk vô hiệu.
- Tuyên bố, hợp đồng thế chấp QSD đất của người thứ ba để vay vốn bổ
sung số: DAL.BĐ.CN.05170113/CCBS-01 ngày 30/01/2013 giữa bên nhận thế
chấp Ngân hàng TMCP Á (A2) Chi nhánh Đ1 bên thế chấp ông Dương Minh
T, bà Nông Thị Hồng H vô hiệu.
Ngân hàng TMCP Á (A2) Chi nhánh Đ1 trách nhiệm trả lại cho ông
Trần Văn V1 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X 802284 cấp ngày 28/6/2004
cho hộ ông Trần Văn V1.
13
Đối với hậu quả của hợp đồng vô hiệu sđược giải quyết bằng một vụ án
dân sự khác khi đương sự có yêu cầu.
- Kiến nghị Chi nhánh V2 đăng ký đất đai huyện B, tỉnh Đắk Lắk xóa biến
động trang 03 trong giấy chứng nhận QSD đất số X 802284 cấp ngày 28/6/2004
cho hộ ông Trần Văn V1, thay đổi biến động chủ sở hữu do Văn phòng đăng
QSD đất xác nhận ngày 27/12/2012 đăng thế chấp tại Văn phòng đăng
QSD đất ngày 17/01/2013 theo quy định của pháp luật.
Ông Trần Văn V1, bà Nông Thị S trách nhiệm liên hệ đến các Cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện việc điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
3. Về chi phí tố tụng: Công ty TNHH Đ nghĩa vụ hoàn trả lại cho Ngân
hàng TMCP Á số tiền 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng), tạm ứng
chi phí tố tụng.
4. Về án phí Kinh doanh thương mại:
4.1 Về án phí sơ thẩm:
Buộc Công ty TNHH Đ phải chịu 16.079.354 đồng án phí sơ thẩm.
Ngân hàng TMCP Á được nhận lại 7.585.000 đồng (bảy triệu năm trăm
tám mươi m nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sthẩm đã nộp theo biên lai số:
0004950 ngày 22/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Buôn Đôn, tỉnh
ĐắkLắk.
4. 2 Về án phí phúc thẩm: Ngân hàng TMCP Á được nhận lại 3.000.000
đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai số 0006288, ngày 12/6/2025
(Bon Krông K Hiệu nộp) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ea H’Leo, nay là
phòng thi hành án dân sự khu vực 2, tỉnh Đắk Lắk.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự tngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a,
Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện
theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận: TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND tỉnh Đắk Lắk; Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- TAND khu vưc 2;
- Phòng Thi hành án khu vực 2;
- Đương sự; (Đã ký)
- Lưu hồ sơ.
Nguyễn Thị My My
14
Tải về
Bản án số 05-2026/2026/KDTM-PT Bản án số 05-2026/2026/KDTM-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 05-2026/2026/KDTM-PT Bản án số 05-2026/2026/KDTM-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất