Bản án số 01/2025/DS-ST ngày 10/07/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 01/2025/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 01/2025/DS-ST ngày 10/07/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 6 - Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi
Số hiệu: 01/2025/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 10/07/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ông Phan Trung H khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Toà án chấp nahanj yêu cầu
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 - QUẢNG NGÃI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 01/2025/DS-ST
Ngày: 10-7-2025
V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Phong
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Cư
2. Bà Huỳnh Thị Thùy Trâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Lệ Quân, là Thư ký Tòa án nhân dân khu
vực 6 – Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 Quảng Ngãi tham gia
phiên toà: Bà Hoàng Thị Xuân Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 Quảng
Ngãi xét xử thẩm công khai vụ án thụ số: 188/2024/TLST-DS ngày 16
tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định
đưa ván ra xét xử số: 47/2025/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 5 năm 2025, giữa
các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Phan Trung H, sinh năm 1971; địa chỉ: Thôn V,
P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi (nay là thôn V, xã N, tỉnh Quảng Ngãi).
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Phan Thị Thu T, sinh
năm 1985 Nguyễn Thị Như H1, sinh năm 2001; cùng địa chỉ: B N,
phường N, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi (nay là B N, phường Đ, tỉnh Quảng Ngãi).
2. Bị đơn: Ông Nguyễn T1, sinh năm 1953 Nguyễn Thị T2, sinh
năm 1955; cùng địa chỉ: Thôn V, xã P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi (nay là thôn V,
xã N, tỉnh Quảng Ngãi); chỗ ở hiện nay: Thôn G, xã N, tỉnh Quảng Ngãi.
3. Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Trần Thị H2, sinh năm
1975; địa chỉ: Thôn V, P, thị Đ, tỉnh Quảng Ngãi (nay thôn V, N,
tỉnh Quảng Ngãi).
4. Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn Đ; địa chỉ: Thôn G, P, thị xã
Đ, tỉnh Quảng Ngãi (nay là thôn G, xã N, tỉnh Quảng Ngãi).
2
H1 có mặt; ông H, bà T, ông T1, bà T2, bà H2 và ông Đ vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 25/11/2024, biên bản lấy lời khai ngày
01/4/2025, các văn bản trình bày khác trong quá trình giải quyết vụ án tại
phiên tòa thẩm, nguyên đơn ông Phan Trung H người đại diện theo ủy
quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 14/01/2012 ông Nguyễn T1 viết giấy thừa nhận mượn của vợ
chồng ông Phan Trung H, Trần Thị H2 03 cây vàng. Số vàng này vợ chồng
ông Nguyễn T1, bà Nguyễn Thị T2 mượn trước ngày 14/01/2012 nhưng không
nhớ cụ thể là ngày nào. Do ông T1, bà T2 không trả được nợ nên ngày
14/01/2012 ông T1 mới viết giấy mượn vàng cho vợ chồng ông Phan Trung H,
Trần Thị H2.
Toàn bộ 03 cây vàng vợ chồng ông Phan Trung H, bà Trần Thị H2
cho vợ chồng ông Nguyễn T1, Nguyễn Thị T2 mượn tài sản chung của vợ
chồng ông Phan Trung H, Trần Thị H2. Khi mượn vàng thì vợ chồng ông
T1, T2 đến mượn nhận vàng nhưng lúc đó vợ chồng ông H không nghĩ
sẽ phát sinh tranh chấp nên không yêu cầu bà T2 vào giấy mượn vàng. Trong
giấy mượn vàng chcủa con trai ông T1, T2 anh Nguyễn Văn Đ,
ông Đ giấy mượn vàng để làm chứng việc ông T1, T2 mượn vàng của
vợ chồng ông H.
Mục đích ông T1, T2 mượn vàng của vợ chồng ông H để làm ăn, lo
kinh tế cho gia đình. Trong giấy mượn vàng, ông T1 không ghi cụ thể loại vàng
mà vợ chồng ông T1, bà T2 đã mượn và còn nợ của vợ chồng ông H là loại vàng
gì, vợ chồng ông H cũng không để ý nên cũng không phát hiện ra vấn đề này
nhưng thực tế 03 cây vàng vợ chồng ông T1, T2 đã mượn và còn nợ của
vợ chồng ông H, bà H2 là vàng SJC.
Trong giấy mượn vàng ngày 14/01/2012 không ghi cụ thể thời hạn trả nợ
hai bên không thỏa thuận về lãi suất cho vay. Tuy nhiên, vợ chồng ông H
đã nhiều lần yêu cầu vợ chồng ông T1, T2 trả nợ nhưng vợ chồng ông T1,
T2 không trả. Ngày 19/11/2024 vợ chồng ông H đã thông báo yêu cầu ông
T1, T2 trả nợ trong thời hạn 05 ngày nhưng ông T1, T2 vẫn không trả.
vậy, ông H yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Buộc ông Nguyễn T1, bà Nguyễn Thị T2 nghĩa vụ trả cho vợ chồng
ông Phan Trung H, bà Trần Thị H2 03 (ba) cây vàng SJC.
- Buộc ông Nguyễn T1, bà Nguyễn Thị T2 nghĩa vụ trả cho vợ chồng
ông Phan Trung H, Trần Thị H2 khoản tiền lãi do chậm trả 03 (ba) cây vàng
SJC theo mức lãi suất 8%/năm; thời gian trả lãi tính từ ngày 25/11/2024 cho
đến khi xét xử sơ thẩm.
Quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn
3
ông Phan Trung H thừa nhận ông T1, bà T2 đã trả cho vợ chồng ông H
25.000.000đồng, cụ thể: Ngày 04/4/2019 trả 5.000.000đồng; ngày 18/5/2019 trả
4.000.000đồng; ngày 26/12/2019 trả 3.000.000đồng; tháng 01/2020 trả
5.000.000đồng; ngày 05/12/2020 trả 3.000.000đồng và ngày 20/12/2020 trả
5.000.000đồng. Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn
thay đổi yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu ông T1, bà T2 trả cho vợ chồng ông H
02 cây 03 chỉ vàng SJC và rút yêu cầu khởi kiện về tiền lãi.
* Sau khi thụ vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lthông báo thụ vụ án
các các văn bản tố tụng khác cho bị đơn ông Nguyễn T1, Nguyễn Thị T2
nhưng ông T1, bà T2 không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn; không cung cấp tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc giải
quyết vụ án; không tham gia c buổi làm việc, phiên họp theo giấy triệu tập,
thông báo của Tòa án.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Quảng Ngãi:
- Vtố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ ván cho
đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư
phiên tòa tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành
pháp luật của nguyên đơn đúng theo quy định tại các điều 70, 71 của Bộ luật tố
tụng dân sự; bị đơn người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không chấp hành
đúng quy định tại các điều 70, 72 và 73 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đnghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận
một phần yêu cầu khởi kiện của ông Phan Trung H. Buộc ông Nguyễn T1 và
Nguyễn Thị T2 phải nghĩa vụ trả cho ông Phan Trung H và Trần Thị H2
02 (hai) cây 03 (ba) chỉ vàng SJC. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện về
tiền lãi của nguyên đơn. Miễn toàn bộ án phí dân sự thẩm cho ông Nguyễn
T1, bà Nguyễn Thị T2.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án được xem
xét tại phiên tòa; căn cứ vào kết qutranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử
nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về xác định quan hệ pháp luật tranh chấp: Ông Phan Trung H khởi
kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn T1, Nguyễn Thị T2 thực
hiện nghĩa vụ trả nợ theo giấy mượn vàng ngày 14/01/2012. Do đó, quan h
pháp luật tranh chấp Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” quy định tại khoản 3
Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Khi xác lập hợp đồng vay tài sản
thì ông Nguyễn T1, bà Nguyễn Thị T2 nơi trú tại thôn V, P, thị Đ,
tỉnh Quảng Ngãi (nay là thôn V, N, tỉnh Quảng Ngãi). Tuy nhiên, tại thời
4
điểm ông H khởi kiện thì ông T1, T2 không mặt tại địa phương. Việc ông
T1, T2 thay đổi nơi trú nhưng không thông báo cho bên quyền ông
Phan Trung H, bà Trần Thị H2 biếtvi phạm nghĩa vụ theo quy định tại khoản
3 Điều 40 của Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó, Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ
(nay Tòa án nhân dân khu vực 6 Quảng Ngãi) thụ lý, giải quyết vụ án theo
đơn khởi kiện của ông Phan Trung H là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm
a khoản 1 Điều 35 điểm a khoản 1 Điều 40 của Bộ luật tố tụng dân sự năm
2015 và hướng dẫn tại điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP
ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
[1.3] Ngày 01/7/2025 Tòa án nhân dân khu vực 6 Quảng Ngãi được
thành lập. Căn cứ theo quy định tại Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày
27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc thành lập Tòa án nhân dân
cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ
của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực Nghị quyết số
01/2025/NQ-TP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện
thẩm quyền của Tòa án nhân dân thì Tòa án nhân dân khu vực 6 Quảng Ngãi
kế thừa quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của Tòa án nhân dân thị Đức Phổ, tỉnh
Quảng Ngãi Tòa án nhân dân huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi. Phạm vi thẩm
quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân khu vực 6 Quảng Ngãi đối với 13
đơn vị hành chính cấp thuộc tỉnh Quảng Ngãi, trong đó N (được nhập
từ P P cũ). Do đó, Tòa án nhân dân khu vực 6 Quảng Ngãi tiếp tục
giải quyết vụ án nêu trên đúng thẩm quyền theo quy định tại Nghị quyết số
81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Nghị
quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao.
[1.4] Bị đơn ông Nguyễn T1, Nguyễn Thị T2; người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan Trần Thị H2 người làm chứng ông Nguyễn Văn Đ đã
được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng
mặt không do. Do đó, căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227,
khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử
vụ án vắng mặt ông T1, bà T2 và ông Đ.
[2] Về nội dung:
[2.1] Căn cứ theo giấy mượn vàng ngày 14/01/2012, ý kiến trình bày của
nguyên đơn ông Phan Trung H và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn
trong q trình giải quyết vụ án căn cứ xác định: Ngày 14/01/2012 ông
Nguyễn T1 có viết giấy thừa nhận có mượn 03 cây vàng của vợ chồng ông Phan
Trung H, bà Trần Thị H2.
[2.2] Mặc dù giấy mượn vàng ngày 14/01/2012 chỉ có chữ ký của ông T1,
không chữ của T2 nhưng nội dung giấy mượn vàng thể hiện vợ chồng
ông T1, T2 mượn vàng để làm ăn, xác nhận của ông Nguyễn Văn Đ (là
con của ông T1, T2). Tòa án cũng đã tống đạt thông báo thụ vụ án, thông
5
báo yêu cầu giao nộp tài liệu chứng cứ các các văn bản tố tụng khác cho
T2 nhưng T2 không ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Do đó, căn cứ Điều 37 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, cần xác định số
vàng ông T1, bà T2 nợ của ông Phan Trung H, Trần Thị H2 theo giấy
mượn vàng ngày 14/01/2012 là khoản nợ chung của ông T1, bà T2.
[2.3] Tại giấy mượn vàng ngày 14/01/2012 không ghi cụ thể loại vàng
ông T1, T2 đã mượn của ông H, H2 loại vàng gì nhưng theo trình bày
của ông H, H2 trong quá trình giải quyết vụ án thì loại ng ông T1,
T2 đã mượn của ông H, bà H2 là vàng SJC. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống
đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác cho ông T1, bà T2
theo quy định của Bộ luật tố tụng dân snhưng ông T1, T2 không ý kiến
phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên phải chịu hậu quả theo quy định
tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. vậy, cần xác định
loại vàng mà ông T1, bà T2 đã mượn của ông H, bà H2 là vàng SJC.
[2.4] Mặc giấy mượn vàng ngày 14/01/2012 không thể hiện thời hạn
trả nợ nhưng trước khi khởi kiện thì nguyên đơn ông H đã có thông báo yêu cầu
ông T1, bà T2 trả nợ nhưng ông T1, bà T2 đã đi khỏi nơi cư trú mà không thông
báo cho ông H biết địa chỉ nơi trú mới. Việc ông T1, T2 không trả khoản
nợ nêu trên cho vợ chồng ông H khi đã thông báo yêu cầu trả nợ vi phạm
nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại khoản 1 Điều 466 và Điều 469 của Bộ luật dân
sự năm 2015. vậy, ông H quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc
ông T1, T2 trả cho ông H, H2 số vàng còn nợ theo giấy mượn ng ngày
14/01/2012.
[2.5] Mặc dù bị đơn ông T1, bà T2 không có ý kiến về số tiền, vàng đã trả
cho ông H, bà H2, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy
quyền của nguyên đơn ông Phan Trung H Trần Thị H2 tự thừa nhận ông
T1, T2 đã trả cho ông H, H2 tổng số tiền là 25.000.000đồng. Việc người
đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và H2 tự thừa nhận ông T1, T2 đã
trả tổng số tiền 25.000.000đồng là tự nguyện, lợi cho phía bị đơn ông T1,
T2 nên được chấp nhận.
[2.6] Theo thông tin về giá vàng SJC bán ra tại địa phương vào thời điểm
ông T1, T2 trả tiền thể hiện:
- Tại thời điểm ông T1, T2 trả 5.000.000đồng vào ngày 04/4/2019 thì
mỗi chỉ vàng SJC có giá bán ra 3.652.000đồng. Vì vậy, số tiền ông T1, T2
đã trả tương đương với 1,369 chỉ vàng SJC.
- Tại thời điểm ông T1, T2 trả 4.000.000đồng vào ngày 18/5/2019 thì
mỗi chỉ vàng SJC có giá bán ra 3.643.000đồng. vậy, số tiền ông T1, T2
đã trả tương đương với 1,098 chỉ vàng SJC.
- Tại thời điểm ông T1, T2 trả 3.000.000đồng vào ngày 26/12/2019 thì
mỗi chỉ vàng SJC có giá bán ra 4.222.000đồng. Vì vậy, số tiền ông T1, T2
đã trả tương đương với 0,71 chỉ vàng SJC.
6
- Tại thời điểm ông T1, T2 trả 5.000.000đồng vào tháng 01/2020 thì
mỗi chỉ vàng SJC có giá bán ra 4.277.000đồng. Vì vậy, số tiền ông T1, T2
đã trả tương đương với 1,169 chỉ vàng SJC.
- Tại thời điểm ông T1, T2 trả 3.000.000đồng vào ngày 05/12/2020 thì
mỗi chỉ vàng SJC có giá bán ra 5.527.000đồng. Vì vậy, số tiền ông T1, T2
đã trả tương đương với 0,543 chỉ vàng SJC.
- Tại thời điểm ông T1, T2 trả 5.000.000đồng vào ngày 20/12/2020 thì
mỗi chỉ vàng SJC có giá bán ra 5.552.000đồng. vậy, số tiền ông T1, T2
đã trả tương đương với 0,9 chỉ vàng SJC.
Như vậy, tổng số tiền 25.000.000đồng ông T1, T2 đã trả cho ông
H, bà H2 tương đương với 5,789 chỉ vàng SJC.
[2.7] Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thống
nhất quy đổi số tiền 25.000.000đồng ông T1, T2 đã trả cho nguyên đơn
tương đương với 07 chỉ vàng SJC. Do đó, người đại diện theo ủy quyền của
nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu ông T1, T2 trả 02 cây
(lượng) 03 chỉ vàng SJC. Việc người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn
thay đổi yêu cầu khởi kiện nêu trên tnguyện lợi cho phía bị đơn nên
được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.8] Về tiền lãi: Trong đơn khởi kiện, nguyên đơn ông Phan Trung H yêu
cầu buộc ông T1, T2 trả tiền lãi. Tuy nhiên, tại phiên tòa người đại diện theo
ủy quyền của nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện về tiền lãi. Việc người đại diện
theo ủy quyền của nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện về tiền lãi là tự nguyện. Do
đó, căn cứ khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự, đình chỉ xét xử đối với
yêu cầu khởi kiện về tiền lãi của nguyên đơn ông Phan Trung H. Ông H
quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại đối với yêu cầu về tiền lãi bằng
một vụ án khác.
[3] Về án phí:
Do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Phan Trung H được Tòa án chấp
nhận nên bđơn ông Nguyễn T1, Nguyễn Thị T2 phải chịu toàn bộ án phí
dân sự thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tuy
nhiên, do ông T1, bà T2 là người cao tuổi, đã có đơn đề nghị miễn án phí hợp lệ.
Vì vậy, căn cứ theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội, miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho ông T1, bà T2.
Ông Phan Trung H không phải chịu án phí dân sự thẩm. Hoàn trả lại
cho ông Phan Trung H số tiền tạm ứng án phí dân sự thẩm ông H đã nộp
6.455.000đồng.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương squyền kháng cáo bản án theo
quy định tại các điều 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
7
[5] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Quảng Ngãi
tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1
Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, các điều 147, 235, 244,
266, 271 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các điều 357, 463, 466,
469 688 của Bộ luật dân snăm 2015; Điều 37 của Luật hôn nhân gia
đình năm 2014; khoản 2 Điều 26, điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Trung H.
2. Buộc ông Nguyễn T1 Nguyễn Thị T2 phải nghĩa vụ trả cho
ông Phan Trung H và bà Trần Thị H2 02 (hai) lượng 03 (ba) chỉ vàng SJC.
3. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện vtiền lãi của nguyên đơn
ông Phan Trung H. Ông H quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại đối
với yêu cầu về tiền lãi bằng một vụ án khác.
4. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự thẩm cho ông Nguyễn T1, bà
Nguyễn Thị T2.
Hoàn trả lại cho ông Phan Trung H số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm
ông H đã nộp 6.455.000đồng (sáu triệu bốn trăm năm mươi lăm nghìn đồng)
theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0004705 ngày 13/12/2024 của
Chi cục Thi hành án dân sự thị Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi (nay Phòng Thi
hành án dân sự khu vực 6 – Quảng Ngãi).
5. Đương smặt tại phiên tòa quyền kháng cáo bản án này trong
thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền
kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc
kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
6. Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự
thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền thỏa
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật
thi hành án dân sự.
8
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Quảng Ngãi;
- VKSND KV6 Quảng Ngãi;
- THADS tỉnh Quảng Ngãi;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
(đã ký)
Lê Phong
Tải về
Bản án số 01/2025/DS-ST Bản án số 01/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 01/2025/DS-ST Bản án số 01/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất