Bản án số 01/2025/DS-ST ngày 20/06/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lào Cai, tỉnh Lào Cai về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 01/2025/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 01/2025/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 01/2025/DS-ST
Tên Bản án: | Bản án số 01/2025/DS-ST ngày 20/06/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lào Cai, tỉnh Lào Cai về tranh chấp hợp đồng tín dụng |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
Tòa án xét xử: | Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lào Cai, tỉnh Lào Cai |
Số hiệu: | 01/2025/DS-ST |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 20/06/2025 |
Lĩnh vực: | Dân sự |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam- Lê Thị M- Hoàng Minh C |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MÙ CANG CHẢI
TỈNH YÊN BÁI
Bản án số: 01/2025/DS-ST.
Ngày 20-6-2025
V/v Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do- Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÙ CANG CHẢI, TỈNH YÊN BÁI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Tiến Phúc.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý A Náng.
Ông Giàng A Dình.
-Thư ký phiên tòa: Ông Lý A Dà – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Mù
Cang Chải, tỉnh Yên Bái.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái tham
gia phiên tòa: Ông Ngọc Đức Thạo - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Mù Cang Chải,
tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 01/2025/TLST – TCDS ngày
05 tháng 02 năm 2025 về việc: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ
án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-TCDS ngày 05 tháng 5 năm 2025 và Thông báo về
việc mở lại phiên tòa số: 01/TB-TA ngày 02 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần quốc tế Việt Nam (VIB);
Địa chỉ: Tầng 01 (Tầng trệt) và tầng 2 Tòa nhà Sailing Tower, số 111A Pasteur,
phường Bến Nghé, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc V. Chức vụ: Tổng Giám đốc.
Vắng mặt.
Đại diện theo ủy quyền:
+ Ông Hà Hoàng H. Chức vụ: Giám đốc TT xử lý nợ Ngân hàng bán lẻ Miền
Bắc, Khối Pháp chế và Quản trị doanh nghiệp của VIB.
Vắng mặt.
+ Ông Bùi Văn Ch - Cán bộ Ngân hàng Thương mại cổ phần quốc tế Việt Nam
(VIB).
Có mặt
+ Bà Hoàng Thị Hồng V - Cán bộ Ngân hàng Thương mại cổ phần quốc tế Việt
Nam (VIB).
Vắng mặt.
+ Bà Đinh Phương Th - Cán bộ Ngân hàng Thương mại cổ phần quốc tế Việt
Nam (VIB).
Vắng mặt.

2
Cùng địa chỉ: Tầng 12, Tòa nhà Coninco, số 4, Tôn Thất Tùng; quận Đống Đa,
thành phố Hà Nội.
Bị đơn: Bà Lê Thị M- Ông Hoàng Minh C.
Cùng địa chỉ: Tổ 02, thị trấn M, huyện Mù, tỉnh Yên Bái
. Vắng mặt (không lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, ông Bùi Văn Ch - Người đại diện
theo ủy quyền của Ngân hàng Thương mại cổ phần quốc tế Việt Nam trình bày:
Ngân hàng Thương mại cổ phần quốc tế Việt Nam (viết tắt là VIB)- Phòng giao
dịch Tây Hồ cho bà Lê Thị M và ông Hoàng Minh C vay vốn theo Hợp đồng tín dụng
số: 1624891.19 ngày 18/7/2019 với nội dung: Số tiền giải ngân: 534.000.000đồng;
Ngày giải ngân: 18/7/2019; Mục đích giải ngân: Vay mua 01 xe ô tô nhãn hiệu
TOYOTA, mục đích sử dụng tiêu dùng; Thời hạn vay: 96 tháng; Lãi suất và kỳ điều
chỉnh lãi suất: Lãi suất tại thời điểm giải ngân 9,2%/năm. Lãi suất này là lãi suất ưu đãi
(so với lãi suất thông thường là Lãi suất cơ sở theo sản phẩm trong kỳ + biên độ
3%/năm) và chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản vay.
Hết thời hạn ưu đãi nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng 1 lần bằng lãi suất
cơ sở theo quy định của VIB tại thời điểm điều chỉnh cộng thêm biên độ 3,9%/năm. Số
tiền/ngày hoàn trả: Hoàn trả khoản vay gốc: Vào ngày 15 hàng tháng. Số tiền trả hàng
tháng là 5.570.000VNĐ, số còn lại trả vào cuối kỳ. Ngày trả lãi: Vào ngày 15 hàng
tháng theo dư nợ thực tế. Ngày trả nợ gốc đầu tiên là ngày 15/8/2019, ngày trả nợ cuối
cùng là ngày 18/7/2027. Ngày trả phí: Theo quy định của VIB từng thời kỳ. Lãi quá
hạn bằng 150% lãi trong hạn.
Ngày 16/3/2020 bà Lê Thị M ký đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng
mở và sử dụng tài khoản tại VIB- Phòng giao dịch Tây Hồ, hạn mức là
50.000.000đồng.
Tài sản đảm bảo cho các khoản vay trên là: Phương tiện vận tải nhãn hiệu
TOYOTA; Số loại: RUSH; số khung FF3VKK003355; số máy: 2NRF850765; màu
sơn: Trắng; biển số: 21A-074.94; Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 013866 do
phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Yên Bái cấp ngày 16/7/2019; đứng tên chủ xe
Hoàng Minh C. Tài sản này được thế chấp theo Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải
số: 7110147.19 ngày 18/7/2019. Việc thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm theo
đúng quy định của pháp luật.
Quá trình thực hiện hợp đồng: Ngân hàng Thương mại cổ phần quốc tế Việt
Nam đã giải ngân cho bà Lê Thị M và ông Hoàng Minh C theo đơn đề nghị giải ngân
kiêm Khế ước nhận nợ số 1624891(1).19 ngày 18/7/2019 với số tiền 534.000.000 đồng
theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với Hợp đồng tín dụng.

3
Căn cứ đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng mở và sử dụng tài khoản
tại VIB-Phòng giao dịch Tây Hồ của bà Lê Thị M, ngày 16/3/2020 Ngân hàng Thương
mại cổ phần quốc tế Việt Nam (VIB)- PGD Tây Hồ đã chấp thuận và phát hành cho bà
Lê Thị M được sử dụng thẻ tín dụng tại VIB với mức hạn mức phê duyệt là
50.000.000 đồng.
Quá trình thực hiện Hợp đồng bà Lê Thị M và ông Hoàng Minh C không thực
hiện đúng nghĩa vụ trả nợ dẫn đến các khoản vay của bà Lê Thị M và ông Hoàng Minh
C bị quá hạn thanh toán kể từ ngày 15/11/2023. Kể từ khi khoản vay bị quá hạn thanh
toán, Ngân hàng Thương mại cổ phần quốc tế Việt Nam đã nhiều lần làm việc và tạo
điều kiện cho bà Lê Thị M và ông Hoàng Minh C thực hiện nghĩa vụ trả nợ, tuy nhiên
bà Lê Thị M và ông Hoàng Minh C vẫn không thực hiện. Tổng dư nợ tính đến ngày
20/6/2025 là 429.232.783 đồng. Trong đó:
+ Dư nợ theo Hợp đồng tín dụng số: 1624891.19 ngày 18/7/2019 là 340.613.468
đồng, trong đó: Nợ gốc: 249.934.000đ, nợ lãi: 14.642.957đồng, lãi quá hạn:
76.036.511 đồng.
+ Dư nợ theo khoản vay thẻ tín dụng theo Đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm
Hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 16/3/2020 là: 88.619.315 đồng, trong đó: Nợ
gốc là: 39.201.461 đồng, nợ lãi: 18.301.820 đồng, lãi quá hạn: 31.116.034 đồng.
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng Thương mại cổ phần quốc
tế Việt Nam: Yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Mù Cang Chải giải quyết những vấn đề
sau đây:
+ Buộc bà Lê Thị M và ông Hoàng Minh C phải trả cho Ngân hàng Thương mại
cổ phần quốc tế Việt Nam toàn bộ khoản nợ tạm tính đến hết ngày 20/6/2025 là
429.232.783 đồng.
+ Buộc Ông/bà Lê Thị M và Hoàng Minh C tiếp tục trả cho Ngân hàng Thương
mại cổ phần quốc tế Việt Nam các khoản lãi, phí, lãi quá hạn phát sinh theo đúng quy
định tại Hợp đồng tín dụng và Đơn đề nghị phát hành thẻ tín dụng đã ký trong thời gian
kể từ ngày 21/06/2025 đến ngày thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
+ Ngân hàng Thương mại cổ phần quốc tế Việt Nam được quyền thu giữ và tự
phát mại hoặc đề nghị Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền kê biên và phát mại tài sản
đảm bảo để xử lý thu hồi nợ nếu bà Lê Thị M và ông Hoàng Minh C không thực hiện
hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ theo phán quyết có hiệu lực của Tòa án.
+ Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh
toán nghĩa vụ trả nợ cho bên vay vốn với Ngân hàng Thương mại cổ phần quốc tế Việt
Nam. Trường hợp số tiền thu hồi được từ xử lý tài sản đảm bảo không đầy đủ để thanh
toán hết nợ thì bà Lê Thị M và ông Hoàng Minh C vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản
nợ còn lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần quốc tế Việt Nam.
4
Ngoài ra chúng tôi không còn ý kiến gì khác.
Trong quá trình giải quyết vụ án bà Lê Thị M và ông Hoàng Minh C không có
mặt tại Tòa án theo Thông báo triệu tập mà không có lý do.
Tại biên bản xác minh ngày 18-4-2025 tại UBND thị trấn Mù Cang Chải, huyện
Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái thể hiện: Bà Lê Thị M và ông Hoàng Minh C hiện tại vẫn
có hộ khẩu thường trú tại: Tổ 2, thị trấn M, huyện M, tỉnh Yên Bái nhưng bà M và ông
C đã bán hết tài sản, nhà cửa tại nơi cư trú và chuyển đi đâu làm gì thì chính quyền địa
phương không rõ. Hiện tại bà Lê Thị M và ông Hoàng Minh C không có mặt tại địa
phương và tại nơi cư trú do đó các thủ tục tố tụng mà Tòa án gửi, tống đạt đều không
được.
Tại phiên tòa:
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:
+ Vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn số
tiền gốc và số tiền lãi theo quy định của pháp luật tính đến ngày xét xử sơ thẩm
(20/06/2025) là 429.232.783 đồng.
+ Buộc bà Lê Thị M và ông Hoàng Minh C tiếp tục trả cho Ngân hàng Thương
mại cổ phần quốc tế Việt Nam các khoản tiền lãi đối với số tiền gốc chậm trả theo mức
lãi suất nợ quá hạn mà các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số: 1624891.19
ngày 18/7/2019 và khoản vay thẻ tín dụng theo Đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm
Hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 16/3/2020 là 22,95%/năm tương ứng với thời
gian chậm trả tại thời điểm thanh toán kể từ ngày 21/06/2025 đến ngày thanh toán xong
toàn bộ khoản nợ.
+ Ngân hàng Thương mại cổ phần quốc tế Việt Nam được quyền thu giữ và tự
phát mại hoặc đề nghị Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền kê biên và phát mại tài sản
đảm bảo để xử lý thu hồi nợ nếu bà Lê Thị M và ông Hoàng Minh C không thực hiện
hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ theo phán quyết có hiệu lực của Tòa án.
+ Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh
toán nghĩa vụ trả nợ cho bên vay vốn với Ngân hàng Thương mại cổ phần quốc tế Việt
Nam. Trường hợp số tiền thu hồi được từ xử lý tài sản đảm bảo không đầy đủ để thanh
toán hết nợ thì bà Lê Thị M và ông Hoàng Minh C vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản
nợ còn lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần quốc tế Việt Nam.
- Bị đơn bà Lê Thị M và ông Hoàng Minh C vắng mặt không có ý kiến.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mù Cang Chải: Việc tuân
theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định
của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng
đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về hướng giải quyết vụ án:

5
Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 40, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều
273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ điều Điều 40; Điều 117, Điều 280, Điều 292, Điều 299, Điều 317, Điều
318, Điều 319, Điều 320, Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16 tháng 6 năm
2010 được sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2, Điều 26 Nghị quyết 326, đề nghị
HĐXX:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc bà Lê Thị M và ông
Hoàng Minh C phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần quốc tế Việt Nam
tiền nợ gốc, nợ lãi trong hạn và quá hạn tính đến hết ngày 20/6/2025 là 429.232.783
đồng. Cụ thể:
+ Dư nợ theo Hợp đồng tín dụng số: 1624891.19 ngày 18/7/2019 là 340.613.468
đồng, trong đó: Nợ gốc: 249.934.000đ, nợ lãi: 14.642.957đồng, lãi quá hạn:
76.036.511 đồng.
+ Dư nợ theo khoản vay thẻ tín dụng theo Đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm
Hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 16/3/2020 là: 88.619.315 đồng, trong đó: Nợ
gốc là: 39.201.461 đồng, nợ lãi: 18.301.820 đồng, lãi quá hạn: 31.116.034 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày 20/6/2025 cho đến khi thi hành án xong ông
Hoàng Minh C và bà Lê Thị M phải tiếp tục thanh toán khoản tiền lãi đối với số tiền
gốc chậm trả theo mức lãi suất nợ quá hạn mà các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng
tín dụng số: 1624891.19 ngày 18/7/2019 và khoản vay thẻ tín dụng theo Đề nghị phát
hành thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 16/3/2020 là
22,95%/năm tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
2. Trong trường hợp ông Hoàng Minh C và bà Lê Thị M không thực hiện hoặc
thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần quốc tế Việt
Nam có quyền đề nghị cơ quan Thi hành án dân sự phát mại tài sản thế chấp là chiếc
xe TOYOTA; Số loại: RUSH, số khung: FF3VKK003355; số máy: 2NRF850765; màu
sơn: Trắng, biển số: 21A-074.94; Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 013866 do
Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Yên Bái cấp ngày 16/07/2019, đứng tên chủ
xe Hoàng Minh C để thu hồi nợ theo quy định của Luật thi hành án dân sự.
3. Về án phí:
Buộc bà Lê Thị M và ông Hoàng Minh C phải chịu 21.172.931đ. Trả lại cho
Ngân hàng VIB số tiền 10.060.000đ tiền tạm ứng án phí mà Ngân Hàng đã nộp tại Chi
cục thi hành án dân sự huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái.
4. Về quyền kháng cáo:
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

6
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và qua thẩm vấn công
khai tại phiên toà và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Tòa án nhân dân huyện Mù Cang
Chải, tỉnh Yên Bái, Thẩm phán, Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án đã thực hiện
đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ngân hàng Thương mại cổ phần quốc tế Việt Nam có đơn đề nghị Tòa án nhân
dân huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái giải quyết việc tranh chấp giữa Ngân hàng
Thương mại cổ phần quốc tế Việt Nam với bà Lê Thị M và ông Hoàng Minh C. Theo
quy định tại khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì
vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mù Cang Chải, tỉnh
Yên Bái. Đây là tranh chấp về nghĩa vụ trả nợ của Hợp đồng tín dụng giữa một bên là
Ngân hàng và một bên là cá nhân không có đăng ký kinh doanh. Nên đây là tranh chấp
về Hợp đồng dân sự theo quy định khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt
của người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn, người đại
diện theo ủy quyền (ông H, bà V, bà Th), xét thấy người đại diện theo ủy quyền – Ông
Bùi Văn Ch có mặt tại phiên tòa nên việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến
quá trình xét xử nên Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vắng mặt người đại
diện theo pháp luật của nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền (ông H, bà V, bà
Th).
Về sự vắng mặt của bị đơn: Tại phiên tòa ngày 22-5-2025 bà Lê Thị M và ông
Hoàng Minh C đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, do vậy Hội đồng
xét xử phải hoãn phiên tòa. Đến phiên tòa ngày hôm nay (ngày 20-6-2025) bà Lê Thị M
và ông Hoàng Minh C đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do,
nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo thủ tục chung quy định tại
Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về nội dung:
Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần
quốc tế Việt Nam với bà Lê Thị M và ông Hoàng Minh C:
- Về Hợp đồng tín dụng số: 1624891.19 ngày 18/7/2019 ký kết giữa Ngân hàng
Thương mại cổ phần quốc tế Việt Nam với bà Lê Thị M và ông Hoàng Minh C.
Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ lời khai của nguyên đơn cùng các tài iệu,
chứng cứ do nguyên đơn cung cấp thể hiện có việc bà Lê Thị M và ông Hoàng Minh C
có ký kết Hợp đồng tín dụng số: 1624891.19 ngày 18/7/2019 với Ngân hàng Thương
mại cổ phần quốc tế Việt Nam với nội dung: Số tiền giải ngân: 534.000.000đ; Ngày
giải ngân: 18/7/2019; Mục đích giải ngân: Vay mua 01 xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA,
mục đích sử dụng tiêu dùng; Thời hạn vay: 96 tháng; Lãi suất và kỳ điều chỉnh lãi
suất: Lãi suất tại thời điểm giải ngân 9,2%/năm. Lãi suất này là lãi suất ưu đãi (so với

7
lãi suất thông thường là Lãi suất cơ sở theo sản phẩm trong kỳ + biên độ 3%/năm) và
chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản vay. Hết thời hạn
ưu đãi nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng 1 lần bằng lãi suất cơ sở theo
quy định của VIB tại thời điểm điều chỉnh cộng thêm biên độ 3,9%/năm. Số tiền/ngày
hoàn trả: Hoàn trả khoản vay gốc: Vào ngày 15 hàng tháng. Số tiền trả hàng tháng là
5.570.000VNĐ, số còn lại trả vào cuối kỳ. Ngày trả lãi: Vào ngày 15 hàng tháng theo
dư nợ thực tế. Ngày trả nợ gốc đầu tiên là ngày 15/8/2019, ngày trả nợ cuối cùng là
ngày 18/7/2027. Ngày trả phí: Theo quy định của VIB từng thời kỳ. Lãi quá hạn bằng
150% lãi trong hạn. Việc ký kết Hợp đồng giữa hai bên là hoàn toàn tự nguyện và tuân
thủ đúng các quy định của pháp luật cả về nội dung và hình thức hợp đồng, không vi
phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội nên làm phát sinh quyền và nghĩa
vụ giữa các bên. Buộc các bên phải thực hiện nghiêm chỉnh các nội dung đã thỏa thuận
tại hợp đồng. Hội đồng xét xử công nhận Hợp đồng tín dụng số: 1624891.19 ngày
18/7/2019 ký kết giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần quốc tế Việt Nam với bà Lê
Thị M và ông Hoàng Minh C là có thật và hợp pháp.
- Về Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số: 7110147.19 ngày 18/7/2019 là
phương tiện vận tải nhãn hiệu TOYOTA; Số loại: RUSH; số khung FF3VKK003355;
số máy: 2NRF850765; màu sơn: Trắng; biển số: 21A-074.94; Giấy chứng nhận đăng
ký xe ô tô số 013866 do phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Yên Bái cấp ngày
16/7/2019; đứng tên chủ xe Hoàng Minh C. Tại hợp đồng này nghĩa vụ được bảo đảm:
Bà Mỵ và ông Cảnh tự nguyện đem số tài sản nói trên thế chấp cho Ngân hàng
Thương mại cổ phần quốc tế Việt Nam để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng
tín dụng do hai bên ký là 534.000.000đ. Giá trị nghĩa vụ được bảo đảm sẽ giảm theo
mức độ giảm giá trị tài sản được xác định trong các biên bản định giá lại tài sản kiêm
phụ lục hợp đồng. Mức dư nợ/số tiền cho vay trong trường hợp này cũng giảm tương
ứng.
Việc ký kết Hợp đồng giữa hai bên là hoàn toàn tự nguyện và tuân thủ đúng các
quy định của pháp luật cả về nội dung và hình thức hợp đồng. Hội đồng xét xử công
nhận Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số: 7110147.19 ngày 18/7/2019 ký kết
giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần quốc tế Việt Nam với bà Lê Thị M và ông
Hoàng Minh C là có thật và hợp pháp.
Tại hợp đồng này nghĩa vụ được bảo đảm: Bà M và ông C tự nguyện đem số tài
sản nói trên thế chấp cho Ngân hàng Thương mại cổ phần quốc tế Việt Nam để đảm
bảo cho nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng do hai bên ký là 534.000.000đ. Giá trị
nghĩa vụ được bảo đảm sẽ giảm theo mức độ giảm giá trị tài sản được xác định trong
các biên bản định giá lại tài sản kiêm phụ lục hợp đồng. Mức dư nợ/số tiền cho vay
trong trường hợp này cũng giảm tương ứng. Nghĩa vụ của bà M và ông C là cung cấp

8
thông tin về tài sản thế chấp cho Ngân hàng Thương mại cổ phần quốc tế Việt Nam.
Tuy nhiên bà M và ông C không thực hiện việc cung cấp thông tin về tài sản thế chấp
cho Ngân hàng.
Do bà Lê Thị M và ông Hoàng Minh C vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên căn cứ vào
điều 9 của Hợp đồng thế chấp thì Ngân hàng Thương mại cổ phần quốc tế Việt Nam
có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp
luật.
- Về Hợp đồng mở và sử dụng tài khoản tại VIB-Phòng giao dịch Tây Hồ của bà
Lê Thị M: Căn cứ lời khai của nguyên đơn cùng các tài iệu, chứng cứ do nguyên đơn
cung cấp thể hiện có việc bà Lê Thị M đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng
mở và sử dụng tài khoản tại VIB-Phòng giao dịch Tây Hồ, ngày 16/3/2020 Ngân hàng
Thương mại cổ phần quốc tế Việt Nam (VIB)- Phòng giao dịch Tây Hồ đã chấp thuận
và phát hành cho bà Lê Thị M được sử dụng thẻ tín dụng tại VIB với mức hạn mức
phê duyệt là 50.000.000đ.
Việc ký kết Hợp đồng giữa hai bên là hoàn toàn tự nguyện và tuân thủ đúng các
quy định của pháp luật cả về nội dung và hình thức hợp đồng. Hội đồng xét xử công
nhận Hợp đồng mở và sử dụng tài khoản tại VIB- Phòng giao dịch Tây Hồ ký kết giữa
Ngân hàng Thương mại cổ phần quốc tế Việt Nam với bà Lê Thị M là có thật và hợp
pháp.
- Về số tiền nợ gốc và tiền lãi mà Ngân hàng Thương mại cổ phần quốc tế Việt
Nam buộc bà Lê Thị M và ông Hoàng Minh C phải trả theo Hợp đồng tín dụng Hợp
đồng tín dụng số: 1624891.19 ngày 18/7/2019:
Căn cứ vào Hợp đồng tín dụng số: 1624891.19 ngày 18/7/2019, bản tự khai, bản
kê tính lãi có cơ sở xác định bà Lê Thị M và ông Hoàng Minh C vay của Ngân hàng
Thương mại cổ phần quốc tế Việt Nam số tiền 534.000.000đ. Đối chiếu với bản sao kê
tính lãi do Ngân hàng cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án cho thấy kể từ ngày
được giải ngân (ngày 18/7/2019) đến ngày 15/11/2023 bà Lê Thị M và ông Hoàng
Minh C đã trả được 284.066.000đ. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Điều 7
của Đơn đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ kèm theo Hợp đồng tín dụng nên
Ngân hàng Thương mại cổ phần quốc tế Việt Nam khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số nợ
gốc và số tiền lãi là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Hội đồng xét xử xét thấy tại các tài liệu do Ngân hàng cung cấp thể hiện khoản
vay của bà Lê Thị M và ông Hoàng Minh C bị quá hạn thanh toán kể từ ngày
15/11/2023. Căn cứ khoản 6, 7 của Đơn đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ kèm
theo Hợp đồng tín dụng tính đến ngày 20/6/2025 bà M, ông C còn thiếu số tiền nợ gốc
là 249.934.000đ và số tiền lãi tính đến ngày 20/6/2025 là nợ lãi: 14.642.957đồng, lãi
quá hạn: 76.036.511 đồng. Tổng cộng là 340.613.468 đồng. Do đó cần buộc bà M, ông
9
C có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần quốc tế Việt Nam số
tiền là 340.613.468 đồng.
- Về số tiền nợ gốc và tiền lãi mà Ngân hàng Thương mại cổ phần quốc tế Việt
Nam buộc bà Lê Thị M, ông Hoàng Minh C phải trả theo Hợp đồng mở và sử dụng tài
khoản tại VIB-PGD Tây Hồ:
Căn cứ vào Hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 16/3/2020, bản tự khai,
bản kê tính lãi có cơ sở xác định Ngân hàng Thương mại cổ phần quốc tế Việt Nam
(VIB)- Phòng giao dịch Tây Hồ đã chấp thuận và phát hành cho bà Lê Thị M được sử
dụng thẻ tín dụng tại VIB với mức hạn mức phê duyệt là 50.000.000đ. Đối chiếu với
bản sao kê tính lãi do Ngân hàng cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án cho thấy kể
từ ngày được mở và sử dụng tài khoản (16/3/2020) bà Lê Thị M, ông Hoàng Minh C
đã sử dụng số tiền 39.201.461đ trong tài khoản (Đây là khoản nợ phát sinh trong thời
kỳ hôn nhân của bà M và ông C). Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Biểu
phí dịch vụ thẻ tính dụng VIB kèm theo Hợp đồng mở và sử dụng tài khoản nên Ngân
hàng Thương mại cổ phần quốc tế Việt Nam khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Lệ Thị M và
ông Hoàng Minh C (Chồng bà M) trả số nợ gốc theo Hợp đồng mở và sử dụng tài
khoản cùng các khoản tiền lãi theo quy định là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử
chấp nhận.
Buộc bị đơn bà Lệ Thị M và ông Hoàng Minh C phải trả số nợ gốc theo Hợp
đồng mở và sử dụng tài khoản và các khoản tiền lãi với tổng số tiền là: 88.619.315
đồng, trong đó: Nợ gốc là: 39.201.461 đồng, nợ lãi: 18.301.820 đồng, lãi quá hạn:
31.116.034 đồng.
Tổng cộng số tiền bà Lê Thị M và ông Hoàng Minh C phải trả cho Ngân hàng
Thương mại cổ phần quốc tế Việt Nam là 429.232.783 đồng.
Bà Lê Thị M và ông Hoàng Minh C phải tiếp tục trả cho Ngân hàng TMCP Quốc
tế Việt Nam các khoản lãi, phí, lãi quá hạn phát sinh theo đúng quy định tại Hợp đồng
tín dụng và Đơn đề nghị phát hành thẻ tín dụng đã ký trong thời gian kể từ ngày
21/06/2025 đến ngày thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
[3]. Về ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên
Bái tại phiên tòa:
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái tại
phiên tòa là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
[4]. Về án phí:
Bà Lệ Thị M và ông Hoàng Minh C phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Ngân hàng Thương mại cổ phần quốc tế Việt Nam không phải chịu tiền án phí
dân sự sơ thẩm.
[5]. Về quyền kháng cáo:
10
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.
Áp dụng Điều 40, Điều 117, Điều 213, Điều 280, Điều 292, Điều 299, Điều 317,
Điều 318, Điều 319, Điều 320, Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 470 Bộ
luật Dân sự năm 2015.
Áp dụng Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16
tháng 6 năm 2010 được sửa đổi bổ sung năm 2017;
Áp dụng khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-
2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và
sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần quốc tế
Việt Nam: Buộc bà Lệ Thị M và ông Hoàng Minh C phải có trách nhiệm trả cho Ngân
hàng Thương mại cổ phần quốc tế Việt Nam số tiền là 429.232.783 đồng (Bốn trăm
hai mươi chín triệu hai trăm ba mươi hai nghìn bảy trăm tám mươi ba đồng chẵn).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày 20/6/2025 cho đến khi thi hành án xong ông
Hoàng Minh C và bà Lê Thị M phải tiếp tục thanh toán khoản tiền lãi đối với số tiền
gốc chậm trả theo mức lãi suất nợ quá hạn mà các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng
tín dụng số: 1624891.19 ngày 18/7/2019 và khoản vay thẻ tín dụng theo Đề nghị phát
hành thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 16/3/2020 là
22,95%/năm tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
2. Trường hợp bà Lệ Thị M và ông Hoàng Minh C không thực hiện hoặc thực
hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần quốc tế Việt Nam
có quyền đề nghị Cơ quan thi hành án phát mại tài sản thế chấp là chiếc xe ô tô nhãn
hiệu TOYOTA; Số loại: RUSH; số khung FF3VKK003355; số máy: 2NRF850765;
màu sơn: Trắng; biển số: 21A-074.94 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số
013866 do phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Yên Bái cấp ngày 16/7/2019; đứng
tên chủ xe Hoàng Minh C để thu hồi nợ theo quy định của Luật thi hành án dân sự.
3. Về án phí:
Bà Lệ Thị M và ông Hoàng Minh C phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là:
21.169.311đồng (Hai mươi mốt triệu một trăm sáu mươi chín nghìn ba trăm mười một
đồng).
Ngân hàng Thương mại cổ phần quốc tế Việt Nam không phải chịu tiền án phí
dân sự sơ thẩm. Ngân hàng Thương mại cổ phần quốc tế Việt Nam được hoàn trả lại:
11
10.060.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số: AA/2023/0000358 ngày
05-02-2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái.
4. Về quyền kháng cáo:
Ngân hàng Thương mại cổ phần quốc tế Việt Nam được quyền kháng cáo bản
án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bà Lệ Thị M và ông Hoàng Minh C được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15
ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7A, 7B và 9 Luật thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án
dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Yên Bái
- VKSND huyện MCC;
- THADS huyện MCC ;
- Các đương sự;
- Lưu HS, TA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Đỗ Tiến Phúc
12
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 26/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 20/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 07/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 30/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 30/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 30/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 30/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 30/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 30/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 28/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 28/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 25/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 25/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 25/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 25/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 25/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 24/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 24/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 24/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 24/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm