Bản án số 01/2024/DS-ST ngày 13/06/2024 của TAND huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai về đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về danh dự, nhân phẩm, uy tín
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 01/2024/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 01/2024/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 01/2024/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 01/2024/DS-ST ngày 13/06/2024 của TAND huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai về đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về danh dự, nhân phẩm, uy tín |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về danh dự, nhân phẩm, uy tín |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Bảo Yên (TAND tỉnh Lào Cai) |
| Số hiệu: | 01/2024/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 13/06/2024 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | 123 |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẢO YÊN
TỈNH LÀO CAI
Bản án số: 01/2024/DS-ST
Ngày 13 tháng 6 năm 2024
“Yêu cầu bồi thường danh dự nhân
phẩm, uy tín”
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO YÊN - TỈNH LÀO CAI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Vũ Quang Đại.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Bá Đường;
2. Bà Phạm Thị Dung
- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Văn Cường - Thư ký Toà án nhân dân huyện
Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên tham gia phiên tòa: Bà
Hoàng Thị Trịnh – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh
Lào Cai, Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai
vụ án dân sự thụ L số: 01/2024/TLST - DS ngày 03 tháng 01 năm 2024 về việc: “Yêu
cầu bồi thường danh dự nhân phẩm uy tín” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
04/2024/QĐST-DS ngày 03 tháng 5 năm 2024, và Quyết định hoãn phiên tòa số
01/QĐST-DS ngày 22 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hứa Thị Kim O - Sinh năm 1989;
Trú tại: O 5 MD, xã Th, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai – Có mặt;
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T - Sinh năm 1989;
Trú tại: Tổ S, thị trấn Pr, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai – Có đơn xin xét xử
vắng mặt.
- Người làm chứng: Chị Bàn Thị L - Sinh năm 1995;
Địa chỉ: O 5 MD, xã Th, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
2
Theo đơn khởi kiện, và các bản các bản tự khai và lời trình bày của chị Hứa
Thị Kim O có nội dung như sau:
Ngày 11/07 /2022 chị Hứa Thị Kim O gửi đơn đến Công an huyện Bảo Yên
tố cáo hành vi chị T có hành vi bôi nhọ danh dự nhân phẩm của chị O trên mạng
xã hội FACEBOOK. Ngày 18/7/2022 chị T đã nhận sai và xin lỗi chị O. Cùng
ngày 18/7/ 2022 chị T liên tục có những lời kể chuyện bôi nhọ danh dự, uy tín của
chị O với những người quen biết của chị T ở xã Th nơi chị O cư trú. Vào tháng 6
năm 2023 chị O nhờ chị Bàn Thị L cùng thôn đến quán bán nước của chị T tại sân
đền, chợ đêm thị trấn Pr ngồi uống nước và dặn chị L nếu chị T có nói xấu chị O
thì dùng điện thoại ghi âm lại.
Ngày 04/7/2023 sau khi nghe lại được đoạn ghi âm có tiếng chị T nói: Chị
O vẫn quan hệ bất chính với chồng chị T, chị T nói chị O bồi dưỡng cho Công an
để Công an giải quyết vụ việc giữa chị O và chị T theo hướng có lợi cho chị O.
Giải quyết vụ việc ngày 21/11/2023 Công an huyện Bảo Yên đã xử phạt hành
chính đối với chị T số tiền 2.500.000 đồng.
Nay chị O khởi kiện yêu cầu chị T phải bồi thường thiệt hại các khoản tiền
sau:
1. Tiền chi phí đi lại làm việc với cơ quan điều tra – Công an huyện Bảo Yên
06 lần X 200.000 đ/01 lần = 1.200.000 đồng;
- Thu nhập thực tế bị mất 06 ngày X 500.000 đồng/01 ngày = 3.000.000
đồng;
- Tổn thất tinh thần 1.800.000 đồng X 05 tháng lương cơ bản = 9.000.000
đồng;
Tổng cộng 13.200.000 đồng.
Trong bản tự khai của chị Nguyễn Thị T có nội dung như sau:
Ngày 13/07/2023 chị T có nói chuyện với 01 người phụ nữ không quen biết,
sau này chị T mới biết đó là chị Bàn Thị L trú tại O 5 MD, xã Th. Sau đó một thời
gian Công an huyện Bảo Yên gọi chị T đến làm việc với nội dung chị T đã có lời
nói xúc phạm, bôi nhọ danh dự nhân phẩm uy tín của chị Hứa Thị Kim O và chị
T bị Công an huyện Bảo Yên xử phạt hành chính 2.500.000 đồng. Theo chị T câu
chuyện giữa chị và chị L chỉ là nói chuyện bình thường, chị T không lan truyền
bôi nhọ danh dự nhân phẩm của chị O trên mạng xã hội. Nay chị O khởi kiện yêu
cầu chị bồi thường các khoản tiền trên chị T không nhất trí.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên phát biểu ý kiến:
Thẩm phán được phân công giải quyết tuân thủ đúng, đầy đủ quy định tại
Điều 48, thụ L vụ án đúng thẩm quyền quy định tại các Điều 26, 35, 39 BLTTDS;
Thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ và kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công
khai chứng cứ đúng quy định; HĐXX, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy
định Điều 49, 51 BLTTDS; Việc tuân theo pháp luật của nguyên đơn đúng quy

3
định của Điều 70, 71, 234; Bị đơn chưa tuân thủ quyền và nghĩa vụ theo Điều 70,
72 BLTTDS; Người làm chứng chưa tuân thủ quy định của Điều 78 BLTTDS.
Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 34, 584, 585, 586, 592 BLDS; Điều 147, 227
BLTTDS; Nghị quyết 236/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; xét xử chấp nhận một phần
yêu cầu của chị Hứa Thị Kim O. Buộc chị T phải bồi thường cho chị O số tiền cụ
thể như sau:
Tiền mất thu nhập thực tế 6 ngày X 300.000 đồng /1 ngày = 1.800.000 đồng;
Tiền tổn thất tinh thần 1.800.000 đồng. Tổng cộng 3.600.000 đồng.
Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của
pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra
tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị O làm đơn khởi kiện về yêu cầu chị T bồi thường
danh dự nhân phẩm uy tín. Chị T cư trú trên địa bàn huyện Bảo Yên. Vì vậy tranh
chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào
Cai theo quy định tại Điều 26; Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của chị Hứa Thị Kim O:
Tại các biên bản khai thác dữ liệu điện tử tại Công an huyện Bảo Yên. Sau
khi nghe xong các đoạn ghi âm tại USB do chị O cung cấp cho cơ quan điều tra
đã xác định được: Chị T có những câu nói xúc phạm đến chị Hứa Thị Kim O (Bút
lục số 20) Sau khi nghe xong đoạn ghi âm chị T đã thừa nhận đó là những lời nói
ám chỉ chị Hứa Thị Kim O sinh năm 1989 trú tại bản 5 MD, xã Th, huyện Bảo
Yên, tỉnh Lào Cai.
Ngày 20 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Công an huyện Bảo Yên chị T đã công
khai xin lỗi chị Hứa Thị Kim O (Có biên bản); Cùng ngày Công an huyện Bảo
Yên đã Quyết định xử phạt hành chính 2.500.000 đồng đối với chị Nguyễn Thị T
về hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của chị O. Qua nghiên cứu hồ sơ xử
phạt hành chính đối với chị T đã xác định được chị T đã có hành vi (Lời nói) xúc
phạm đến danh dự, nhân phẩm uy tín của chị O dẫn đến có lỗi đối với chị O. Vì
vậy Quyết định xử phạt hành chính của Công an huyện Bảo Yên là đúng người,
đúng hành vi và đúng pháp luật.
Do chị T có lỗi với chị O, chị O khởi kiện yêu cầu chị T bồi thường danh dự,
nhân phẩm, uy tín là phù hợp với quy định của pháp luật.
Xét yêu cầu bồi thường thiệt hại của chị O.
- Về tiền chi phí đi lại làm việc với cơ quan điều tra – Công an huyện Bảo
Yên. Chị O có đơn tố cáo chị Nguyễn Thị T tố giác hành vi vi phạm pháp luật
hình sự của chị T. Theo khoản 2 Điều 56 Bộ luật tố tụng hình sự thì chị O phải có

4
mặt theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm. Vì
vậy cần bác yêu cầu bồi thường này của chị O. Tuy nhiên thời gian làm việc với
cơ quan điều tra được tính vào thời gian mất thu nhập là phù hợp. Trong quá trình
thu thập chứng cứ Tòa án đã xác định được thu nhập trung bình trung tại thôn MD
xã Th 300.000/01 ngày/01 đầu người. Chị O đã cung cấp 01 đơn xác nhận cá nhân
chị có mức thu nhập từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng /01 tháng. Tại phiên
tòa chị O khai 06 lần đến Cơ quan điều tra để làm việc mỗi lần chỉ làm việc ½
ngày. Vì vậy bồi thường cả ngày mỗi ngày 500.000 đồng tiền mất thu nhập là
không phù hợp. Cần bác một phần yêu cầu của chị O.
Cụ thể mức thu nhập của chị O được tính 600.000 đồng/01 ngày X 03 ngày
(6 ngày mỗi ngày tính 1/2 ngày = 03 ngày) = 1.800.000 đồng.
Tại phiên tòa chị O khai đi lại bằng xe mô tô thuê của người dân trong thôn
vì vậy chị yêu cầu 200.000 đông/01 lần x 6 lần = 1.200.000 đồng. Tuy nhiên chị
O không xuất trình được chứng từ chứng minh chị đã thuê xe. Cần bác một phần
yêu cầu của chị O.
Cụ thể được tín: Tiền xe đi lại 100.000 đồng/01 lượt (Tính cả chiều đi chiều
về) X 6 lượt = 600.000 đồng.
Chị O Khai sau khi sự việc xảy ra vợ chồng chị có cãi, đánh nhau nhưng
hàng xóm và thôn bản không biết nên không có biên bản hòa giải đồng thời chị O
không xuất trình được các chứng cứ chị bị thương tích hoặc điều trị tại cơ sở y tế
do suy sụp tinh thần. Tuy nhiên chị O bị chị T xúc phạm về danh dự, nhân phẩm
uy tín nên ít nhiều tổn thất về tinh thần.
Về mức bồi thường chị O yêu cầu bồi thường 9.000.000 đồng là cao cần chấp
nhận một phần yêu cầu của chị O. Cụ thể chị T phải bồi thường cho chị O bằng
01 tháng lương tối thiểu là 1.800.000 đồng.
Tổng cộng chị Nguyễn Thị T phải bồi thường cho chị O tổng số tiền
4.200.000 đồng.
[3] Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 6 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39,
Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 34, 584, 585, 586, 592 Bộ luật dân sự, Nghị
quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về
án phí lệ phí Tòa án.
1. Buộc chị Nguyễn Thị T phải bồi thường cho chị Hứa Thị Kim O Số tiền
4.200.000 đồng (Bốn triệu hai trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và từ ngày người được thi hành án
có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng
5
bên thi hành án phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm thi hành án tương ứng
với thời gian chậm thi hành án theo quy định tại Điều 357, 468 Bộ luật dân sự.
2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000
đồng.
Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7 a và 9 Luật Thi hành án
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi
hành án dân sự.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể
từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận
được hoặc niêm yết bản án.
Nơi nhn:
- TAND tỉnh Lào Cai;
- VKSND huyện Bảo Yên (2);
- THADS huyên Bảo Yên;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ, VP, TQĐ.
TM. HỘI ĐNG XT X SƠ THM
THM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Vũ Quang Đại
6
THÀNH VIÊN HĐXX - THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Bá Đường – Phạm Thị Dung Vũ Quang Đại
7
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng