Bản án số 96/2022/HS-PT ngày 31/08/2022 của TAND tỉnh Lâm Đồng
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 96/2022/HS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 96/2022/HS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 96/2022/HS-PT ngày 31/08/2022 của TAND tỉnh Lâm Đồng |
|---|---|
| Tội danh: | |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Lâm Đồng |
| Số hiệu: | 96/2022/HS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 31/08/2022 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TA N NHÂN DÂN
TNH LÂM ĐNG
CNG HA X HI CH NGHA VIT NAM
Đc lp – T do – Hnh phc
Bn n s: 96/2022/HS-PT
Ngy: 31-8-2022
NHÂN DANH
NƯC CNG HA X HI CH NGHA VIT NAM
TA N NHÂN DÂN TNH LÂM ĐNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Hữu Hồng
Các Thẩm phán:
Ông Dư Thnh Trung
B Lê Thị Vân
- Thư ký phiên tòa: Ông Hong Quc Huy - Thư ký Tòa n nhân dân tỉnh
Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa:
B Trần Thị Đo - Kiểm st viên.
Ngày 31 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa n nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét
xử phúc thẩm vụ n hình sự thụ lý s 231/2021/TLST-HS ngày 13/12/2021 đi
với bị co Vũ Tiến M, do có khng co của bị co đi với Bn n hình sự sơ
thẩm s 158/2021/HSST ngày 01-11-2021 của To n nhân dân huyện Đức Trọng,
tỉnh Lâm Đồng.
* Bị cáo có kháng cáo.
Họ v tên: Vũ Tiến M, sinh năm 1976; nơi sinh: Nam Định; nơi cư trú:
Thôn PN, xã HT, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Li xe; trình
độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không quc tịch: Việt
Nam; con ông: Vũ Văn Q, sinh năm 1950, con bà: Phạm Thị S, sinh năm 1958;
anh, chị, em ruột: Có 04 người, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 1984; vợ:
Ngô Thị Hồng S, sinh năm 1979; con: Có 03 người con, lớn nhất sinh năm
1999, nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án: Không; tiền sự: Quyết định s 177/QĐ-
XPHC ngày 15/8/2020 của Công an huyện Đức Trọng xử phạt bị cáo
2.500.000đ về hnh vi “Xâm hại đến sức khỏe của người khác”. Bị cáo chấp
hành vào ngày 30/9/2020.
Nhân thân: Tại bn án s 123/2013/HSST ngày 08/11/2013 của Tòa án
nhân dân huyện Đức Trọng xử phạt 15.000.000đ về tội “Đánh bạc” , bị cáo chấp
hành xong vào ngày 20/4/2020.
2
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngy 06/7/2021, đến ngy 06/8/2021 được thay
thế biện php ngăn chặn, hiện bị cáo đang tại ngoại. (có mặt)
* Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Đình H – Công ty Luật
TNHH MTV Hi Châu; Đoàn Luật sư tỉnh Đồng Nai. (có mặt)
* Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Đức Tr, sinh năm 1983; trú tại: S 37, đường Hong Quc
Việt, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. (vắng mặt)
- Ông Đặng Thanh L, sinh năm 1993; trú tại: S 27, đường Bùi Thị Xuân,
thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. (vắng mặt)
- Ông Hồ Trọng Q, sinh năm 1980; trú tại: S 127/8, đường Hong Văn
Thụ, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. (vắng mặt)
- Bà Phan Thị Hoàng L1, sinh năm 1983; trú tại: S 27, đường Đng Đa,
thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1971; trú tại: S 55/9, đường Hong Văn
Thụ, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Hong Phương Th, sinh năm 1982; trú tại: S 95, đường
Nguyễn Trường Tộ, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Phi T, sinh năm 1992; trú tại: Thôn BH, xã HT, huyện Đức
Trọng, tỉnh Lâm Đồng. (vắng mặt)
- Ông Trương Thanh Th, sinh năm 1975; trú tại: Thôn BH, xã HT, huyện
Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng. (vắng mặt)
- Ông Lìu A M1, sinh năm 1993; trú tại: S 24/5/10, đường Lê Lợi, thị trấn
L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. (vắng mặt)
- Ông Lê Xuân V1, sinh năm 1989; trú tại: Thôn Qung Hiệp, xã Hiệp
Thạnh, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng. (có mặt)
- Ông Bùi Minh T2, sinh năm 1990; trú tại: Thôn PN, xã HT, huyện Đức
Trọng, tỉnh Lâm Đồng. (vắng mặt)
- Ông Trần Đức Tr, sinh năm 1988; trú tại: Thôn Qung Hiệp, xã Hiệp
Thạnh, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng. (vắng mặt)
- Ông Võ Pht Đ, sinh năm 1995; trú tại: Thôn BH, xã HT, huyện Đức
Trọng, tỉnh Lâm Đồng. (vắng mặt)
- Ông Lâm Anh T3, sinh năm 1991; trú tại: Thôn BH, xã HT, huyện Đức
Trọng, tỉnh Lâm Đồng. (có mặt)
- Bà Trịnh Thị Út Nh, sinh năm 1980; trú tại: S 61, đường Sư Vạn Hạnh,
thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. (vắng mặt)
3
NI DUNG VỤ N:
Theo cc ti liệu có trong hồ sơ vụ n v diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ n được tóm tắt như sau:
Căn cứ Quyết định s 1076/QĐ-UBND ngày 08/6/2021 của UBND huyện
Đức Trọng về việc kiện toàn Đoàn kiểm tra liên ngành phòng, chng dịch Covid
19 trên địa bàn huyện Đức Trọng năm 2021; Công văn s 4532/UBND-VX3
ngày 03/7/2021 của UBND tỉnh Lâm Đồng về việc khẩn trương thực hiện quyết
liệt các biện pháp phòng, chng dịch bệnh Covid-19.
Vo khong 17h30 ngày 04/7/2021, Đoàn công tác liên ngành phòng, chng
dịch Covid-19 của UBND huyện Đức Trọng (sau đây viết tắt là Đoàn CTLN) do
ông Nguyễn Đức Tr (mặc trang phục dân sự, đeo bng tên chức danh) – Trưởng
phòng Y tế huyện Đức Trọng làm Trưởng đoàn, cùng các thành viên:
1) Ông: Đặng Thanh L – Cấp bậc Trung úy, Cán bộ Đội Cnh st qun lý
hành chính về trật tự xã hội Công an huyện Đức Trọng (mặc trang phục cnh sát
nhân dân, có bng tên, cấp hàm).
2) Ông: Hồ Trọng Q – Chuyên viên phòng Nông nghiệp và PTNT huyện
Đức Trọng (mặc trang phục dân sự, đeo bng tên chức danh).
3) Bà: Phan Thị Hong L1 – Chuyên viên phòng y tế huyện Đức Trọng.
4) Ông: Nguyễn Văn H – Chuyên viên phòng Tư php huyện Đức Trọng.
5) Bà: Nguyễn Hong Phương Th – Chuyên viên phòng Văn hóa và thông
tin huyện Đức Trọng.
Tiến hành kiểm tra tại quán ăn Linh Nhi, địa chỉ S 61 Sư Vạn Hạnh, thị
trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng phát hiện có 01 xe ô tô BKS 49A – 336.11 và 01
xe ô tô BKS 49D – 003.46 đang để trước quán. Kiểm tra bên trong quán có 09
người đang ngồi ăn ung chung tại một bàn bên phi của quán theo hướng từ
ngoài vào trong, đi diện quầy thu ngân, bao gồm: Vũ Tiến M, Nguyễn Phi T,
Trương Thanh Th, Lìu A M1, Lê Xuân V1, Bùi Minh T2, Trần Đức Tr, Võ Phát
Đ, Lâm Anh T3.
Thnh viên Đoàn CTLN có bà Nguyễn Hong Phương Th dùng điện thoại
di động cm ứng quay phim lại việc 09 người nói trên đang ăn ung để có cơ sở
xử lý. Khi vào kiểm tra, Đoàn CTLN mời chủ quán là bà Trịnh Thị Út Nh làm
việc, yêu cầu xuất trình giấy tờ để lập biên bn kiểm tra thì Vũ Tiến M đi đến
ngồi cùng bàn làm việc với Đoàn CTLN và được gii thích việc kiểm tra phòng
chng dịch Covid-19. M to tiếng với Đoàn CTLN và trình bày việc ăn cơm l
người trong gia đình với nhau, sau đó Minh về lại bàn ăn. Ông Nguyễn Đức Tr
xem lại hình nh trong điện thoại cá nhân của bà Nguyễn Hong Phương Th quay
4
bị mờ nên yêu cầu bà Th chụp hình lại s người đang ngồi bên bàn ăn. Thấy bà
Th chụp hình, Vũ Tiến M đi đến sát bàn làm việc của Đoàn CTLN và to tiếng hỏi
lý do quay phim, chụp hình khi chưa được sự đồng ý của M. M dùng tay phi
đnh về phía bà Th, bà Th lùi về sau tránh né được. M được can ngăn bỏ đi ra
gần đến trước quán thì quay lại, tiếp tục to tiếng và dùng hai tay nhấc chiếc ghế
gỗ của quán nâng vòng qua đầu đập về phía bà Th, bà Th né tránh được, chiếc
ghế va chạm vào tường văng vào cổ tay bà Th rơi xung nền nhà. Mọi người can
ngăn nhưng M vẫn to tiếng chửi bới, sau đó Đoàn CTLN điện thoại báo Công an
huyện Đức Trọng đề nghị tăng cường lực lượng.
Vật chứng của vụ n: Qu trình điều tra, Cơ quan Cnh sát điều tra đã thu giữ:
+ 01 chiếc ghế gỗ có lưng tựa, chân ghế cao 0,45m, mặt ghế vuông kích
thước 0,39m x 0,39m. Hiện vật chứng ny Cơ quan Cnh st điều tra Công an
huyện Đức Trọng đã bn giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Trọng
chờ xử lý.
+ 01 đầu ghi hình 04 kênh mu đen đã qua sử dụng, nhãn hiệu Dahua
Technology, model: DH-XVR5104HS-X1. Sau khi gim định hình nh Cơ quan
Cnh st điều tra Công an huyện Đức Trọng đã tr lại cho chủ sở hữu là bà
Trịnh Thị Út Nh theo quy định.
Đi với thương tích của b Nguyễn Hong Phương Th bị thương tích
phần mềm, đã hồi phục nên bà Th tự nguyện viết đơn từ chi gim định tỷ lệ
thương tật v không có yêu cầu gì thêm về mặt dân sự nên không đề cập đến.
Co trạng s 150/CT-VKS ngày 13 tháng 9 năm 2021 của Viện kiểm sát
nhân dân huyện Đức Trọng đã truy t bị co Vũ Tiến M về tội “Chống người thi
hành công vụ” quy định tại khon 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi,
bổ sung năm 2017.
Tại Bn n hình sự sơ thẩm s 158/2021/HSST ngy 01-11-2021 của To n
nhân dân huyện Đức Trọng đã xử;
Tuyên b bị co Vũ Tiến M phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
Áp dụng khon 1 Điều 330; điểm s khon 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình
sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây viết tắt là BLHS 2015).
Xử phạt bị co Vũ Tiến M 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngy
bắt giam thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/7/2021
đến ngy 06/8/2021 vo thời gian chấp hnh n.
Ngy 01/11/2021 bị co Vũ Tiến M có đơn kháng cáo kêu oan, không
phạm tội.
Tại phiên to phúc thẩm,
5
Bị co vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và cho rằng quán ăn Linh Nhi là
quán ăn do bị cáo có góp vn, đồng thời những người ngồi ăn cơm với tính chất
gia đình. Khi Đoàn CTLN vào kiểm tra, bị cáo không được biết, Đoàn CTLN
không công b quyết định, giới thiệu thành viên Đoàn CTLN mà tự ý quay
phim, chụp nh khi chưa xin phép bị cáo. Do vậy, bị cáo mới có hành vi phn
kháng lại, do lỗi của Đoàn CTLN nên bị cáo không biết là Đoàn CTLN đang đi
kiểm tra, bị cáo thừa nhận có hành vi vi phạm phát luật nhưng không có hành vi
chng người thi hành công vụ.
Đại diện Viện kiểm st nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu quan điểm của
Viện kiểm sát; xác định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Trọng
truy t và bn án Toà án nhân dân huyện Đức Trọng xét xử bị cáo Vũ Tiến M
phạm tội “Chống người thi hành công vụ”, theo khon 1 Điều 330 BLHS năm
2015 là đúng quy định của pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là
HĐXX) căn cứ điểm a khon 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật T tụng hình sự,
không chấp nhận khng co của bị co, giữ nguyên bn n sơ thẩm.
Luật sư bo chữa cho bị co trình by luận cứ và nêu những nội dung cụ
thể sau; về t tụng, bn n sơ thẩm chưa lm rõ hnh vi hợp php của cơ quan
tiến hnh t tụng, chỉ đưa vào hồ sơ vụ án các chứng cứ có liên quan đến tình
tiết buộc tội mà không đưa chứng cứ liên quan đến tình tiết dẫn đến bị cáo bức
xúc, có hành vi to tiếng với người quay phim như trong đoạn clip được bị cáo
xuất trình đã được HĐXX trình chiếu, kiểm tra tại phiên toà; Đon CTLN có vi
phạm, không có quyết định phân công b Nguyễn Hong Phương Th là thành
viên Đon kiểm tra, không đeo bng tên nên dẫn đến bị co không biết b Tho
đang thi hnh công vụ, đồng thời thừa nhận cc hình nh trong clip đã được
HĐXX kiểm tra tại phiên tòa l do bị co cung cấp v có nguồn gc do b Tho
quay, đề nghị HĐXX xem xét. Sau phiên tòa sơ thẩm bị co khng co kêu oan
v thay đổi lời khai do tại Cơ quan điều tra bị cáo bị mớm cung nên đề nghị
HĐXX xem xét chấp nhận khng co của bị co. Đồng thời, việc Cơ quan điều
tra xc định tư cch tham gia t tụng của những người trong Đon CTLN không
đm bo. Cụ thể, từ người bị hại sang người lm chứng, không đưa UBND huyện
Đức Trọng vào tham gia t tụng với tư cách là nguyên đơn dân sự. Do vậy, đề
nghị HĐXX cấp phúc thẩm tuyên b bị co không phạm tội “Chống người thi
hành công vụ” hoặc hủy bn n sơ thẩm để điều tra lại theo thủ tục chung.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo kêu oan,
cho rằng bị cáo không phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
NHẬN ĐỊNH CA TA N:
6
Trên cơ sở nội dung vụ n, căn cứ vo cc ti liệu trong hồ sơ vụ n đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét đơn khng co của bị co gửi đến To n trong hạn luật định nên
thời hạn khng co của bị co l hợp lệ, nội dung khng co kêu oan.
[1] Căn cứ lời khai của bị co, lời khai của người lm chứng v cc chứng
cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Vào khong 17h30 ngày 04/7/2021, Đoàn
CTLN phòng, chng dịch Covid-19 của UBND huyện Đức Trọng do ông
Nguyễn Đức Tr - Trưởng phòng Y tế huyện Đức Trọng làm trưởng đoàn, cùng
với 5 thành viên tiến hành kiểm tra tại quán ăn Linh Nhi, địa chỉ S 61 Sư Vạn
Hạnh, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng theo tinh thần chỉ đạo của Công văn s
4532/UBND-VX3 ngày 03/7/2021 của UBND tỉnh Lâm Đồng “Về việc khẩn
trương thực hiện quyết liệt các biện pháp phòng, chống dịch bệnh Covid-19” và
Quyết định s 1076/QĐ-UBND ngày 08/6/2021 của UBND huyện Đức Trọng
“Về việc kiện toàn Đoàn kiểm tra liên ngành phòng, chống dịch Covid-19 trên địa
bàn huyện Đức Trọng năm 2021”. Qua kiểm tra, Đoàn CTLN phát hiện bên trong
quán có 09 người đang cùng ngồi ăn ung chung tại một bàn bên phi của quán
theo hướng từ ngoài vào trong, đi diện quầy thu ngân, bao gồm: Vũ Tiến M,
Nguyễn Phi T, Trương Thanh Th, Lìu A M1, Lê Xuân V1, Bùi Minh T2, Trần
Đức Tr, Võ Pht Đ, Lâm Anh T3.
Thnh viên Đoàn CTLN có bà Nguyễn Hong Phương Th dùng điện thoại
di động cm ứng quay phim lại việc 09 người nói trên đang ăn ung để có cơ sở
xử lý. Đồng thời, đoàn kiểm tra mời chủ quán là bà Trịnh Thị Út Nh làm việc,
yêu cầu xuất trình giấy tờ để lập biên bn kiểm tra. Lúc này, Vũ Tiến M đang
ngồi ăn cùng 09 người nói trên trong quán đứng lên đi đến ngồi cùng bàn làm
việc với Đoàn kiểm tra và được Đoàn CTLN gii thích việc kiểm tra phòng
chng dịch Covid-19. Sau khi nghe gii thích, bị cáo Minh to tiếng với Đoàn
CTLN và trình bày việc ăn cơm l người trong gia đình với nhau, sau đó bị cáo
về lại bàn ăn. Trong lúc làm việc, ông Nguyễn Đức Tr, Trưởng đoàn CTLN yêu
cầu thành viên trong Đoàn CTLN là bà Nguyễn Hong Phương Th quay lại hình
nh các thực khách đang ngồi ăn trong quán để có căn cứ xử lý vi phạm đi với
chủ quán, do hình nh bà Tho quay trước đó bị mờ. Thấy bà Tho chụp hình, bị
cáo Minh đi đến sát bàn làm việc của Đoàn CTLN và to tiếng hỏi lý do quay
phim, chụp hình khi chưa được sự đồng ý của bị cáo. Bị cáo dùng tay phi đnh
về phía bà Tho, bà Tho lùi về sau tránh được và bị cáo Minh được Cnh sát
mặc sắc phục là thành viên trong Đoàn CTLN đưa ra ngoài quán, nhưng ra đến
trước quán thì quay lại, tiếp tục to tiếng và dùng hai tay nhấc chiếc ghế gỗ của
quán nâng vòng qua đầu đập về phía bà Th, bà Th né tránh được, chiếc ghế va
7
chạm vào tường văng vào cổ tay bà Th rơi xung nền nhà. Mọi người can ngăn
nhưng bị cáo vẫn to tiếng chửi bới. Hành vi nói trên của bị cáo đã được bn án
sơ thẩm phân tích, đánh giá và tuyên xử bị cáo về tội “Chống người thi hành
công vụ” theo quy định tại khon 1 Điều 330 BLHS năm 2015.
[3] Xét khng co của bị co: HĐXX thấy rằng, tại phiên toà phúc thẩm, bị
cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo với nội dung kêu oan, bị cáo cho rằng
không phạm tội “Chống người thi hành công vụ” như bn án sơ thẩm đã tuyên
xử và cho rằng Đoàn kiểm tra không thực hiện đúng quy định tại Nghị định s
208/2013/NĐ-CP ngy 17/12/2013 của Chính phủ “Quy định về các biện pháp
phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý hành vi chống người thi hành công vụ”, bị cáo
thừa nhận có hành vi vi phạm pháp luật nhưng không phạm tội “Chống người
thi hành công vụ”.
Qua lời trình bày của bị cáo, luận cứ của người bào chữa cho bị cáo, đi
chiếu với các lời khai của bị cáo, lời khai của các thành viên Đoàn CTLN, lời
khai của chủ quán và các nhân chứng trong vụ án. HĐXX xét thấy, vào năm
2020-2021, đại dịch Covid-19 bùng phát mạnh trên c nước, gây nh hưởng đặc
biệt nghiêm trọng đến tình hình Kinh tế - Xã hội, an ninh trật tự; Thủ tướng
Chính phủ đã ban hành các chỉ thị yêu cầu các địa phương trong c nước phi
thực hiện nghiêm công tác phòng chng dịch Covid-19 và thực hiện đúng quy
định của Bộ y tế về triển khai quy định 5K (khử khuẩn, khong cách, không tụ
tập, khẩu trang, khai báo y tế). UBND tỉnh Lâm Đồng ban hành Văn bn s
4532/UBND-VX3 ngày 03/7/2021 về việc khẩn trương thực hiện quyết liệt các
biện pháp phòng, chng dịch bệnh Covid-19, trong đó có nội dung “Đối với
quán ăn uống (kể cả quán ăn uống vĩa hè) chỉ phục vụ bán mang về, không phục
vụ tại chỗ”. Việc nghiêm cấm tụ tập đông người tại các điểm kinh doanh là biện
pháp cần thiết tại thời điểm chng dịch mà tất c mọi công dân phi chấp hành.
Khi bị cáo cùng 8 người đi đến quán thì quán Linh Nhi đóng cửa không bán, bị
cáo gọi cửa được chủ quán là Trịnh Thị Út Nh thông báo lý do thực hiện phòng
chng dịch Covid-19 nên không bán. Sau khi nói chuyện thì chủ quán đồng ý và
nhóm người đi cùng bị cáo vào trong quán và khép cửa lại. Như vậy, bị cáo và
những người đi cùng đều biết rõ, việc tập trung đông người trong quán ăn vào
thời điểm bùng phát dịch Covid-19 là vi phạm chỉ thị của Thủ tướng Chính Phủ
và các biện pháp phòng chng dịch bệnh Covid-19 của chính quyền địa phương.
Bn án sơ thẩm đã phân tích, đánh giá hành vi phạm tội của bị cáo, hành vi
phạm tội của bị cáo đã cn trở hoạt động bình thường của người thi hành công
vụ. Hoạt động của Đoàn CTLN là hoạt động cần thiết, mang tính cấp bách trong
thời điểm bùng phát dịch nên lời trình bày của bị cáo và luật sư bào chữa cho bị

8
cáo trình bày Đoàn CTLN vi phạm Nghị định 208/2013/NĐ-CP ngày
17/12/2013 của Chính phủ là không phù hợp với giai đoạn phòng chng dịch,
trong khi ton xã hội đang cùng cơ quan chức năng, chính quyền địa phương tổ
chức thực hiện Chỉ thị phòng chng dịch Covid – 19 của Chính Phủ theo hướng
dẫn của Bộ Y tế nhưng qun ăn Linh Nhi đã c tình vi phạm, những thực khch
trong qun có bị co. Tại thời điểm Đon CTLN đến lm việc, bị co không phi
l đi tượng kiểm tra, cấp sơ thẩm đã xem xét, đnh gi chứng cứ v tuyên b bị
co phạm tội “Chống người thi hành công vụ” tội phạm v hình phạt được quy
định tại khon 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự năm 2015 l có căn cứ, đúng người,
đúng tội, đúng php luật. Do vậy, hnh vi phạm tội của bị co l không oan. Từ
những nhận định trên, HĐXX không chấp nhận khng co của bị co, giữ nguyên
bn n sơ thẩm.
[3] Về n phí: Do khng co không được chấp nhận, nên bị co phi chịu
án phí hình sự phúc thẩm.
Vì cc lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khon 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật T tụng hình sự.
1. Không chấp nhận khng co của bị cáo Vũ Tiến M, giữ nguyên bn n
sơ thẩm.
Tuyên b bị co Vũ Tiến M phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
Áp dụng khon 1 Điều 330; điểm s khon 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình
sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị co Vũ Tiến M 30 (ba mươi) thng tù. Thời hạn tù tính từ ngy
bắt giam thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngy 06/7/2021
đến ngy 06/8/2021 vo thời gian chấp hnh n.
2. Về n phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật t tụng hình sự; Điều 23 Nghị
quyết s: 326/2016/UBTVQH14 ngy 30 thng 12 năm 2016 của Uỷ ban
thường vụ Quc hội quy định về n phí, lệ phí Tòa n. Buộc bị co Vũ Tiến M
phi chịu 200.000đ n phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bn n sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bn án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Vụ GĐKT I – TANDTC (01);
- VKSND tỉnh Lâm Đồng (01);
- Phòng KTNV&THA (04);
- Sở Tư php tỉnh Lâm Đồng (01);
- TAND huyện Đức Trọng (02);
TM. HI ĐNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHN – CH TỌA PHIÊN TA
Đã ký
9
- VKSND huyện Đức Trọng (02);
- Cơ quan CSĐT CA huyện Đức Trọng (02););
- Cơ quan THAHS CA huyện Đức Trọng (02);
- Phòng PV 06 Công an tỉnh Lâm Đồng (01);
- Bị cáo (01); Luật sư (02);
- Hồ sơ THAHS (06);
- Lưu hồ sơ; Án văn.
Nguyễn Hữu Hồng
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 05/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 03/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 26/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 26/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 24/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 24/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm