Bản án số 95/2024/DS-PT ngày 09/07/2024 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 95/2024/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 95/2024/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 95/2024/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 95/2024/DS-PT ngày 09/07/2024 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Lâm Đồng |
| Số hiệu: | 95/2024/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 09/07/2024 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Đặng Phi Tuấn tranh chấp hợp đồng vay tài sản Trần Duy Kim Long |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 95/2024/DS-PT
Ngày: 09-7-2024
V/v: “Tranh chấp hợp đồng
dân sự vay tài sản”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Vũ Thị Nguyệt
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Vân
Ông Nguyễn Văn Thanh
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Ngọc Huyền – Thư ký, Toà án nhân dân tỉnh
Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng: Bà Võ Thị Kim Anh –
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 09 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 75/2024/TLPT-DS ngày 27 tháng 5 năm
2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2024/DS-ST ngày 27/02/2024 của Tòa án
nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 190/2024/QĐ-PT ngày
03 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 97/2024/QĐ-PT ngày 24
tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Đặng Phi T, sinh năm: 1980; cư trú tại số G, đường T,
thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
- Bị đơn: Ông Trần Duy Kim L, sinh năm: 1976, bà Nguyễn Thị Ngọc C,
sinh năm: 1979; cư trú tại số I, thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Lê Văn B, sinh năm 1965, cư
trú tại số A, đường H, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng (Văn bản ủy quyền
ngày 07/6/2024).
2
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nghiêm Xuân L1, sinh năm:
1965; cư trú tại thôn T, xã M, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
Người kháng cáo: Ông Trần Duy Kim L, bà Nguyễn Thị Ngọc C - Bị đơn.
(Ông T, ông B có mặt tại phiên tòa; ông L, bà C, ông L1 vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và lời khai của nguyên đơn ông Đặng Phi T trình bày:
Vào ngày 10/4/2023 vợ chồng ông Trần Duy Kim L, bà Nguyễn Thị Ngọc C có
vay của ông số tiền là 4.180.000.000 đồng (Bốn tỷ một trăm tám mươi triệu đồng).
Vợ chồng ông L, bà C hẹn đến ngày 10/5/2023 sẽ trả lại cho ông số tiền này. Khi
vay tiền vợ chồng ông L, bà C có viết giấy mượn tiền, ký xác nhận vào giấy mượn
tiền. Mục đích ông L, bà C vay là để mua đất, trong giấy mượn tiền không thỏa
thuận lãi suất những hai bên có thỏa thuận lãi suất bằng miệng 1%/1 tháng. Ông
L, bà C chưa trả được cho ông nợ gốc và lãi suất. Quá thời hạn trả nợ ông đã yêu
cầu ông L, bà C trả nợ cho ông rất nhiều lần nhưng ông L, bà C thường xuyên
tránh mặt và không nghe điện thoại. Nay ông khởi kiện yêu cầu ông L, bà C có
nghĩa vụ trả cho ông số tiền nợ gốc 4.180.000.000 đồng và tiền lãi suất 20%/năm,
tính từ ngày 10/4/2023 cho đến nay.
Qua ý kiến trình bày của ông L, bà C trình bày trong quá trình làm việc tại
Toà án thì ông không đồng ý. Do quen biết nên trước đó ông có cho vợ chồng ông
L, bà C vay tiền rất nhiều lần. Các khoản nợ cũ hai bên đã tính toán ông L, bà C
đã trả xong. Hiện nay ông L, bà C chỉ còn nợ ông khoản nợ mới là khoản nợ ngày
10/4/2023 với số tiền 4.180.000.000 đồng. Nay ông khởi kiện yêu cầu ông L, bà
C có nghĩa vụ trả cho ông số tiền nợ gốc 4.180.000.000 đồng và tiền lãi suất
20%/năm, tính từ ngày 10/4/2023 cho đến nay. Trường hợp nếu ông L, bà C chứng
minh được từ ngày 10/4/2023 vay khoản nợ này mà ông L, bà C đã chuyển trả
cho ông được bao nhiêu tiền thì ông đồng ý trừ vào khoản nợ 4.180.000.000 đồng
cho ông L, bà C. Việc vợ chồng ông L, bà C trình bày không nhận số tiền
4.180.000.000 đồng là không đúng sự thật. Ông L, bà C có vay tiền và có nhận
tiền thì mới ký xác nhận vào giấy mượn tiền ngày 10/4/2023. Nay ông vẫn giữ
nguyên yêu cầu khởi kiện nêu trên.
- Bị đơn ông Trần Duy Kim L, bà Nguyễn Thị Ngọc C trình bày: Từ tháng
01/2022 đến tháng 9/2022 vợ chồng ông bà có vay tiền của ông Đặng Phi T nhiều
lần tổng cộng lại là 2.000.000.000 đồng. Ngày 09/9/2022, vợ chồng ông bà có vay
thêm của ông T là 1.000.000.000 đồng, nhưng thực tế vợ chồng ông bà chỉ nhận
từ ông T 850.000.000 đồng vì vợ chồng ông bà trả cho ông T 150.000.000 đồng
tiền lãi. Tổng cộng vợ chồng ông bà có vay của ông T 3.000.000.000 đồng. Lãi
suất vay 3.000đồng/1.000.000đồng/ngày tức là 9%/tháng, 108%/năm (hai bên chỉ
thỏa thuận miệng với nhau về lãi suất, không ghi giấy tờ gì). Trong thời gian vay
3
tiền của ông T thì vợ chồng ông bà đã trả được cho ông T tổng cộng là
2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng) gồm cả tiền nợ gốc và tiền lãi suất. Do vợ chồng
ông bà khó khăn vì chưa chuyển nhượng được đất nên không có tiền trả nợ cho
ông T nên đến ngày 10/4/2023 giữa vợ chồng ông bà và ông T có chốt nợ lại là
vợ chồng ông bà có nợ ông T 4.180.000.000 đồng, ông T yêu cầu ghi giấy mượn
tiền thì vợ chồng ông bà đã ghi và ký vào giấy mượn tiền ghi ngày 10/4/2023 vì
vợ chồng ông bà đang nợ tiền ông T. Số tiền 4.180.000.000 đồng là do ông T cộng
tiền nợ gốc và lãi suất nên thành số tiền này. Ngày 10/4/2023 vợ chồng ông bà
không có nhận số tiền này bằng tiền mặt.
Nay qua yêu cầu khởi kiện của ông T yêu cầu vợ chồng ông bà có nghĩa vụ
trả cho ông T số tiền nợ gốc 4.180.000.000 đồng và tiền lãi suất 20%/năm, tính từ
ngày 10/4/2023 cho đến nay thì vợ chồng ông bà không đồng ý. Vợ chồng ông bà
có ý kiến như sau: Yêu cầu Tòa án tính lãi suất theo quy định 20%/năm của khoản
tiền 3.000.000.000 đồng nợ gốc tính theo từng đợt của các khoản vay cho đến nay
trừ vào khoản tiền 2.000.000.000 đồng ông bà đã chuyển khoản cho ông T theo
bảng kê còn dư bao nhiêu thì tính vào tiền nợ gốc của khoản nợ 3.000.000.000
đồng. Tính toán xong số tiền nợ gốc mà vợ chồng ông bà còn nợ cụ thể tiền nợ
gốc thì vợ chồng ông bà có trách nhiệm trả cho ông T. Hiện nay vợ chồng ông bà
đang xin sao kê số tiền chuyển khoản tại ngân hàng, vợ chồng ông bà sẽ về tính
toán lại số tiền cụ thể vợ chồng ông bà đã trả cho ông T và sẽ nộp lại cho Tòa án
trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày hôm nay 28/8/2023. Ngoài ra vợ chồng
ông bà không trình bày gì thêm.
Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho người có quyền lợi nghĩa
vụ liên quan là ông Nghiêm Xuân L1. Tuy nhiên ông L1 có đơn xin vắng mặt
trong tất cả các buổi làm việc và vắng mặt tất cả các phiên toà xét xử của Toà án.
Ông L1 đề nghị Toà án xem xét và giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không thành.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2024/DS-ST ngày 27/02/2024, Tòa án nhân
dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng đã xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đặng Phi T. Buộc bị
đơn vợ chồng ông Trần Duy Kim L, bà Nguyễn Thị Ngọc C có nghĩa vụ liên đới
trả cho ông Đặng Phi T số tiền 3.975.000.000 đồng (Ba tỷ chín trăm bảy mươi
lăm triệu đồng) nợ gốc.
2. Tiếp tục duy trì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số
70/2023/QĐ-BPKCTT ngày 20/6/2023 của Toà án nhân dân huyện Đức Trọng để
đảm bảo cho việc thi hành án.
Ngày 03/4/2024 bị đơn vợ chồng ông Trần Duy Kim L, bà Nguyễn Thị Ngọc
C có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
4
Tại phiên tòa hôm nay: Ông T và ông B đã thỏa thuận với nhau về việc giải
quyết toàn bộ nội dung vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu về việc tuân theo
pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các
đương sự tại giai đoạn phúc thẩm, đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố
tụng dân sự. Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm ông T và ông B đã thỏa thuận
với nhau về việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án. Cụ thể, bị đơn vợ chồng ông
Trần Duy Kim L, bà Nguyễn Thị Ngọc C có trách nhiệm trả cho ông Đặng Phi T
số tiền 3.775.000.000 đồng, đề nghị HĐXX công nhận sự thỏa thuận của các
đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn ông Đặng Phi T khởi kiện yêu cầu
vợ chồng ông Trần Duy Kim L, bà Nguyễn Thị Ngọc C có nghĩa vụ trả cho ông
số tiền nợ gốc 4.180.000.000 đồng và tiền lãi suất 20%/năm, tính từ ngày
10/4/2023 cho đến ngày xét xử sơ thẩm, bị đơn ông L, bà C không đồng ý với yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn nên phát sinh tranh chấp. Tòa án cấp sơ thẩm xác
định quan hệ tranh chấp “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” là đúng quy
định của pháp luật.
[2] Đối với kháng cáo của bị đơn vợ chồng ông Trần Duy Kim L, bà Nguyễn
Thị Ngọc C thì tại phiên tòa hôm nay, ông T và ông B đã thỏa thuận với nhau về
việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án. Theo đó, bị đơn vợ chồng ông Trần Duy
Kim L, bà Nguyễn Thị Ngọc C có trách nhiệm trả cho ông Đặng Phi T số tiền
3.775.000.000 đồng. Xét thấy, sự thỏa thuận của các bên đương sự trên cơ sở hoàn
toàn tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội và không làm ảnh
hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan
trong vụ án nên công nhận.
[3] Từ những phân tích trên, cần chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn
ông Trần Duy Kim L, bà Nguyễn Thị Ngọc C, sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự
thỏa thuận giữa các đương sự.
[4] Về án phí:
Buộc bị đơn ông Trần Duy Kim L, bà Nguyễn Thị Ngọc C phải chịu án phí
dân sự sơ thẩm trên số tiền phải thanh toán cho ông Đặng Phi T.
Do sửa bản án sơ thẩm nên vợ chồng ông Trần Duy Kim L, bà Nguyễn Thị
Ngọc C không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
5
- Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận một phần kháng cáo của vợ chồng ông Trần Duy Kim L, bà
Nguyễn Thị Ngọc C, sửa bản án sơ thẩm. Công nhận sự thỏa thuận của các đương
sự.
Vợ chồng ông Trần Duy Kim L, bà Nguyễn Thị Ngọc C có trách nhiệm trả
cho ông Đặng Phi T số tiền 3.775.000.000đ (Ba tỷ bảy trăm bảy mươi lăm triệu
đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với
khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong,
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành
án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm
2015.
2. Tiếp tục duy trì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số
70/2023/QĐ-BPKCTT ngày 20/6/2023 của Toà án nhân dân huyện Đức Trọng để
đảm bảo cho việc thi hành án.
3. Về án phí:
Buộc bị đơn ông Trần Duy Kim L, bà Nguyễn Thị Ngọc C phải chịu
107.500.000đ án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 600.000đ tạm
ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0003795 và Biên lai thu số 0003796 cùng
ngày 11/4/2024 của Chi cục thi hành án huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng. Ông
L, bà C còn phải nộp số tiền 106.900.000đ án phí.
Hoàn trả cho ông Đặng Phi T số tiền 56.900.000đ tạm ứng án phí đã nộp
theo Biên lai thu số 0014426 ngày 19/6/2023 của Chi cục thi hành án huyện Đức
Trọng, tỉnh Lâm Đồng
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi
hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
6
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Lâm Đồng (01);
- Phòng KT-NV & THA (01);
- TAND huyện Đức Trọng (01);
- Chi cục THADS huyện Đức Trọng (01)
- Đương sự (03);
- Lưu: bộ phận lưu trữ, hồ sơ vụ án (03).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Vũ Thị Nguyệt
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 10/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Bản án số 367/2026/DS-PT ngày 05/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 24/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm