Bản án số 95/2017/DS-PT ngày 20/09/2017 của TAND tỉnh Lâm Đồng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 95/2017/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 95/2017/DS-PT ngày 20/09/2017 của TAND tỉnh Lâm Đồng
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lâm Đồng
Số hiệu: 95/2017/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 20/09/2017
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp di sản thừa kế và yêu cầu hủy GCNQSD đất giữa ông Nguyễn C với ông Nguyễn Ngọc M
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 95/2017/DS-PT
Ngày: 20-9-2017
V/v: Tranh chp di sn tha
kế và u cu hy GCNQSD
đt
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Vũ Thị Nguyệt
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Hữu Mừng
Ông Bùi Hữu Nhân
- Thư phiên tòa: Trần Thị Hương Trang Thư Tòa án nhân dân
tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh m Đồng tham gia phiên toà:
Võ Thị Kim Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng; xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số 67/2017/TLDS-PT ngày 07 tháng 8 m
2017 về Tranh chp di sn tha kế và yêu cu hy giy chng nhn
quyn s dng đt.
Do Bn án Dân s sơ thm số 12/2017/DS-ST ngày 29/6/2017 ca Tòa
án nhân dân huyn LH bị kháng cáo;
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 159/2017/QĐ-PT ngày 16/8/2017;
Quyết định hoãn phiên tòa số 93/2017/QĐ-PT ngày 07/9/2017 giữa các đương
sự:
- Đng Nguyên đơn:
1. Ông Nguyn C, sinh năm 1969
2. Ông Nguyn Văn Th1, sinh năm 1957
3. Bà Nguyn Th Th2, sinh năm 1955
4. Bà Nguyn Th L, sinh năm 1960
5. Bà Nguyn Th B, sinh năm 1968
Cùng trú tại: Thôn NS3, xã PS, huyện LH, tỉnh Lâm Đồng.
- B đơn: Ông Nguyn Ngc M, sinh năm 1945
Đa ch: S 18 NCT, phưng 2, Tp. ĐL, tỉnh Lâm Đồng.
Đi din theo y quyn: Bà Đng Th Thu Ng, sinh năm 1979
2
Đa ch: T 4 LV, phưng 9, Tp. ĐL, tỉnh Lâm Đồng (văn bn y quyn
ngày 18/5/2017).
Ngưi bo v quyn và li ích hp pháp ca b đơn: Lut sư Hunh
Th3 Văn phòng lut sư NT thuc Đoàn lut sư tnh Lâm Đng.
- Ngưi có quyn li, nghĩa v liên quan:
1. Ông Nguyn T1, sinh năm 1950
Đa ch: Thôn 1, xã BH, huyn KA, tnh Đk Lk.
Đi din theo y quyn: Bà Nguyn Th L, sinh năm 1960
Đa ch: Thôn NS3, xã PS, huyn LH, tỉnh Lâm Đồng (văn bn y quyn
ngày 18/12/2014).
2. Ông Nguyn Minh T2, sinh năm 1979
Đa ch: S 18 NCT, phưng 2, Tp. ĐL, tỉnh Lâm Đồng.
3. V chng bà Nguyn Th S, sinh năm 1972
Ông Nguyn C, sinh năm 1969
Đa ch: Thôn NS3, xã PS, huyn LH, tỉnh Lâm Đồng.
4. Bà Trn Th H1, sinh năm 1956
Đa ch: S 131 thôn NS3, xã PS, huyn LH, tỉnh Lâm Đồng.
Đi din theo y quyn: Bà Đng Th Thu Ng, sinh năm 1979
Địa ch: T 4 LV, phưng 9, Tp. ĐL, tỉnh Lâm Đồng (văn bn y quyn
ngày 12/6/2017).
5. y ban nhân dân huyn LH, tỉnh Lâm Đồng.
Đi din theo pháp lut: Ông Nguyn Đc T3. Chc v: Ch tch
UBND huyn LH.
Đi din theo y quyn: Ông Nguyn Minh A. Chc v: Phó Ch
tch UBND huyn LH (văn bn y quyn ngày 11/4/2017).
* Ngưi kháng cáo: b đơn ông Nguyn Ngc M và ngưi có quyn
li, nghĩa v liên quan ông Nguyn Minh T2.
(Bà S, đi din UBND huyn LH có đơn xin xét x vng mt; ông T1
vng mt; các đương s còn li và Lut sư có mt ti phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm,
Theo nội dung đơn khởi kiện của đồng nguyên đơn ông Nguyễn C, ông
Nguyễn Văn Th1, Nguyễn Thị Th2, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị B trình
bày:
Bố, mcác ông, cụ ông Nguyễn H2, cụ bà Phùng ThG. Khi chung
sống, vợ chồng cụ H2, cụ G sinh được 07 người con: ông Nguyễn Ngọc M, ông
Nguyễn T1, Nguyễn Thị Th2, ông Nguyễn Văn Th1, Nguyễn Thị L, bà
3
Nguyễn Thị B và ông Nguyễn C. Ngoài ra, vợ chồng cụ H2, cụ G không con
riêng, không nhận ai làm con nuôi hay bố, mẹ nuôi.
Vào năm 1969 cụ ông Nguyễn H2 đã hy sinh tại Quảng Nam. Đến năm
1980 cụ Phùng Thị G cùng ông C, B vào PS, huyện ĐT (nay huyện
LH) lập nghiệp. Đến ngày 25/9/2005 cụ bà Phùng Thị G chết không để lại di
chúc. Các đồng nguyên đơn xác định di sản cụ Phùng Thị G để lại gồm có:
- Diện tích đất 2.380m
2
(diện tích đo vẽ chỉnh là 2.189m
2
) thửa 199, tờ
bản đồ 41 (249c cũ) PS, trong đó 400m
2
đất 1.789m
2
đất trồng cây
lâu năm, trên đất có một căn nhà gỗ, thưng ván, lợp tôn kẽm 104 m
2
sử dụng,
diện tích còn lại trồng phê một số cây ăn trái. Hiện nay vợ chồng ông M,
bà H1 đang quản lý, canh tác.
- Diện tích đất 1.256m
2
thửa 32, tờ bản đồ 44 (282b cũ) xã PS, huyện LH.
- Diện tích đất 434m
2
thửa 51, tờ bản đồ 45 (283a cũ) xã PS, huyện LH.
- Diện tích đất 1.392m
2
thửa 56, tờ bản đồ 45(283a cũ) PS, huyện LH.
Các thửa 32, 51, 56 vợ chồng ông Nguyễn C, Nguyễn Thị S đang quản lý,
canh tác.
Nguồn gốc các thửa đất trên do HTX BS, xã PS, huyện ĐT cấp cho cụ
Phùng Thị G vào năm 1980, đến ngày 03/01/1994 cụ Phùng Thị G được UBND
huyện LH cấp GCNQSD đất.
- Ngoài ra khoảng năm 1987 cụ Phùng Thị G ông C, B còn khai phá
được diện tích đất 4.011m
2
thuộc thửa 141, tờ bản đồ 41 (249c) xã PS, huyện
LH. Đến ngày 22/11/1995 cụ G viết giấy tặng cho cháu nội là Nguyễn Minh T2
2.000m
2
, còn lại 2.011m
2
cụ G viết giấy chuyển nhượng cho ông M giá 100 chỉ
vàng nhưng ông M chưa trả s vàng này cho cụ G. Đến ngày 06/6/2014 vợ
chồng ông Nguyễn C, Nguyễn Thị S đăng khai đã được UBND
huyện LH cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Nguyễn C,
Nguyễn Thị S, nhưng v chồng ông Nguyễn Ngọc M, Trần Thị H1 đang
quản lý, canh tác diện tích đất này.
Các đồng nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết chia đều khối di sản trên
cho 07 đồng thừa kế theo quy định của pháp luật.
Đối với 22 chỉ vàng 24k cụ Phùng Thị G người trực tiếp thỏa thuận với
vợ chồng ông Văn Th3, Nguyễn Thị Ng1 bồi thường tiền công khai phá
diện tích đất 2.380m
2
(đo vẽ chỉnh lý 2.189m
2
) thửa 199, tờ bản đồ 41 (249c cũ)
theo chủ trương của UBND PS. Khi thỏa thuận bồi tờng đại diện HTX
BS, PS ông Trần Văn H3, ban quản ruộng đất HTX BS chứng kiến
xác nhận vào tháng 01/1996. Nên các ông, không chấp nhận trả cho ông M
22 chỉ vàng này.
Đối với 300 cây phê Trần Thị H1 trồng mới trên diện tích 4.011 m
2
thửa 141, tờ bản đồ số 41 xã PS, huyện LH, đồng nguyên đơn và người có quyền
lợi nghĩa vụ liên quan tự nguyện bồi thường giá trị cây phê cho H1 theo
quy định của pháp luật.
4
Còn 154m
2
đất do H1 tự khai phá, đất chưa đăng khai, đồng
nguyên đơn xác định đây không phải di sản của cụ G đlại nên không yêu
cầu chia đối với diện tích đất này.
Theo bản tự khai của ông Nguyễn Ngọc M lời trình bày của đại diện
theo ủy quyền bà Ng như sau:
Thống nhất lời trình bày của đồng nguyên đơn về hàng thừa kế di sản
thừa kế của cụ Phùng Thị G. Tuy nhiên, nguồn gốc diện tích đất 2.380m
2
(đo
đạc chỉnh 2.189m
2
) thửa 199, tờ bản đ41 (249c) PS do cụ G được
HTX BS, PS cấp vào năm 1980, cụ G phải bồi thường tiền công khai phá
giá trị cây trồng trên đất cho vợ chồng ông Văn Th3 22 chỉ vàng 24k. Do
cụ G không vàng trả nên đến tháng 12/1995 cụ G đã viết giấy ủy quyền cho
ông M bồi thường 22 chỉ vàng 24k cho vợ chồng ông Th3, Ng1. Sau khi cụ G
qua đời, diện tích đất trên là tài sản riêng của ông M nên không đồng ý chia diện
tích đất này choc đồng thừa kế.
Đối với diện tích đất 4.011m
2
thửa 141, tờ bản đồ 41 (249c cũ) PS,
huyện LH là do cụ G tự khai phá trồng cây phê nhưng chưa đăng khai
quyền sử dụng đất. Thời gian cụ G còn sống, cụ G các đồng thừa kế đã viết
giấy tặng cho cháu nội anh Nguyễn Minh T2 2.000m
2
. Diện tích còn lại
2.011m
2
cụ G viết giấy chuyển nhượng cho ông giá 100 chỉ vàng, thời gian cụ G
còn sống ông trả mi lần một vài chỉ vàng cho cụ G giữa mẹ, con nên
không viết giấy tờ gì. Hiện nay diện tích đất thửa 141 đã được UBND huyện LH
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên vợ chồng ông C, bà S.
Đối với các diện tích đất tại các thửa 32, 51, 56 và 2.011m
2
thuộc một phần
thửa 141 thì ông đồng ý chia cho các đồng thừa kế. Đối với 2.000m
2
thuộc một
phần thửa 141 cG đã cho anh Nguyễn Minh T2, nay các đồng thừa kế không
đồng ý cho anh T2 nữa thì đây là quyền của đồng nguyên đơn với anh T2, bà Ng
không có ý kiến gì.
Đối với 22 chỉ vàng 24k ông M đã bồi thường ng khai pcho vợ chồng
ông Th3, Ng1 ngày 13/01/1996. Tại phiên tòa thẩm, Ng không yêu cầu
đồng nguyên đơn trả lại 22 chỉ vàng 24k này.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Theo bản tự khai ngày 18/01/2015 của ông Nguyễn T1 lời trình bày của
đại diện theo ủy quyền Nguyễn Thị L: thống nhất lời trình bày của đồng
nguyên đơn về hàng thừa kế di sản thừa kế của cụ Phùng Thị G. Nay đại
diện cho ông T1 yêu cầu Tòa án giải quyết chia khối di sản cụ G để lại cho
07 người con.
Đối với số cây phê H1 đã trồng mới trên diện tích 4.011m
2
đất thửa
141, tờ bản đồ số 41 PS, huyện LH, đồng ý bồi thường giá trị cây p
cho bà H1 theo quy định của pháp luật.
Anh Nguyễn Minh T2 trình bày: Ngày 22/11/1995 cụ Phùng Thị G (bà nội)
viết giấy tặng cho anh diện tích đất 2.000m
2
một phần thửa 141, tờ bản đồ số 41
5
PS sđồng ý của ông Nguyễn C được chính quyền địa phương xác
nhận. Năm 2005 cụ G qua đời không để lại di chúc, anh cũng chưa kịp làm thủ
tục tặng cho quyền sử dụng đất theo quy định. Nay đồng nguyên đơn không
đồng ý cho anh diện tích đất trên tanh yêu cầu Tòa án giải quyết buộc các
đồng thừa kế phải làm thủ tục cho anh diện tích đất 2.000m
2
một phần thửa 141,
tờ bản đồ số 41 xã PS theo đúng ý nguyện của cụ G.
Theo bản tự khai của Trần Thị H1 lời trình bày của đại diện theo ủy
quyền Ng như sau: Năm 2005 mẹ chồng bà H1 (cụ G) chết, đến khoảng năm
2006 H1 canh tác diện tích đất 4.011 m
2
thửa 141, tờ bản đồ 41 PS. Trong
thời gian canh tác bà trồng mới 300 cây phê (trong đó 270 cây phê catimo
30 cây cà phê rôbusta). Nay các đồng thừa kế xác định diện tích đất này là di
sản do cụ G để lại yêu cầu Tòa án chia. yêu cầu các đồng thừa kế phải
thanh toán giá trị 300 cây phê cho theo kết quả của Hội đồng định giá tài
sản. Đi với khoản tiền thù lao, bảo quản di sản thửa 141, thửa 199 tờ bản đồ 41
và tài sản trên đất từ năm 2006 đến nay bà yêu cầu đồng thừa kế phải thanh toán
theo quy định ca pháp luật.
Bà Nguyễn Thị S trình bày: Mẹ chồng bà tên là cụ Phùng Thị G có để lại di
sản các diện tích đất tại thửa 199, 32, 51, 56 141. Hiện nay ông đang
quản và canh tác các thửa 32, 51, 56. Đối với diện tích tại thửa 141 thì được
sự đồng ý của anh, chị, em trong gia đình, vợ chồng đã đăng kê khai
được UBND huyện LH cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2014.
Hiện nay các đồng thừa kế đang tranh chấp đối với di sản trên, tự nguyện
trả lại các thửa đất mà vợ chồng bà đang canh tác, quản lý. Đối với khoản tiền
thù lao tiền chi phí bảo quản di sản từ năm 1992 cho đến nay vợ chồng ông
bà không yêu cầu.
Ông Nguyễn Minh A - đại diện Ủy ban nhân dân huyện LH trình bày tại
bản tự khai ngày 17/8/2015 và ngày 12/4/2017 như sau:
Ông Nguyễn C, Nguyễn Thị S được UBND huyện LH cấp GCNQSDĐ
diện tích 4.011m
2
thửa số 141, tờ bản đồ số 41 xã PS tại Quyết định s
1510/QĐ-UBND ngày 5/6/2014. Trình tự, thủ tục cấp giấy CNQSDĐ cho ông
Nguyễn C, Nguyễn Thị S thực hiện đúng theo quy định tại Nghị định số
88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ quy định vcấp GCNQSDĐ,
QSHNỞ và tài sản khác gắn liền với đất.
Theo Công văn số 90/CV-TA ngày 24/7/2015 của Tòa án nhân dân huyện
LH thì: Diện tích 4.011 m
2
đất thửa số 141, tờ bản đồ số 41 nguồn gốc do cụ
Phùng Thị G (mcủa ông Nguyễn C) khai phá. Sau khi cụ G chết, không để lại
di chúc, toàn bộ diện tích đất nói trên do ông Nguyễn Ngọc M, Trần Thị H1
quản lý, sử dụng (bao gồm cả phần diện tích đất cụ G đã viết giấy cho anh
Nguyễn Minh T2 cháu nội). Như vậy, sau khi cụ G chết, ông Nguyễn C
khai đăng ký QSDĐ (việc khai là không đúng nguồn gốc, không đúng chủ sử
dụng đất) để được cấp giấy CNQSDĐ không m thủ tục phân chia thừa kế
QSDĐ theo quy định của pháp luật làm ảnh hưởng đến quyền lợi của những
người liên quan. Đề nghị Tòa án xem xét trong quá trình giải quyết vụ án.
6
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không thành.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2017/DS-ST ngày 29/6/2017 ca Tòa án
nhân dân huyn LH đã xử:
1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của đồng nguyên đơn Nguyễn Thị Th2,
ông Nguyễn Văn Th1, bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn C, bà Nguyễn Thị B.
Buộc vợ chồng ông Nguyễn Ngọc M, Trần Thị H1 giao trả lại diện tích
đất 2.380m
2
(diện tích đo vẽ chỉnh lý 2.189m
2
) thửa 199, tờ bản đồ 41 (249c) xã
PS (trong đó 400m
2
đất thổ cư), 01 căn nhà gỗ, thưng ván, lợp tôn kẽm
104m
2
sử dụng, diện tích còn lại 1.789m
2
trồng 198 cây phê Rôbusta kinh
doanh; 01 cây mãng cầu; 03 cây cari diện tích đất 3.919m
2
thửa 141, tờ bản
đồ 41 trên đất có 421 cây cà phê rôbusta và 546 cây cà phê catimo.
Ghi nhận sự tự nguyện của vợ chồng ông Nguyễn C, Nguyễn Thị S giao
trả lại: Diện tích đất 1.256m
2
thửa 32, tờ bản đồ 44(282b); Diện tích 1.392m
2
thửa 56, tờ bản đồ 45 (238a); Diện tích 434m
2
thửa 51 tờ bản đồ 45 (283a) và tài
sản gắn liền với đất. Tất cả đều tọa lạc tại thôn NS3, xã PS, huyện LH.
Chia di sản của cụ Phùng Thị G để lại cho đồng thừa kế theo kỷ phần, c
thể như sau:
- Chia cho ông Nguyễn T1: Thửa 1250 TBĐ 41 diện tích 372 m
2
(trong
đó 66m
2
đất 306m
2
đất trồng cây lâu năm) trên đất 33 cây phê
robusta kinh doanh giá trị 274.945.100đ. tứ cận nsau: Phía Đông
giáp sông Đạ Dâng; phía Nam giáp thửa 200 của vợ chồng ông A1,bà L1; phía
Tây giáp đường quốc lộ 27; phía Bắc giáp thửa 1251, TBĐ 41 xã PS, LH.
- Chia cho bà Nguyễn Thị B: Thửa 1251 TBĐ 41 diện tích là 372 m
2
(trong
đó 66m
2
đất ở, 306m
2
đất trồng cây lâu năm) và 33 cây probusta kinh
doanh giá trị 274.945.100đ. tứ cận như sau: Phía Đông giáp sông Đạ
Dâng; phía Nam giáp thửa 1250; phía Tây giáp đường quốc lộ 27; phía Bắc giáp
thửa 1252, TBĐ 41 xã PS, LH.
- Chia cho ông Nguyễn n Th1: Thửa 1252 TBĐ 41 diện tích 372 m
2
(trong đó 66m
2
đất ở; 306m
2
đất trồng cây lâu năm) có 33 cây phê robusta
kinh doanh có giá trị là 274.945.100đ.
- Chia cho ông Nguyễn C: Thửa 56, tờ bản đồ 45 (238a) diện tích 1.392m
2
đất trồng cây lâu năm có giá là 111.360.000đ; Thửa 51, tờ bản đồ 45 (283a) diện
tích 434m
2
đất trồng cây lâu năm giá 34.720.000đ; Thửa 1253, TBĐ 41
diện tích là 362 m
2
(trong đó có 66m
2
đất , 296m
2
đất trồng cây lâu năm) có 01
căn nhà gỗ lợp tôn kẽm 104 m
2
sử dụng; 33 cây phê robusta kinh doanh;
01 cây mãng cầu; 03 cây cari có giá 316.233.100đ.
Tổng giá trị tài sản ông C được giao 462.313.100đ. tứ cận như sau:
Phía Đông giáp sông Đạ Dâng; phía Nam giáp thửa 1252; phía Tây giáp đường
quốc lộ 27; phía Bắc giáp thửa 1254, TBĐ 41 xã PS, LH.
- Chia cho Nguyễn Thị L: Thửa 1254 TBĐ 41 diện tích là 358m
2
(trong
đó 66m
2
đất ở; 292m
2
đất trồng cây lâu năm) 33 cây phê robusta kinh
7
doanh có giá trị là: 266.522.700đ. tứ cận như sau; Phía Đông giáp sông Đạ
Dâng; phía Nam giáp thửa 1253; phía Tây giáp đường quốc lộ 27; phía Bắc giáp
thửa 1255 TBĐ 41 xã PS, LH. Diện tích đất 1.256m
2
thửa 32, tờ bản đồ
44(282b) và 125 cây cà phê có giá 114.747.250đ. Tng g trị tài sản đưc chia là
381.269.950đ.
- Chia cho Nguyễn Thị Th2: Thửa 1255 TBĐ 41 diện tích 353m
2
(trong đó 70m
2
đất ở; 283m
2
đất trồng cây lâu năm) có 33 cây phê robusta
kinh doanh giá trị là: 266.348.300đ. tứ cận như sau: Phía Đông giáp sông
Đạ Dâng; phía Nam giáp thửa 1254; phía Tây giáp đường quốc lộ 27; phía Bắc
giáp thửa 161 ca ông vợ chồng ông Tám Tr.
- Chia cho ông Nguyễn Ngọc M: Diện tích đất 3.919m
2
thửa 141, tờ bản đồ
41 có giá là: 313.520.000đ trên đất có 421 cây cà phê rôbusta có giá là:
55.312.500đ, 546 cây phê catimo giá là: 19.776.000đ. Tổng giá trị QSD
đất và tài sản gắn liền với đất là: 388.608.50.
- Buộc ông Nguyễn Ngọc M có nghĩa vụ thanh toán lại giá trị chênh lệch di
sản cho bà Nguyễn Thị B số tiền là 56.965.500đ.
- Buộc ông Nguyễn C nghĩa vụ thanh toán lại giá trị chênh lệch di sản
cho ông Nguyễn T1 số tiền 56.965.500đ; ông Nguyễn Văn Th1 số tiền
56.965.500đ bà Nguyn Thị Th2 số tiền 16.471.000đ.
- Buộc Nguyn Thị L phải thanh toán giá trị cnh lệch di sản cho bà
Nguyn ThTh2 stiền là 49.359.200đ.
2. Buộc ông Nguyễn Ngọc M, ông Nguyễn T1, Nguyễn Thị Th2,
Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn Th1, Nguyễn Thị B, ông Nguyễn C mỗi
người phải thanh toán cho bà Trần Thị H1 số tiền là 1.983.500đ/người.
3. Bác yêu cầu của anh Nguyễn Minh T2 về việc yêu cầu đối với 2.000m
2
đất thuộc một phần thửa 141 tbản đồ số 41, tọa lạc thôn NS3, PS, huyện
LH, tỉnh Lâm Đồng (trên đất 215 cây phê rôbusta 282 y phê
catimo kinh doanh. Giá trị đất và giá trị cây trồng là: 197.861.500đ).
4. Đình chỉ yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Ngọc M đối với 22 chỉ vàng
24k.
5. Buộc ông Nguyễn Ngọc M phải giao trả lại giấy CNQSD đất số
B426842 mang tên Phùng Thị G, do UBND huyện LH cấp ngày 03/01/1994 cho
đồng thừa kế để làm thủ tục cấp giấy CNQSD đất theo quy định của pháp luật.
6. Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU 336744 mang n ông
Nguyn C, Nguyn ThS do UBND huyện LH cấp ngày 06/6/2014.
Nguyên đơn, bị đơn, người có quyn lợi, nghĩa vụ liên quan: Đến cơ quan N
nước thm quyền để làm thủ tục đăng khai quyền sử dụng đất theo quy định
của pháp luật. (Kèm theo trích lc c thửa đất ).
Ngoài ra bản án còn tuyên ván phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo
trách nhiệm thi hành án của các đương sự.
8
Ngày 04/7/2017 người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Minh
T2 kháng cáo một phần bản án sơ thẩm yêu cầu Tòa án công nhận phần diện
tích 2.000m
2
đất thuộc mt phần thửa 141, tờ bản đồ 41 hiện đang đứng tên ông
Nguyễn C, Nguyễn Thị S đất của bà Phùng Thị G cho ông Nguyễn Minh
T2 ngày 22/12/1995 là hợp pháp.
Ngày 07/7/2017 bị đơn ông Nguyễn Ngọc M kháng cáo đề nghị xem xét lại
toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa hôm nay,
Ông M, ông T2 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Đồng nguyên đơn
người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đứng về phía nguyên đơn không đồng ý
với yêu cầu kháng cáo của ông M ông T2, đề nghị giữ nguyên bản án
thẩm.
Luật bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn đề nghị chấp nhận
kháng cáo của bị đơn. Nếu không xác định diện tích 2.380m
2
(đo vẽ thực tế
2.189m
2
) của ông M thì phải trả lại 22 chỉ vàng 24k cho ông M. Đồng ý chia
diện tích 4.011m
2
cho các đồng thừa kế.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng nêu ý kiến về việc chấp
hành pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại giai đoạn phúc thẩm cũng như tại phiên
tòa hôm nay, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã chấp hành đúng quy định của Bộ
luật tố tụng dân sự. Đồng thời nêu quan điểm đề nghị chấp nhận kháng cáo của
ông M, giao diện tích 2.380m
2
(đo vẽ thực tế 2.189m
2
) bằng hiện vật cho ông M
ông M thanh toán lại cho các đồng thừa kế khác bằng giá trị. Cấp sơ thẩm
sự nhầm lẫn về số liệu diện tích đất chia cho ông Nguyễn T1 ông Nguyễn
Văn Th1 (số liệu lệch 5m
2
) nên cần điều chỉnh lại cho phù hợp. Căn cứ khoản 2
Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên a; Ý kiến của đại diện Viện
kiểm sát tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Xét kháng cáo của ông Nguyễn Minh T2 thì thấy rằng: Theo hồ thể
hiện, Giấy cho đất ngày 22/11/1995 (BL57) cụ Phùng Thị G cho ông Nguyễn
Minh T2 diện tích 2.000m
2
nay thuộc một phần thửa 141 tờ bản đ41(249c).
Tại thời điểm năm 1995, diện tích đất này chưa được đăng khai chưa
được quan thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ G.
vậy, việc cụ G viết giấy tặng cho trên trái với quy định tại Khoản 1 Điều
30 Luật Đất đai năm 1993: Không được chuyển quyền sử dụng đất trong
trường hợp đất sử dụng không có giấy tờ hợp pháp”. Hơn nữa, Điều 692 Bộ luật
Dân sự năm 2005 quy định: “Việc chuyển quyền sử dụng đất hiệu lực kể từ
thời điểm đăng quyền sdụng đất theo quy định ca pháp luật về đất đai”.
Do đó, kháng cáo của ông T2 là không có cơ sở chấp nhận.
[2] Xét kháng cáo của ông Nguyễn Ngọc M:
9
Theo bản giải trình ghi ngày 15/8/2017 gửi Tòa án nhân dân tỉnh Lâm
Đồng, ông M cho rằng tại phiên tòa sơ thẩm, Đặng Thị Thu Ng (đại diện theo
ủy quyền) tự nguyện rút yêu cầu đối với việc không cần các đồng nguyên đơn
thanh toán lại 22 chỉ vàng 24k mà ông M đã bồi thường công khai phá đối với
diện tích đất 2.380m
2
thửa 199, tờ bản đồ 41 (249c) cho vợ chồng ông Võ n
Th3, Nguyễn Thị Ng1 không đúng. Tuy nhiên, tại Biên bản về kiểm tra
việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và Biên bản hòa giải ngày 02/6/2017
(BL433,439) Ng mặt, được nghe tên. Đồng thời, tại phiên tòa
thẩm, luật Huỳnh Th3 người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của ông M
cũng trình bày tại phần tranh luận không yêu cầu đối với 22 chỉ vàng
24k. Do đó, việc ông M kháng cáo cho rằng cấp thẩm ghi khống nội dung
trên không đồng ý việc cấp thẩm đình chgiải quyết đối với yêu cầu của
ông M về 22 chỉ vàng 24k trong khi ông đã nộp tạm ứng án phí là không căn
cứ chấp nhận.
Đối với kháng cáo của ông M cho rằng diện tích 2.380m
2
tài sản riêng
của ông nên không đồng ý đưa vào chia thừa kế thì qua xem xét các tài liệu,
chứng cứ có trong hồ sơ đã thể hiện: Tháng 01/1996 cụ G là người trực tiếp thỏa
thuận bồi thường công khai phá với vợ chồng ông Th3, Ng1, sự chứng
kiến của Ban quản ruộng đất HTX BS, PS. Giấy thỏa thuận công khai phá
do ông Th3 lập anh Tùng con ông Th3, Ng1 ông Trần Văn H3 Ban
quản HTX BS, PS chứng kiến xác nhận. Do đó, cấp thẩm xác
định 22 chỉ vàng 24k của cụ G trực tiếp thỏa thuận thanh toán cho ông Th3,
Ng1. vậy, diện tích đất trên di sản của cụ G để lại nên không sở
chấp nhận kháng cáo của ông M.
Đối với kháng cáo của ông M yêu cầu được nhận bằng hiện vật phần di sản
diện tích đất 2.380m
2
(thanh toán lại giá trị chênh lệch cho các đồng thừa kế)
thì thấy rằng: ông C, B cùng cụ G vào lập nghiệp tại thôn NS3, PS từ
những năm 1980, được HTX BS, PS cấp 5.462 m
2
đất theo quyết định số
79/QĐ của UBND tỉnh Lâm Đồng quy định mỗi hộ gia đình được cấp 500m
2
đất
1.000m
2
/01 người đất
nông nghiệp (cấp theo nhân khẩu gồm: Cụ G, ông
Th1, Liên, ông C, B). Sau khi được HTX cấp đất, cụ G, ông C, B
những người trực tiếp bỏ công sức nhiều năm để tôn tạo diện tích đất 5.462m
2
từ
năm 1980 đến năm 2006. Hoàn cảnh của các anh chị em trong gia đình vào lập
nghiệp ở LH cũng khó khăn, hiện nay ông C không chở, không có đất canh
tác. Cấp sơ thẩm cũng đã xác minh: Năm 1995 vợ chồng ông C, S đang sống
chung với cụ G, quản canh tác các thửa đất 199, 32, 51, 56 151. Cũng
thời điểm năm 1995 vợ chồng ông M, H1 đang còn công tác trong quan
nhà nước. Năm 2005 cụ G chết thì năm 2006 ông M, H1 từ ĐL xuống PS,
LH yêu cầu ông C, S giao diện tích đất 4.011m
2
thửa 141 diện tích
2.380m
2
thửa 199, tờ bản đ41 PS để canh tác. Quá trình giải quyết vụ án,
ông M thừa nhận hiện tại vợ chồng ông có nhà ở tại 18 NCT, phường 2, Tp. ĐL.
Tại điểm b khoản 1 Điều 3 Quyết định số 33/2015/QĐ-UB ngày 16/4/2015
của Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã quy định: “đối với đất nông thôn
10
(thuộc địa bàn các xã) khuyến khích người sử dụng đất tách thửa đủ diện tích để
làm nhà biệt lập, biệt thự, nhà vườn; trường hợp không đủ điều kiện thì diện tích
đất tối thiểu 72m
2
, kích thước theo mặt đường 4,5m”. Cấp thẩm đã xem
xét đến điều kiện, hoàn cảnh của các đồng thừa kế, chia thửa đất 199, tờ bản đồ
41(249c) PS, trên đất nhà cây trồng, thành 06 phần: mỗi phần kích
thước theo mặt đường 5,9m, diện tích ít nhất là 66m
2
đất 283m
2
đất
trồng cây lâu năm, theo họa đồ Chi nhánh văn phòng đăng đất đai huyện LH
đã tách thửa đcác đồng thừa kế nơi thờ phụng ông , cha mẹ hợp
.
Do đó, việc ông M cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm chia diện tích như trên trái
với Quyết định số 33/2015/QĐ-UB ngày 16/4/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh
Lâm Đồng là khôngcở sở.
Từ những phân tích trên có căn cứ xác định di sản cụ G để lại gồm:
- Diện tích đất 1.256m
2
thửa 32, tờ bản đồ 44(282b) 125 cây phê.
Giá trị 114.747.250đ.
- Diện tích đất 434m
2
thửa 51, tờ bản đồ 45 (283a) giá trị 34.720.000đ.
- Diện tích đất 1.392m
2
thửa 56, tờ bản đồ 45 (238a) giá trị 111.360.000đ.
- Diện tích đất 2.380m
2
(diện tích đo vẽ chỉnh là 2.189m
2
) thửa 199, tờ
bản đồ 41 (249c) 400m
2
đất 1.789m
2
đất trồng cây lâu năm, trên đất
01 căn nhà gỗ, thưng ván lợp tôn kẽm 198 cây phê rôbusta kinh doanh; 01
cây mãng cầu; 03 cây cari. Giá trị 1.673.939.400đ.
- Diện tích đất 4.011m
2
(diện tích đo vẽ thực tế 3.919m
2
) thửa 141, tờ bản
đồ 41, trên đất 421 cây phê rôbusta và 546 cây phê catimo. Giá trị
388.608.500đ.
Tổng giá trị di sản 2.323.375.150đ. Mỗi người thừa kế sẽ được nhận giá
trị tương ứng là 2.323.375.150đ : 07 người = 331.910.735đ/người.
Tuy nhiên, cấp thẩm có snhầm lẫn về phần diện tích đất (lệch 5m
2
)
khi chia cho ông T1 ông Th1 so với họa đồ đo vẽ (BL234), dẫn đến việc tính
giá trị quyền sử dụng đất chưa chính xác nên cần chỉnh sửa cho phù hợp. Cụ thể
như sau:
- Chia cho ông Nguyễn T1 thửa 1250 TBĐ 41 diện tích 377m
2
(trong đó
66m
2
đất ở và 311m
2
đất trồng cây lâu năm) trên đất có 33 cây cà phê robusta
kinh doanh. Tổng giá trị tài sản được nhận là 277.938.350đ.
- Chia cho Nguyễn Thị B thửa 1251 TBĐ 41 diện tích 372m
2
(trong
đó 66m
2
đất ở, 306m
2
đất trồng cây lâu năm) và 33 cây phê robusta kinh
doanh. Tổng giá trị tài sản được nhận là 274.930.350đ.
- Chia cho ông Nguyễn Văn Th1 thửa 1252 TBĐ 41 diện tích 367m
2
(trong đó 66 m
2
đất ở, 301m
2
đất trồng cây lâu năm) và 33 y phê robusta
kinh doanh. Tổng giá trị tài sản được nhận là 271.922.350đ.
11
- Chia cho ông Nguyễn C thửa 56, tờ bản đồ 45 (238a) diện ch 1.392m
2
đất trồng cây lâu năm có giá là 111.360.000đ. Thửa 51, tờ bản đồ 45 (283a) diện
tích 434m
2
đất trồng cây lâu năm g34.720.000đ. Thửa 1253, TBĐ 41
diện tích 362 m
2
(trong đó 66m
2
đất 296m
2
đất trồng cây lâu năm)
01 căn nhà gỗ lợp tôn kẽm 104 m
2
sử dụng; 33 cây phê robusta kinh
doanh; 01 cây mãng cầu; 03 cây kari; Giá trị đất tài sản gắn liền đất
316.218.350đ. Tổng giá trị tài sản được nhận là 462.298.350đ.
- Chia cho Nguyễn Th L thửa 1254 TBĐ 41 diện tích 358m
2
(trong
đó 66m
2
đất ở; 292m
2
đất trồng cây lâu năm) 33 cây phê robusta kinh
doanh. Giá trị là 266.507.950đ. Diện tích đất 1.256m
2
thửa 32, tờ bản đồ
44(282b) giá 100.480.000đ 125 cây p giá 14.267.250đ. Giá
trị QSD đất và tài sản gắn liền với đất có giá là 114.747.250đ. Tng giá tri sản
được nhận là 381.255.200đ.
- Chia cho bà Nguyễn Thị Th2 thửa 1255 TBĐ 41 diện tích là 353m
2
(trong
đó 70m
2
đất ở; 283m
2
đất trồng cây lâu năm) có 33 cây phê robusta kinh
doanh. Tổng giá trị tài sản được nhận là 266.422.050đ.
- Chia cho ông Nguyễn Ngọc M diện tích đất 3.919m
2
thửa 141, tờ bản đồ
41 có giá 313.520.000đ trên đất 421 cây phê rôbusta giá
55.312.500đ, 546 y phê catimo giá 19.776.000đ. Tổng giá trị tài sản
được nhận là 388.608.500đ.
+ Ông Nguyễn Ngọc M nghĩa vụ thanh toán lại giá trị chênh lệch di sản
cho bà Nguyễn Thị B số tiền 56.697.764đ.
+ Ông Nguyễn C nghĩa vụ thanh toán lại giá trị chênh lệch di sản cho
ông Nguyễn T1 số tiền 53.972.386đ; ông Nguyễn Văn Th1 số tiền 59.988.386đ;
bà Nguyn Thị Th2 stin 16.144.22; bà Nguyn ThB stin 282.621đ.
+ Bà Nguyn Thị L phải thanh tn giá tr chênh lệch di sn cho Nguyn Thị
Th2 số tin 49.344.464đ.
Các phần khác của bản án sơ thẩm kng kng o nên không đ cp.
[3] Về án phí: Ông T2 phải chịu án phí dân sự thẩm đối với phần yêu
cầu không được chấp nhận. Miễn án phí dân sthẩm cho các đồng thừa kế
của cụ Phùng Thị G do là thân nhân trong gia đình liệt sĩ. Do sửa án n ông M,
ông T2 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cKhoản 2 Điều 308 Blut Ttụng dân sự;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định
về án phí, lệ phí Tòa án.
12
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Ngọc M,
người quyền li, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Minh T2. Sửa bản án
thẩm, xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của đồng nguyên đơn bà Nguyễn Thị Th2, ông
Nguyễn Văn Th1, bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn C, bà Nguyễn Thị B.
Buộc vợ chồng ông Nguyễn Ngọc M, Trần Thị H1 giao trả lại diện tích
đất 2.380m
2
(diện tích đo vẽ chỉnh lý 2.189m
2
) thửa 199, tờ bản đồ 41 (249c)
PS (trong đó 400m
2
đất thổ cư), 01 căn nhà gỗ, thưng ván, lợp tôn kẽm
104m
2
sử dụng, 198 cây phê Rôbusta kinh doanh; 01 cây mãng cầu; 03 cây
cari diện tích đất 3.919m
2
thửa 141, tờ bản đồ 41 trên đất 421 cây phê
rôbusta và 546 cây cà phê catimo.
Ghi nhận sự tự nguyện của vợ chồng ông Nguyễn C, Nguyễn Thị S giao
trả lại: diện tích đất 1.256m
2
thửa 32, tờ bản đồ 44(282b); diện tích 1.392m
2
thửa
56, tờ bản đồ 45 (238a); diện tích 434m
2
thửa 51 tờ bản đồ 45 (283a) tài sản
gắn liền với đất. Tất cả đều tọa lạc tại thôn NS3, xã PS, huyện LH.
Chia di sản của cụ Phùng Thị G để lại cho đồng thừa kế theo kỷ phần cụ
thể như sau:
- Chia cho ông Nguyễn T1 thửa 1250 TBĐ 41 diện tích 377m
2
(trong đó
có 66 m
2
đất ở và 311m
2
đất trồng cây lâu năm) trên đất có 33 cây cà phê robusta
kinh doanh. Tổng giá trị tài sản được nhận là 277.938.350đ.
- Chia cho Nguyễn Thị B thửa 1251 TBĐ 41 diện tích 372m
2
(trong
đó 66m
2
đất ở, 306m
2
đất trồng cây lâu năm) và 33 cây phê robusta kinh
doanh. Tổng giá trị tài sản được nhận là 274.930.350đ.
- Chia cho ông Nguyễn Văn Th1 thửa 1252 TBĐ 41 diện tích 367m
2
(trong đó 66m
2
đất ở, 301m
2
đất trồng cây lâu năm) 33 cây phê robusta
kinh doanh. Tổng giá trị tài sản được nhận là 271.922.350đ.
- Chia cho ông Nguyễn C thửa 56, tờ bản đồ 45 (238a) diện tích 1.392m
2
đất trồng cây lâu năm; Thửa 51, tờ bản đồ 45 (283a) diện tích 434m
2
đất trồng
cây lâu năm; Thửa 1253, TBĐ 41 diện tích là 362 m
2
(trong đó có 66m
2
đất ở và
296m
2
đất trồng cây lâu năm) 01 căn nhà glợp tôn kẽm có 104 m
2
sử dụng;
33 cây cà phê robusta kinh doanh; 01 cây mãng cầu; 03 cây kari. Tổng giá trị tài
sản được nhận là 462.298.350đ.
- Chia cho Nguyễn Th L thửa 1254 TBĐ 41 diện tích là 358m
2
(trong
đó 66m
2
đất ở; 292m
2
đất trồng cây lâu năm) 33 cây phê robusta kinh
doanh. Diện tích đất 1.256m
2
thửa 32, tờ bản đồ 44(282b) 125 cây phê.
Tổng g tri sn được nhn là 381.255.20.
- Chia cho bà Nguyễn Thị Th2 thửa 1255 TBĐ 41 diện tích là 353m
2
(trong
đó 70m
2
đất ở; 283m
2
đất trồng cây lâu năm) 33 cây phê robusta kinh
doanh. Tổng giá trị tài sản được nhận là 266.422.050đ.
13
- Chia cho ông Nguyễn Ngọc M diện tích đất 3.919m
2
thửa 141, tờ bản đồ
41 trên đất có 421 cây cà phê rôbusta, 546 cây cà phê catimo. Tổng giá trị tài sản
được nhận là 388.608.500đ.
+ Buộc ông Nguyễn Ngọc M nghĩa vụ thanh toán lại giá trị chênh lệch
di sản cho bà Nguyễn Thị B số tiền 56.697.764đ.
+ Buộc ông Nguyễn C nghĩa vthanh toán lại giá trị chênh lệch di sản
cho ông Nguyễn T1 số tiền 53.972.386đ; ông Nguyễn Văn Th1 số tiền
59.988.386đ; Nguyn Thị Th2 số tiền 16.144.221đ; Nguyễn ThB số tin
282.62.
+ Buộc bà Nguyn Th L phi thanh toán giá trchênh lệch di sn cho
Nguyn ThTh2 stiền 49.344.464đ.
2. Buộc ông Nguyễn Ngọc M, ông Nguyễn T1, Nguyễn Thị Th2,
Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn Th1, Nguyễn Thị B, ông Nguyễn C mỗi
người phải thanh toán cho bà Trần Thị H1 số tiền 1.983.500đ/người.
3. Bác yêu cầu của ông Nguyễn Minh T2 đối với 2.000 m
2
đất thuộc một
phần thửa 141 tờ bản đồ số 41, tọa lạc thôn NS3, PS, huyện LH, tỉnh Lâm
Đồng.(trên đất có 215 cây cà phê rôbusta và 282 cây phê catimo kinh doanh.
Giá trị đất và cây trồng trên đất là 197.861.500đ).
4. Đình chỉ yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Ngọc M đối với 22 chỉ vàng
24k.
5. Buộc ông Nguyễn Ngọc M phải giao trả lại giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số B426842 mang tên Phùng Thị G, do UBND huyện LH cấp ngày
03/01/1994 cho đồng thừa kế để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất theo quy định của pháp luật.
6. Hủy giấy chứng nhận quyn sử dng đất số BU336744 mang tên ông
Nguyn C, Nguyn ThS do UBND huyện LH cấp ngày 06/6/2014.
Nguyên đơn, bị đơn, người có quyn lợi, nghĩa vụ liên quan: Đến cơ quan N
nước có thẩm quyền để m thủ tục đăng khai quyn sử dụng đất theo quy định
của pháp luật.
( kèm theo tch lục họa đồ c thửa đất).
Ktngày H1, ông T1, ông Th1, bà Thanh, bà B có đơn u cầu thi hành
án, nếu ông M, ông T1, bà Thanh, ông Th1, bà Liên, ông C, B chưa thi hành xong
khoản tiền trên thìng tháng các ông, các bà có tên tn còn phải chịu thêm khoản
tiền lãi theo mức i sut cơ bản do Nn ng n c quy định tương ứng vi
thời gian chưa thi hành án.
7. Về án phí: Min án phí dân s thm cho ông Nguyn Ngọc M, ông
Nguyn T1, Nguyn Th Th2, ông Nguyễn Văn Th1, Nguyn Th L, ông
Nguyn C và bà Nguyễn ThB.
- Hoàn tr ông Nguyn T1 s tiền 716.500đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai
thu số 0007210 ngày 25/02/2016 của Chi cục thi nh án dân s huyn LH.
14
- Hn trông Nguyễn Văn Th1 stin 716.500đ tạm ứng án p đã np theo
bn lai thu số 0007201 ngày 22/02/2016 ca Chi cục thi hành án dân sự huyn LH.
- Hoàn trông Nguyn C số tin 716.500đ tm ng án phí đã nộp theo biên lai
thu số 0007205 ngày 24/02/2016 của Chi cục thi nh án dân s huyn LH.
- Hoàn trả bà Nguyn ThTh2 số tiền 716.500đ tạmng án phí đã np theo bn
lai thu s0007202 ny 23/02/2016 ca Chi cục thi nh án dân s huyn LH.
- Hn trbà Nguyn ThL stiền 200.000đ và 716.500đ tạmng án phí đã np
theo biên lai thu s 0000490 ny 13/01/2015 biên lai thu số 0007199 ngày
17/02/2016 của Chi cục thi hành án dân shuyn LH.
- Hn trbà Nguyn ThB stin 716.50 tiền tạm ng án phí đã np theo
bn lai thu s0007200 ny 18/02/2016 ca Chi cục thi hành án dân sự huyện LH,
Lâm Đồng.
- Hoàn trả ông Nguyn Ngọc M số tin 1.796.00 tiền tạmng án phí sơ thẩm
đã np theo biên lai thu s0007223 ny 04/3/2016 300.000đ tạmng án phí pc
thẩm theo biên lai thu số 0003014 ngày 19/7/2017 của Chi cc thi hành án n s
huyn LH, Lâm Đồng.
- Buộc ông Nguyn Minh T2 phải chịu 9.893.075đ tin án p dân s thm
nng đưc tr vào số tiền 1.750.000đ tm ứng án phí sơ thẩm đã np theo bn lai
thu s0000807 ny 25/9/2015 300.000đ tạm ng án phí phúc thẩm đã np theo
bn lai thu s0003012 ngày 18/7/2017 ca Chi cục thi hành án dân sự huyn LH.
Ông T2 còn phải nộp 7.843.075đ án phí.
- Hoàn trcho bà Trn Thị H1 422.500đ tin tạm ng án p đã tạm nộp theo
bn lai thu s0000806 ny 25/9/2015 ca Chi cục thi nh án dân shuyn LH.
Trường hp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều
6,7 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh LĐ;
- Phòng KTNV & THA;
- TAND huyện LH;
- Chi cục THADS huyện LH;
- Các đương sự;
- Lưu AV - HS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Vũ Thị Nguyệt
Tải về
Bản án số 95/2017/DS-PT Bản án số 95/2017/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất