Bản án số 02/2026/HCPT ngày 05/03/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 02/2026/HCPT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 02/2026/HCPT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 02/2026/HCPT
| Tên Bản án: | Bản án số 02/2026/HCPT ngày 05/03/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Tây Ninh |
| Số hiệu: | 02/2026/HCPT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 05/03/2026 |
| Lĩnh vực: | Hành chính |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: | Bản án số 02-HCPT- 05-3-2026- Bà Ba - UBND Xã ĐT, tỉnh Tây Ninh- Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 02/2026/HC-PT
Ngày 05-3-2026
V/v khiếu kiện quyết định hành
chính trong lĩnh vực đất đai
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Tuấn.
Các thẩm phán:
1. Ông Nguyễn Phước Thanh;
2. Bà Huỳnh Thị Hồng Vân.
- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thanh Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây
Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Văn
Thị Diệu Linh – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử
phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 07/2025/TLPT- HC ngày 02-12-
2025 về việc: “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”.
Do bản án sơ thẩm số: 01/2025/HC-ST ngày 10 tháng 9 năm 2025 của Tòa án
nhân dân Khu vực 2, tỉnh Tây Ninh, bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2026/QĐ-PT ngày 09 tháng 02
năm 2026, giữa các đương sự:
Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1948. Địa chỉ: Ấp D, xã M,
huyện Đ, tỉnh Long An (Nay là ấp S, xã Đ, tỉnh Tây Ninh); vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của bà B: Ông Phạm Quốc S, sinh năm 1981. Địa
chỉ: 3 đường C, phường B, Quận B (N là phường B), Thành phố Hồ Chí Minh
(Theo Văn bản ủy quyền ngày 07-01-2025); có mặt.
Người bị kiện:
1. Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh Long An (Nay là Ủy ban nhân dân xã
Đ, tỉnh Tây Ninh). Địa chỉ trụ sở: Ấp T, xã Đ, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện hợp pháp: Ông Tạ Hồng T; chức vụ: Chủ tịch; vắng mặt.

2
2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh Long An (Nay là Chủ tịch
Ủy ban nhân dân xã Đ, tỉnh Tây Ninh): Ông Tạ Hồng T; chức vụ Chủ tịch; vắng
mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1969. Địa chỉ: Ấp Ô, xã T, huyện T, tỉnh Long
An (Nay là ấp Ông Q, xã T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt;
2. Ông Nguyễn Văn S1, sinh năm 1971. Địa chỉ: Ấp D, xã M, huyện Đ, tỉnh
Long An (Nay là ấp S, xã Đ, tỉnh Tây Ninh); vắng mặt;
3. Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1978. Địa chỉ: Ấp D, xã M, huyện Đ, tỉnh
Long An (Nay là ấp S, xã Đ, tỉnh Tây Ninh); vắng mặt;
4. Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1981. Địa chỉ: Ấp C, xã M, huyện Đ, tỉnh Long
An (Nay là ấp G, xã Đ, tỉnh Tây Ninh); vắng mặt;
5. Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1988. Địa chỉ: Ấp D, xã M, huyện Đ, tỉnh
Long An (Nay là ấp S, xã Đ, tỉnh Tây Ninh); vắng mặt;
6. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1991. Địa chỉ: Ấp D, xã M, huyện Đ, tỉnh
Long An (Nay là ấp S, xã Đ, tỉnh Tây Ninh); vắng mặt;
7. Bà Nguyễn Thị Ú, sinh năm 1994. Địa chỉ: Ấp P, xã T, huyện C, tỉnh Tiền
Giang (Nay là ấp P, xã M, tỉnh Đồng Tháp); vắng mặt;
8. Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1974. Địa chỉ: Ấp D, xã M, huyện Đ, tỉnh
Long An (Nay là ấp S, xã Đ, tỉnh Tây Ninh); vắng mặt;
9. Ông Nguyễn Văn N1, sinh năm 1968. Địa chỉ: Ấp Ông H, xã T, huyện T,
tỉnh Long An (Nay là ấp Ông H, xã T, tỉnh Tây Ninh); vắng mặt;.
Người đại diện hợp pháp của bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn S1, ông
Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị K, ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị N, bà
Nguyễn Thị Ú, bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Văn N1: Ông Phạm Quốc S, sinh
năm 1981. Địa chỉ: 3 đường C, phường B, Quận B (N là phường B), Thành phố Hồ
Chí Minh (Theo Văn bản ủy quyền ngày 10-4-2025); có mặt.
Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị B là người khởi kiện.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 27-11-2024 và quá trình giải quyết, người khởi kiện
là bà Nguyễn Thị B do ông Phạm Quốc S đại diện hợp pháp trình bày: Thửa đất
383, 345; tờ bản đồ số 7; tổng diện tích 20.159 m
2
; đất toạ lạc ấp D, xã M, huyện
Đ, tỉnh Long An (Nay là xã Đ, tỉnh Tây Ninh) nguồn gốc đất này do bà B nhận
chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị L1 (đất khai hoang). Năm 2003, Nhà nước thu
hồi 02 thửa đất 383, 345 để cấp cho ông Đinh Công T2 là hộ dân kinh tế mới xin
đất hoang để sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, từ khi Nhà nước có quyết định giao

3
đất cho ông T2 thì ông T2 chưa từng đến canh tác đất này; nên gia đình bà B vẫn
quản lý, canh tác, sử dụng ổn định 02 thửa đất 383, 345 cho đến nay.
Năm 2024, bà B làm đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với
02 thửa đất 383, 345 thì Uỷ ban nhân dân (Viết tắt UBND) xã M (Nay là UBND xã
Đ) ban hành Công văn số 214/UBND-TCD ngày 27-3-2024 với nội dung: UBND
xã M hiện nay đang quản lý các thửa đất số 383, 345, tờ bản đồ số 7, là đất công do
Nhà nước quản lý nên không xác nhận nguồn gốc đất theo yêu cầu của bà B.
Bà B khiếu nại Công văn số 214/UBND-TCD ngày 27-3-2024. Đến ngày 05-
06-2024, UBND xã M ban hành văn bản số 452/BB-UBND về biên bản đối thoại
với người khiếu nại; kết quả không thống nhất.
Ngày 20-6-2024, Chủ tịch UBND xã M ban hành Quyết định số 513/QĐ-
UBND về việc giải quyết khiếu nại của bà Nguyễn Thị B (lần đầu). Nội dung: giữ
nguyên Công văn số 214/UBND-TCD ngày 27-3-2024 của UBND xã M, bác đơn
khiếu nại của bà Nguyễn Thị B khiếu nại Công văn số 214/UBND-TCD ngày 27-3-
2024 của UBND xã M về việc xem xét xác nhận nguồn gốc đất để cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị B. Việc UBND xã M, huyện Đ ban
hành Công văn số 214/UBND-TCD ngày 27-3-2024 và Chủ tịch UBND xã M ban
hành Quyết định số 513/QĐ-UBND ngày 20-6-2024 làm ảnh hưởng trực tiếp đến
quyền lợi hợp pháp của bà B. Bà B khởi kiện yêu cầu:
- Huỷ Công văn số 214/UBND-TCD ngày 27-3-2024 của UBND xã M.
- Huỷ Quyết định số 513/QĐ-UBND ngày 20-6-2024 của Chủ tịch UBND xã
M về việc giải quyết khiếu nại của bà Nguyễn Thị B (lần đầu).
Người bị kiện là UBND xã M, Chủ tịch UBND xã M (Nay là UBND xã Đ và
Chủ tịch UBND xã Đ) do ông Tạ Hồng T, chức vụ Chủ tịch trình bày:
UBND xã Đ không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà B. Lý do:
Nguồn gốc 02 thửa đất 383, 345, tờ bản đồ số 7, tổng diện tích 20.159m
2
, đất toạ
lạc ấp D, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An (Nay là xã Đ, tỉnh Tây Ninh) trước đây là
đất hoang do bà Nguyễn Thị L1 khai dỡ. Bà B thỏa thuận mượn đất sản xuất của bà
L1 ngày 05-11-1996 và bà Võ Thị B1 ngày 20-11-1996.
Ngày 11-9-1998, bà Nguyễn Thị L1 làm Đơn xin cấp giấy chứng nhận QSDĐ
thửa đất số 146.1, diện tích 13.000 m
2
và thửa đất số 9, diện tích 53.071 m
2
; tờ bản
đồ số 8, tổng diện tích 66.071 m
2
; loại đất: Lúa; xứ đồng: Khu quy hoạch; nguồn
gốc sử dụng: KV năm 1996, 1997.
Ngày 28-9-1998, Đoàn kiểm tra tiến hành kiểm tra trường hợp bà Nguyễn Thị
L1, kết quả kiểm tra thực tế phần diện tích đất bà L1 đăng ký là đất có sản xuất,
diện tích 6ha60.
Ngày 13-6-2003, Tổ kê biên tiến hành kiểm kê đất và tài sản trên đất trong
phạm vi giải tỏa trường hợp bà B đăng ký, xác định được diện tích đất có bờ bao

4
dài 960m. Ngày 25-10-2006, Tổ kê biên tiến hành kiểm kê đất và tài sản trên đất
trong phạm vi giải tỏa trường hợp bà Nguyễn Thị L1 đăng ký. Tổ kê biên xác định:
Diện tích 24.000 m
2
là đất cày + bờ bao. Trong đó: Đất cày 24.000m
2
, bờ bao dài
960m. Bà L1 đã nhận tiền đền bù dự án Nông Lâm nghiệp B xong đợt 4, đợt 5 năm
2007.
Trước đó bà B đã nhiều lần bị lập biên bản vi phạm hành chính, xử lý vi phạm
hành chính về hành vi sử dụng 02 thửa đất 383, 345; tờ bản đồ số 7 này. Bà B và
gia đình đã biết hai thửa đất 383, 345 là đất công do Nhà nước quản lý. Bà B và
ông T1 cũng đã có cam kết giao trả lại đất công cho Nhà nước, cụ thể như sau:
Ngày 26-01-1999, bà B bị UBND xã B Biên bản về vi phạm luật đất đai.
Ngày 17-12-1999, Ban Q1 lập Biên bản vi phạm hành chính về pháp luật đất
đai đối với bà Nguyễn Thị B.
Ngày 10-01-2000, UBND xã B có Quyết định số 06/QĐ ngày 10-01-2000
Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm pháp luật đất đai. Hình
thức xử phạt: Cảnh cáo. Biện pháp khác: Buộc bà Nguyễn Thị B giao ngay diện
tích 3,5ha đất đang chiếm giữ trong thời hạn 5 ngày, đồng thời bà B phải nhổ toàn
bộ số tràm trên phần đất nói trên.
Ngày 08-8-2000, Đoàn cán bộ của H1 kết hợp với Ban Q2 có Biên bản làm
việc với bà Nguyễn Thị B tại Trụ sở Ban Q2. Nội dung làm việc: Căn cứ vào hồ sơ
Ban Q2 kiểm tra ban đầu năm 1997, toàn bộ 02 khu vực đất cho mượn của bà B1
và bà L1 là đất hoang không được Nhà nước thừa nhận. Việc cho mượn tiền và
vàng giữa bà B, bà L1 và bà B1 Nhà nước không giải quyết. Đoàn cán bộ của H1
kết hợp với Ban Q2 yêu cầu bà B có trách nhiệm nhổ tràm trên 02 lô đất trên để
Nhà nước quản lý thời gian kể từ ngày 08-8-2000 đến 18-8-2000. Việc bà B tự ý
cất Nhà trên đất thuộc quyền quản lý của Nhà nước kể từ ngày 08-8-2000 đến 18-8-
2000 phải tháo dỡ.
Ngày 13-9-2000, UBND xã B có Biên bản về việc giải quyết đất khu Kinh tế
mới B, có trường hợp bà Nguyễn Thị B (vụ thứ 3). Nội dung: Bà Nguyễn Thị B
không chấp hành theo Biên bản giải quyết ngày 08-8-2000 của Ban Q2.
Ngày 10-01-2003, UBND xã M lập Biên bản vi phạm hành chính về pháp luật
đất đai đối với bà Nguyễn Thị B. Nội dung: Bà Nguyễn Thị B đã tự ý xạ lúa và xạ
tràm trên phần đất mà Nhà nước đã giao cấp cho các hộ Lưu Văn Ơ (diện tích:
1,0ha lúa và 1,0ha tràm); Nguyễn Văn H2 (diện tích: 0,7 ha lúa và 0,5 ha tràm);
Đinh Công T2 (diện tích: 0,7 ha lúa và 0,6 ha tràm); Lý Hoàng V (diện tích: 0,3 ha
lúa và 0,6 ha tràm); Lâm Văn C1 (diện tích: 0,5 ha lúa). Tình tiết tăng nặng: Tái
phạm hành vi lấn chiếm đất đai gây cản trở việc sử dụng đất của người khác.
Ngày 16-01-2003, UBND tỉnh L (Đoàn kiếm tra theo Quyết định số
4473/QĐ.UB) có Biên bản làm việc với bà B. Nội dung: Bà B công nhận hiện tại

5
có lấn chiếm xạ lúa và tràm trên phần diện tích 5,9 ha đất cấp cho 5 hộ dân kinh tế
mới, không giao đất cho các hộ dân kinh tế mới.
Ngày 24-01-2003, UBND xã B có Tờ trình số 06/TT.UB/2003 về việc xử phạt
vi phạm hành chính về quản lý sử dụng đất đai đối với bà Nguyễn Thị B.
Ngày 27-01-2003, ông Đinh Công T2 thuộc đối tượng di dân nên được cấp
một suất đất có diện tích là 20.900 m
2
, thửa đất số 800, tờ bản đồ số 1, xã M thuộc
khu kinh tế mới xã B, huyện Đ, tỉnh Long An theo Quyết định số 559/2003.QĐ.UB
ngày 27-01-2003 "về việc giao đất cho cá nhân sản xuất nông nghiệp" của UBND
huyện Đ. Ông T2 được giao đất nhưng không sản xuất nên UBND xã M quản lý,
thống kê vào danh sách quản lý đất công do nhà nước quản lý.
Ngày 29-01-2003, UBND huyện Đ ra Quyết định số 574/2003/QĐ.UB Quyết
định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm pháp luật đất đai đối với bà
Nguyễn Thị B đã có hành vi vi phạm: Chiếm 5,90ha đất thuộc quyền sử dụng của
05 hộ sau đây để sạ lúa, sạ tràm: Lưu Văn Ơ, diện tích bị chiếm 2,0ha tại một phần
thửa đất số 784, tờ bản đồ số 02; Nguyễn Văn H2, diện tích bị chiếm 1,2 ha tại một
phần thửa đất số 789, tờ bản đồ số 02; Đinh Công T2, diện tích bị chiếm 1,3 ha,
một phần thửa đất số 800, tờ bản đồ số 01; Lý Hoàng V, diện tích bị chiếm 0,9ha
tại một phần thửa đất số 805, tờ bản đồ số 02; Lâm Văn C1, diện tích bị chiếm 0,5
ha tại một phần thửa đất số 783, tờ bản đồ số 01.
Ngày 10-02-2003, UBND xã B có Biên bản công bố và trao Quyết định xử
phạt cho bà Nguyễn Thị B.
Ngày 20-02-2003, Phòng Nông nghiệp - Địa chính có Tờ trình số
07/2003/TT.NN-ĐC về việc ra Quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành
quyết định xử phạt vi phạm hành chính của UBND huyện Đ đối với bà Nguyễn Thị
B.
Ngày 21-02-2003, UBND huyện Đ ra Thông báo số 06/2003/TB.UB về việc
Thông báo "Thời gian cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính
số 574/2003/QĐ.UB ngày 29-01-2003 của UBND huyện Đ đối với bà Nguyễn Thị
B”.
Ngày 21-02-2003, Phòng Nông nghiệp - Địa chính kết hợp với UBND xã B có
Biên bản làm việc cùng bà Nguyễn Thị B về việc nhắc nhở thực hiện Quyết định số
574/QĐ.UB. Bà B có ý kiến: Do nhận thức trình độ không am hiểu pháp luật nên tự
ý trồng tràm, lúa. Qua phân tích của cán bộ làm việc, bà B xin hứa sẽ chấp hành
tuyệt đối Quyết định của Nhà nước. Bà B xin xem xét để miễn hình phạt tiền. Lý
do: Hoàn cảnh gia đình nghèo, không có khả năng nộp tiền phạt.
Ngày 24-02-2003, UBND huyện Đ ra Quyết định số 658/2003/QĐ.UB Quyết
định áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính
của UBND huyện Đ đối với bà Nguyễn Thị B.

6
Ngày 25-02-2003, UBND huyện Đ tiến hành cưỡng chế có Biên bản về việc
Tổ chức cưỡng chế thi hành Quyết định xử phạt hành chính của UBND huyện Đ
đối với bà Nguyễn Thị B. Ý kiến bà Nguyễn Thị B: Đồng ý giao lại 5,90ha đất lấn
chiếm và chấp hành đúng theo Quyết định số 658/2003/QĐ.UB ngày 24-02-2003
của UBND huyện Đ.
Ngày 25-4-2003, tại Trụ sở Ban Q3 mới B, đại diện Ban quản lý có Biên bản
về việc giao cấp đất cho hộ gia đình bà Nguyễn Thị B, ngụ ấp A, xã B: sắp xếp
giao cho gia đình bà Nguyễn Thị B 02 suất đất theo quy hoạch và theo sự lựa chọn
vị trí đất của gia đình bà B gồm thửa đất số 784, diện tích 21.076 m
2
và thửa đất số
789, diện tích 20.988 m
2
. Riêng phần bà B yêu cầu thành quả lao động. Ban quản lý
căn cứ vào hồ sơ kiểm tra ban đầu của bà L1 đất có bờ bao chưa cày nên Ban quản
lý thống nhất kê biên phần đất còn lại có bờ bao cho bà B.
Đến năm 2010, UBND xã M thực hiện dự án đo đạc lập bản đồ địa chính theo
QĐ số: 3104/QĐ-UBND ngày 03-11-2010 về việc thực hiện dự án đo đạc lập bản
đồ địa chính của 3 xã, 1 thị trấn thuộc huyện Đ nên thửa đất số 784, 789, tổng diện
tích 42.064m
2
theo hồ sơ địa chính mới đo đạc lại thành các thửa đất số 325, 326,
296, 328, 329, 327, 344, 346, tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc ấp D, xã M, huyện Đ, tỉnh
Long An. Gia đình bà B đã kê khai đăng ký theo hồ sơ địa chính mới và đã được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng 02 suất đất được cấp. Cụ thể: bà B kê khai
đăng ký và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng các thửa số 325, 326, 327,
329, 344, 346 tờ bản đồ số 7 tổng diện tích: 31.282,5m
2
, đất tọa lạc ấp D, xã M,
huyện Đ, tỉnh Long An. Ông Nguyễn Văn S1 (con ruột bà B) kê khai đăng ký và đã
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng các thửa đất số 296, 328, tờ bản đồ số 7,
tổng diện tích 13.305,3m
2
, đất tọa lạc ấp D, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
Ngày 08-11-2005, UBND xã M có Biên bản "Họp Hội đồng hòa giải tranh
chấp đất đai xã M những hộ bỏ đất đề nghị thu hồi. Có trường hợp đề nghị thu hồi
đất của ông Đinh Công T2 (ấp D xã M) số thửa 800, diện tích 20.900m
2
, đất bỏ 03
năm, không nợ. Hội đồng thống nhất đề nghị thu hồi.
Tháng 11 năm 2005, UBND xã M có Tờ trình số 75/2005. TT.UB về việc đề
nghị thu hồi đất (Có danh sách kèm theo ngày 22-11-2005).
Ngày 15-12-2010, Công chức địa chính xã M kết hợp với Phòng T3 huyện lập
Biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai số 14/BB-VPHC ngày 14-12-
2010 đối với bà B với hành vi chiếm đất tại các thửa đất số 800, diện tích 20.900m
2
và thửa 805 một phần thửa, diện tích 1,6ha (tổng diện tích bà Nguyễn Thị B chiếm
là 36.900m
2
).
Ngày 17-12-2010, UBND xã M có Tờ trình số 154/TTr-UBND ngày Về việc
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với bà Nguyễn Thị B đã có
hành vi vi phạm chiếm đất phần đất cụ thể như sau: Lý Hoàng V, số thửa 805 một

7
phần thửa, diện tích 16.000m
2
; Đất Nhà nước quản lý, số thứa 800, diện tích 20.900
m
2
. Tổng diện tích vi phạm 36.900 m
2
.
Ngày 23-12-2010, Phòng T3 huyện có Tờ trình số 54/TTr-UBND Về việc xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh đất đai đối với bà Nguyễn Thị B đã có hành vi
vi phạm chiếm phần đất do Nhà nước cấp cho ông Lý Hoàng V tại số thửa 805
(một phần thửa), tờ bản đồ số 02 (B2), diện tích 16.000 m
2
và đất Nhà nước quản lý
tại thửa số 800, tờ bản đồ số 02 (BT), diện tích 20.900 m
2
.
Từ nguồn gốc và quá trình quản lý sử dụng đất và xử lý nêu trên thì bà B đã
được sắp xếp cấp 02 suất đất trong Khu kinh tế mới B và đã đăng ký để được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất xong. Hai (02) thửa đất 383, 345; tờ bản đồ số
7; tổng diện tích 20.159m
2
, đất toạ lạc ấp D, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An (Nay là
xã Đ, tỉnh Tây Ninh) mà bà B đề nghị xác nhận nguồn gốc đất để đăng ký cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất là đất công do Nhà nước quản lý. Do đó yêu cầu xác
nhận nguồn gốc đất của bà B là không có cơ sở pháp lý để giải quyết. Vì vậy
UBND xã M ban hành Công văn số 214/UBND-KT ngày 27-3-2024 về việc trả lời
kiến nghị xem xét xác nhận nguồn gốc đất để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất của bà Nguyễn Thị B là đúng quy định pháp luật. Quyết định số 513/QĐ-
UBND ngày 20-6-2024 của Chủ tịch UBND xã M về việc giải quyết khiếu nại của
bà Nguyễn Thị B (lần đầu) là đúng thẩm quyền, có căn cứ, đúng quy định pháp
luật.
Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L, ông
Nguyễn Văn S1, ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị K, ông Nguyễn Văn C, bà
Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị Ú, bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Văn N1, đều do
ông Phạm Quốc S đại diện hợp pháp trình bày:
Đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà B, không ai có yêu cầu độc lập trong
vụ án.
Tại Bản án Hành chính sơ thẩm số 01/2025/HC-ST ngày 10 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực 2, tỉnh Tây Ninh, đã quyết định:
Căn cứ Điều 29, Điều 30, Điều 31; điểm a khoản 2 Điều 116, Điều 193, Điều
194 của Luật Tố tụng hành chính; khoản 2 Điều 11; điểm a, b khoản 2 Điều 12,
Điều 25, Điều 27 của Luật Khiếu nại; Điều 22, Điều 23, Điều 24 của Luật Tổ chức
chính quyền địa phương; Điều 139 của Luật Đất đai năm 2024; Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức
thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; tuyên xử:
Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị B đối với Ủy ban nhân dân
xã M, huyện Đ, tỉnh Long An (Nay là Ủy ban nhân dân xã Đ, tỉnh Tây Ninh), về
việc “Yêu cầu huỷ Công văn số 214/UBND-TCD ngày 27-3-2024 của Ủy ban nhân
dân xã M”.

8
Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị B đối với Chủ tịch Ủy ban
nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh Long An (Nay là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ,
tỉnh Tây Ninh), về việc “Yêu cầu huỷ Quyết định số 513/QĐ-UBND ngày 20-6-
2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã M, về việc giải quyết khiếu nại của bà
Nguyễn Thị B (lần đầu)”.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo
theo luật định.
Ngày 12-9-2025, bà Nguyễn Thị B có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc
thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà B.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Phạm Quốc S là người đại diện hợp pháp của
bà Nguyễn Thị B trình bày:
Bà B giữ nguyên nội dung yêu cầu kháng cáo. Đề nghị cấp phúc thẩm chấp
nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà B.
Việc UBND xã M trả lời thửa đất 383, 345 thuộc đất công do Nhà nước quản
lý là không đúng; vì từ năm 2003 bà B quản lý sử dụng đất này đến nay, đủ điều
kiện để yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất. Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của bà B.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh trình bày:
Về tố tụng: Thẩm phán, HĐXX, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định
của Luật Tố tụng Hành chính trong việc thụ lý vụ án, ban hành văn bản tố tụng
đúng thẩm quyền và tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho các đương sự, bảo
đảm đúng trình tự thủ tục, dân chủ trong xét hỏi và tranh luận tại phiên toà. Đối với
những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của
mình theo quy định của Luật Tố tụng Hành chính.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà
Nguyễn Thị B; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
1.1. Bà Nguyễn Thị B có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, nên được
xem xét theo trình tự phúc thẩm.
1.2. Người khởi kiện bà Nguyễn Thị B; ông Tạ Hồng T là người đại diện hợp
pháp cho người bị kiện và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều
vắng mặt tại phiên tòa và người đại diện hợp pháp; nên căn cứ Điều 225 của Luật
Tố tụng hành chính, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo luật định.
[2] Về nội dung:

9
2.1. Xét về đối tượng khởi kiện, thời hiệu khởi kiện và thẩm quyền giải quyết,
Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bà Nguyễn Thị B khởi kiện yêu cầu huỷ Công văn số 214/UBND-TCD ngày
27-3-2024 của Ủy ban nhân dân xã M, về việc trả lời không xác nhận nguồn gốc
đất theo yêu cầu của bà Nguyễn Thị B xin được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất thửa 383, 345; tờ bản đồ số 7, tại xã M; vì đất này là đất công, do Nhà
nước quản lý và bà B yêu cầu huỷ Quyết định số 513/QĐ-UBND ngày 20-6-2024
của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã M, về việc giải quyết khiếu nại của bà Nguyễn
Thị B (lần đầu); là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính, thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án và còn trong thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 3; Điều
30; khoản 1 Điều 31; Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính.
2.2. Xét về nội dung, trình tự thủ tục, căn cứ pháp luật và tính có căn cứ của
các quyết định hành chính bị khiếu kiện, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành Công văn số 214/UBND-TCD ngày
27-3-2024 của UBND xã M và Quyết định số 513/QĐ-UBND ngày 20-6-2024 của
Chủ tịch UBND xã M về việc giải quyết khiếu nại của bà Nguyễn Thị B (lần đầu)
là đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định tại Điều 22, Điều 23, Điều 24
Luật Tổ chức chính quyền địa phương.
Theo bà Nguyễn Thị B và người đại diện hợp pháp của bà B trình bày cho
rằng nguồn gốc diện tích đất 20.159 m
2
; thuộc thửa 383, 345; tờ bản đồ số 7; toạ
lạc ấp D, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An (Nay là xã Đ, tỉnh Tây Ninh) là do bà B
nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị L1 nên bà B yêu cầu UBND xã M thực
hiện thủ tục cấp giấy đất cho bà B, nhưng bà B không cung cấp được chứng cứ
chứng minh cho lời trình bày của bà B và cũng không cung cấp được tài liệu chứng
minh việc bà B hay bà L1 đã được cấp một trong các loại giấy tờ về đất này theo
quy định của Luật Đất đai. Đồng thời, người bị kiện cung cấp chứng cứ chứng
minh việc bà B đã nhiều lần bị các cơ quan có thẩm quyền quản lý đất đai lập biên
bản vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính đối với bà B về hành vi sử
dụng đất trái phép. Ngoài ra, trong quá trình giải quyết vụ việc, chính quyền địa
phương cũng có xem xét hoàn cảnh gia đình bà B và đã cấp đất khác cho gia đình
bà B. Do đó, Ủy ban nhân dân xã M ban hành Công văn số 214/UBND-TCD ngày
27-3-2024, về việc trả lời không xác nhận nguồn gốc đất theo yêu cầu của bà
Nguyễn Thị B xin được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 383, 345; tờ
bản đồ số 7, tại xã M; vì đất này là đất công, do Nhà nước quản lý là có căn cứ, phù
hợp với quy định của pháp luật. Do đó, cấp sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của bà
Nguyễn Thị B là có cơ sở.
[3] Từ những nhận định trên, nên chấp nhận lời đề nghị của Kiểm sát viên
tham gia phiên tòa; không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị B; giữ nguyên
bản án sơ thẩm.

10
[4] Về án phí hành chính phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị B thuộc trường hợp được
miễn tiền án phí hành chính phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 241 của Luật Tố tụng hành chính;
2. Không chấp nhận đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị B;
3. Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 01/2025/HC-ST ngày 10-9-2025
của Tòa án nhân dân khu vực 2, tỉnh Tây Ninh.
Căn cứ Điều 29, Điều 30, Điều 31; điểm a khoản 2 Điều 116, Điều 193, Điều
194 của Luật Tố tụng hành chính; khoản 2 Điều 11; điểm a, b khoản 2 Điều 12,
Điều 25, Điều 27 của Luật Khiếu nại; Điều 22, Điều 23, Điều 24 của Luật Tổ chức
chính quyền địa phương; Điều 139 của Luật Đất đai năm 2024; Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức
thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; tuyên xử:
3.1. Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị B đối với Ủy ban nhân
dân xã M, huyện Đ, tỉnh Long An (Nay là Ủy ban nhân dân xã Đ, tỉnh Tây Ninh),
về việc “Yêu cầu huỷ Công văn số 214/UBND-TCD ngày 27-3-2024 của Ủy ban
nhân dân xã M”.
3.2. Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị B đối với Chủ tịch Ủy
ban nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh Long An (Nay là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã
Đ, tỉnh Tây Ninh), về việc “Yêu cầu huỷ Quyết định số 513/QĐ-UBND ngày 20-6-
2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã M, về việc giải quyết khiếu nại của bà
Nguyễn Thị B (lần đầu)”.
3.3. Về chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Thị B phải chịu 2.200.000 đồng (hai triệu,
hai trăm nghìn đồng). Bà B đã nộp tạm ứng và chi phí xong.
3.4. Về án phí hành chính sơ thẩm và phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị B được miễn
tiền án phí hành chính sơ thẩm và phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

11
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- Tòa án nhân dân Khu vực 2; tỉnh TN;
- VKSND Khu vực 2;
- THADS tỉnh Tây Ninh;
- Phòng THADS Khu vực 2; tỉnh TN;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu tập án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN –CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Nguyễn Quốc Tuấn
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 18/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 18/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 17/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 17/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 16/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 16/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 16/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 12/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 12/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 12/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 12/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 12/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 10/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 10/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm