Bản án số 91/2026/HS-ST ngày 12/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 91/2026/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 91/2026/HS-ST ngày 12/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 7 - Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị
Số hiệu: 91/2026/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 12/08/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Hồ Văn Q
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 91/2026/HS-ST Bản án số 91/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 91/2026/HS-ST Bản án số 91/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7
TỈNH QUẢNG TRỊ
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 91/2026/HS-ST
Ngày: 12-8-2026
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Quang Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thanh Tùng và bà Dương Thị Mai Hương.
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Bé - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7, tỉnh
Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7, tỉnh Quảng Trị tham gia
phiên toà: Bà Hồ Thiên Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 8 năm 2026, tại Hội trường Tòa án nhân dân khu vực 7, tỉnh
Quảng Trị xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 79/2026/TLST-HS
ngày 15 tháng 7 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
87/2026/QĐXXST-HS ngày ngày 29 tháng 7 năm 2026, đối với bị cáo:
Hồ Văn Q; sinh ngày: 10/10/1994, tại tỉnh Quảng Trị; CCCD số
************; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ D, thôn K, xã L, tỉnh Quảng Trị;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Bru
- Vân Kiều; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 5/12; Con ông Hồ Ka L,
sinh năm 1955 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1954; Gia đình có 04 anh em, bị
cáo là con thứ ba; Có vợ là Hồ Thị H, sinh năm 1993; Có 03 con, lớn nhất sinh
năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2016.
Tiền sự: không
Tiền án: có 01 tiền án: Bản án số 34/2020/HSST ngày 19/6/2020 của Tòa án
nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (cũ) xử phạt Hồ Văn Q 20.000.000 đồng về tội
“Vận chuyển hàng hóa tiền tệ qua biên giới” (thi hành xong ngày 09/3/2026).
Nhân thân: Bản án số 08/2014/HSST ngày 27/3/2014 của Tòa án nhân dân
huyện Hướng Hóa (cũ), tỉnh Quảng Trị xử phạt Hồ Văn Q 12 tháng tù, về tội
“Trộm cắp tài sản” (thi hành xong ngày 24/10/2014).
Bị cáo bị hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư
trú”. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Hồ Thị H, sinh ngày 01/01/1993;
Số CCCD: ************; Địa chỉ: Tổ D, thôn K, Xã L, Tỉnh Quảng Trị. Có mặt.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Hồ Văn Q làm nghề lái xe vận chuyển hàng hóa; khoảng 18 giờ ngày
28/12/2025, khi Q đang ở nhà mẹ vợ tại thôn B, xã T, tỉnh Quảng Trị chơi thì
nhận được cuộc gọi của một người phụ nữ (quá trình điều tra không xác định
được nhân thân, lai lịch) thuê Q lái xe ô tô qua bãi đất trống gần chợ K thuộc bản
D, huyện S, tỉnh Savannakhet, Lào chở hàng Dúi về thôn K, xã L, tỉnh Quảng Trị
sẽ có người chủ động liên hệ lại cho Q để nhận hàng; giá cước vận chuyển là
30.000 đồng/01 cá thể thì Q đồng ý. Nhưng do đang ở tại nhà mẹ vợ nên Q đã gọi
điện qua ứng dụng Messenger cho L1- N-P-Chăn (Lam Ngân), sinh năm 2004;
quốc tịch Lào; trú tại bản D, huyện S, tỉnh Savannakhet, CHDCND L, thuê Lam
N đến nhà Q lấy xe ô tô tải nhãn hiệu ISUZU biển kiểm soát (BKS) 4A-293.17
chạy qua khu đất trống gần chợ K thuộc bản Densavanh chở hàng về nhà Q để
chờ người gọi điện nhận hàng (Lam N làm nghề lái xe thuê, thỉnh thoảng khi bận
việc Q gọi thuê N lái xe và trả tiền công cho N). Sau khi nghe điện thoại, Lam N
điều khiển xe mô tô từ nhà của mình tại bản D, huyện S, tỉnh Savannakhet, Lào
theo đường mòn biên giới đến nhà Hồ Văn Q thì thấy xe ô tô tải BKS 74A-293.17
đang đỗ ở trước nhà Q, chìa khóa để sẵn ở xe. Lam Ngân mở khóa và điều khiển
xe ô tô theo đường mòn bên cạnh nhà Q đi khoảng 500 mét thì đến vị trí đường
biên giới giữa Việt Nam – Lào, sau đó tiếp tục đi vào lãnh thổ nước CHDCND
Lào, đi qua khu dân cư của bản Pa Lát rồi ra đường Q (thuộc địa phận Lào) đến
bãi đất trống gần chợ K (Lào), khóa xe lại, để xe ở đó rồi về nhà mình. Khoảng
hai tiếng sau, Q gọi điện nói đã bốc hàng xong nên Lam N quay trở lại, điều khiển
xe ô tô BKS 74A-293.17 theo cung đường cũ để trở về nhà Q, đỗ xe vào trong
gara và kéo cửa cuốn lại (lúc này nhà Q không có ai).
Khoảng 20 giờ cùng ngày, Lam N gọi điện cho Q qua ứng dụng Messenger
báo đã chở hàng về đến nhà Q, sau đó Lam N lấy xe mô tô của mình rồi trở về
nhà tại Lào. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, Q về nhà vào gara kiểm tra thì thấy
trên thùng xe ô tô có các lồng sắt bên trong đựng các cá thể Dúi; lúc này, người
nhận hàng vẫn chưa liên lạc với Q nên số hàng D vẫn để trên xe trong gara nhà
Q.
Qua công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, vi phạm pháp luật trên địa
bàn, Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế L2 nhận được thông tin có xe ô tô BKS
74A-293.17 vận chuyển trái phép cá thể Dúi từ Lào về Việt Nam qua đường mòn
biên giới nên đã phối hợp với lực lượng chức năng tiến hành tuần tra, kiểm soát
địa bàn. Vào lúc 09 giờ ngày 29/12/2025, khi tổ công tác đến đoạn đường dân
sinh thuộc địa phận tổ D, thôn K, xã L, tỉnh Quảng Trị thì phát hiện trước khu vực
gara nhà vợ chồng Hồ Văn Q và Hồ Thị H (nằm sát đường bê tông dân sinh, cách
3
đường biên giới tiếp giáp với nước CHDCND Lào khoảng 500 mét) có nhiều dấu
vết xe ô tô, bên trong phát ra tiếng động vật, nghi là D. Tổ công tác đã liên lạc với
Hồ Thị H để tiến hành kiểm tra, xác minh thông tin.
Quá trình làm việc, chị H khai nhận xe ô tô BKS 74A-293.17 do H đứng tên
chủ sở hữu, xe đang đỗ ở gara nhà mình nhưng không biết trên xe có hàng hóa gì
nên H đã gọi điện cho chồng là Hồ Văn Q về làm việc với cơ quan chức năng.
Cùng ngày, Hồ Văn Q đã tự nguyện ra trình diện và khai báo với cơ quan
chức năng về hành vi vận chuyển trái phép 258 cá thể dúi từ Lào vào Việt Nam,
tự nguyện giao nộp toàn bộ số cá thể Dúi và phương tiện, đồ vật tài liệu liên quan.
Vật chứng thu giư, gồm:
- 258 cá thể động vật Dúi má đào (tên khoa học: R), tổng trọng lượng 564,8
kg.
- 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng, đã qua sử dụng.
- 01 xe ô tô tải nhãn hiệu ISUZU, biển kiểm soát 74A-293.17, số khung:
RLE1RL77FS5100194; số máy: 288V45; màu trắng; đã qua sử dụng; 01 Giấy
chứng nhận đăng ký xe ô tô số 74 00000941 do Công an thị trấn L cấp ngày
29/4/2025;
- 77 lồng sắt, trong đó: 29 lồng sắt có kích thước (37x49x18)cm, trọng
lượng mỗi lồng 3,1kg; 35 lồng sắt có kích thước (40x40x18)cm, trọng lượng mỗi
lồng 3,1kg; 13 lồng sắt có kích thước (35x35x35)cm, trọng lượng mỗi lồng 4,6kg.
Bản Kết luận định giá tài sản số 04/KL-ĐGTS ngày 11/02/2026 của Hội
đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xã L kết luận:
Giá trị tài sản đối với 564,8 kg động vật Dúi Má đào (tên khoa học: R) tại
thời điểm ngày 29/12/2025 trên địa bàn xã L, tỉnh Quảng Trị có giá 300.000
đồng/kg, tổng giá trị tài sản: 169.440.000 đồng (Một trăm sáu mươi chín triệu bốn
trăm bốn mươi nghìn đồng).
Bản Kết luận giám định số 535/KL-KTHS ngày 27/3/2026 của Phòng K1
(KTHS) Công an tỉnh Q kết luận:
Điện thoại di động gửi đến giám định nhãn hiệu Iphone, màu vàng, gắn kèm
Sim Viettel in số 8984048000300813882 không trích xuất được dữ liệu trên điện
thoại.
Tại bản cáo trạng số: 43/VKSQTi-KV ngày 13/7/2026 của Viện kiểm sát
nhân dân khu vực 7, tỉnh Quảng Trị đã truy tố bị cáo Hồ Văn Q về tội “Vận chuyển
trái phép hàng hóa qua biên giới” theo theo khoản 1 Điều 189 của Bộ luật hình
sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7, tỉnh Quảng Trị giữ
nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hồ Văn
Q phạm tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới” theo theo khoản 1
Điều 189 của Bộ luật hình sự.
4
Căn cứ khoản 1 Điều 189; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản
1 Điều 52; Điều 35 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hồ Văn Q từ 130.000.000 đồng
đến 140.000.000 đồng. Không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự;
điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone,
màu vàng, đã qua sử dụng của bị cáo Hồ Văn Q.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 xe ô tô tải nhãn hiệu ISUZU, biển
kiểm soát 74A-293.17, số khung: RLE1RL77FS5100194; số máy: 288V45; màu
trắng; đã qua sử dụng; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 7400000941 do
Công an thị trấn L cấp ngày 29/4/2025 của bị cáo Hồ Văn Q và bà Hồ Thị H.
- Tịch thu, sung ngân sách nhà nước 77 lồng sắt, trong đó: 29 lồng sắt có
kích thước (37x49x18)cm, trọng lượng mỗi lồng 3,1kg; 35 lồng sắt có kích thước
(40x40x18)cm, trọng lượng mỗi lồng 3,1kg; 13 lồng sắt có kích thước
(35x35x35)cm, trọng lượng mỗi lồng 4,6kg.
Về án phí: Buộc bị cáo Hồ Văn Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy
định của pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo Hồ Văn Q thừa nhận hành vi bị truy tố
và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an
tỉnh Q, điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7, tỉnh Quảng Trị, Kiểm sát
viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ
tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên
tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến khiếu nại về hành vi,
quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành
vi, tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều
hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai và các tài liệu
chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở khẳng định: Ngày
28/12/2025, nhằm mục đích hưởng tiền công vận chuyển, Hồ Văn Q đã nhận vận
chuyển 258 cá thể Dúi Má đào (tên khoa học: R) từ nước CHDCND Lào vào Việt
Nam. Bị cáo Hồ Văn Q đã thuê L1-N-P-C điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 74A-
293.17 vận chuyển số hàng hóa trên từ bản D, huyện S, tỉnh Savannakhet, nước
CHDCND Lào về nhà bị cáo tại thôn K, xã L, tỉnh Quảng Trị thông qua đường
tiểu ngạch, không thực hiện thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định của pháp
luật. Theo Kết luận định giá tài sản số 04/KL-ĐGTS ngày 11/02/2026 của Hội
5
đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xã L, 564,8 kg động vật Dúi Má đào
có tổng giá trị là 169.440.000 đồng. Như vậy, có đủ căn cứ xác định bị cáo Hồ
Văn Q đã thực hiện hành vi vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới có giá
trị 169.440.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển
trái phép hàng hóa qua biên giới” quy định tại Điều 189 Bộ luật Hình sự.
[3] Xét về tính chất, hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo Hồ Văn Q là nguy
hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh
vực xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa qua biên giới. Vì động cơ vụ lợi, bị cáo đã cố
ý thực hiện việc vận chuyển trái phép hàng hóa từ nước ngoài vào Việt Nam không
qua các thủ tục kiểm tra, kiểm soát của cơ quan có thẩm quyền, với tổng giá trị
hàng hóa là 169.440.000 đồng. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7,
tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo Hồ Văn Q theo quy định tại khoản 1 Điều 189 Bộ
luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Hồ Văn Q có 01 tiền án về tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền
tệ qua biên giới” theo Bản án số 34/2020/HS-ST ngày 19/6/2020 của Tòa án nhân
dân tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là Tòa án nhân dân thành phố Huế), đã chấp hành
xong hình phạt ngày 09/3/2026. Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án
này, bị cáo chưa được xóa án tích nhưng lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội
do cố ý. Do đó, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái
phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, thừa
nhận toàn bộ hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự “Thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình
sự. Ngoài ra, sau khi hành vi phạm tội bị phát hiện, bị cáo đã tự nguyện đến trình
diện và khai báo với cơ quan có thẩm quyền về hành vi phạm tội của mình, bị cáo
là lao động chính trong gia đình. Vì vậy, cần xem xét áp dụng cho bị cáo tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Đầu thú” theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các
tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội
đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo thực hiện hành vi vận chuyển trái phép hàng hóa
qua biên giới có giá trị 169.440.000 đồng. Mặc dù, bị cáo phải chịu tình tiết tăng
nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình
sự, nhưng bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy
định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét bị cáo có nơi cư trú rõ
ràng; tội phạm thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; mục đích phạm tội là hưởng tiền
công vận chuyển; đồng thời bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà áp
6
dụng hình phạt tiền theo quy định tại khoản 1 Điều 35 Bộ luật Hình sự cũng đủ
tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[7] Cần hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đang áp dụng
đối với bị cáo Hồ Văn Q.
[8] Về xử lý vật chứng:
Đối với 258 cá thể động vật Dúi má đào (tên khoa học: R), tổng trọng lượng
564,8 kg trong quá trình thu giữ đã chết nên ngày 21/4/2026, Cơ quan cảnh sát
điều tra Công an tỉnh Q ra Quyết định xử lý vật chứng số C3550/QĐ-CSKT bằng
hình thức tiêu là đúng quy định.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng, đã qua sử dụng
của bị cáo Hồ Văn Q, đây là phương tiện bị cáo sử dụng để liên lạc, thực hiện việc
vận chuyển hàng hóa trái phép qua biên giới nên cần tịch thu sung ngân sách nhà
nước.
Đối với 01 xe ô tô tải nhãn hiệu ISUZU, biển kiểm soát 74A-293.17, số
khung RLE1RL77FS5100194, số máy 288V45, màu trắng, đã qua sử dụng cùng
01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 74 00000941 do Công an thị trấn L cấp
ngày 29/4/2025, đây là phương tiện được bị cáo Hồ Văn Q sử dụng trực tiếp vào
việc thực hiện hành vi phạm tội nên thuộc trường hợp công cụ, phương tiện dùng
vào việc phạm tội cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Đối với 77 lồng sắt, gồm: 29 lồng sắt kích thước (37x49x18)cm, trọng lượng
mỗi lồng 3,1kg; 35 lồng sắt kích thước (40x40x18)cm, trọng lượng mỗi lồng
3,1kg; 13 lồng sắt kích thước (35x35x35)cm, trọng lượng mỗi lồng 4,6kg: Đây là
công cụ được sử dụng để chứa đựng, vận chuyển số hàng hóa vi phạm nên cần
tịch thu sung ngân sách nhà nước.
[9] Các vấn đề khác của vụ án:
Đối với L1-N-P-C là người đã trực tiếp điều khiển xe ô tô biển kiểm soát
74A-293.17 vận chuyển 258 cá thể Dúi Má đào từ Lào về Việt Nam theo sự thuê
mướn của bị cáo Hồ Văn Q. Hành vi của L1-N-P-Chăn có dấu hiệu của tội “Vận
chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới” quy định tại khoản 1 Điều 189 Bộ luật
Hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q đã ban hành Quyết định khởi
tố bị can số C419/QĐ-CSKT ngày 04/6/2026 đối với L1-N-P-Chăn. Quá trình
điều tra, xác định L1-N-P-C là công dân nước CHDCND Lào, hiện đang có mặt
tại bản Densavanh, huyện S, tỉnh Savannakhet, nước CHDCND Lào. Căn cứ Công
văn số 18/VKS ngày 28/5/2026 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Savannakhet,
CHDCND Lào và các quy định của Hiệp định tương trợ tư pháp về dân sự và hình
sự giữa nước C1 và nước CHDCND Lào năm 1998, việc dẫn độ công dân Lào về
Việt Nam để xử lý hình sự không thực hiện được. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều
tra Công an tỉnh Q đã ban hành yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự số
C206/UTTPHS-CSKT ngày 04/6/2026; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị
7
ban hành Ủy thác tư pháp số 1199/UTTPHS-VKSQT-KV3 ngày 05/6/2026 để
chuyển giao việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với L1-N-P-Chăn cho cơ quan
có thẩm quyền của nước CHDCND Lào giải quyết theo quy định pháp luật. Ngày
10/6/2026, hồ sơ vụ án đã được bàn giao cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh
Savannakhet, nước CHDCND Lào để tiếp tục giải quyết theo quy định pháp luật.
Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét trách nhiệm hình sự đối với L1-N-Pha-
Chăn trong vụ án này.
Đối với người phụ nữ thuê Hồ Văn Q vận chuyển các cá thể Dúi từ Lào về
Việt Nam, hiện thông tin mà bị cáo cung cấp về đối tượng này còn ít nên không
xác định được nhân thân, lai lịch. Ngoài lời khai của bị cáo không có tài liệu,
chứng cứ nào để xác định, do đó không đủ cơ sở truy xét và xem xét trách nhiệm
đối với đối tượng này. Khi nào xác định được sẽ xem xét, xử lý theo quy định của
pháp luật.
Đối với bà Hồ Thị H, quá trình điều tra xác định bà H không biết việc bị cáo
Hồ Văn Q sử dụng xe ô tô tải nhãn hiệu ISUZU, biển kiểm soát 74A-293.17 là tài
sản chung của vợ chồng để thực hiện hành vi phạm tội, không tham gia, không
giúp sức và không được hưởng lợi từ việc phạm tội nên không có căn cứ xem xét
trách nhiệm hình sự đối với bà H.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp
luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Hồ Văn Q phạm tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa
qua biên giới”.
Áp dụng theo khoản 1 Điều 189; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h
khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 35 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hồ Văn Q
130.000.000 đồng (Một trăm ba mươi triệu).
2. Áp dụng khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự: Hủy bỏ Lệnh cấm đi
khỏi nơi cư trú số 25/2026/HSST-LCĐKNCT ngày 15/7/2026 của Tòa án nhân
dân khu vực 7, tỉnh Quảng Trị.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự;
điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu
Iphone, màu vàng, đã qua sử dụng của bị cáo Hồ Văn Q.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) xe ô tô tải nhãn hiệu ISUZU,
biển kiểm soát 74A-293.17, số khung: RLE1RL77FS5100194; số máy: 288V45;
màu trắng; đã qua sử dụng; 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số
7400000941 do Công an thị trấn L cấp ngày 29/4/2025 của bị cáo Hồ Văn Q và
bà Hồ Thị H.
8
- Tịch thu, sung ngân sách nhà nước 77 (bảy mươi bảy) lồng sắt, trong đó:
29 lồng sắt có kích thước (37x49x18)cm, trọng lượng mỗi lồng 3,1kg; 35 lồng sắt
có kích thước (40x40x18)cm, trọng lượng mỗi lồng 3,1kg; 13 lồng sắt có kích
thước (35x35x35)cm, trọng lượng mỗi lồng 4,6kg.
Vật chứng đang có tại kho vật chứng, tài liệu, đồ vật số 1 Công an tỉnh Q.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm
a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ
Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí,
lệ phí Tòa án buộc bị cáo Hồ Văn Q phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự
sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án; Người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan trong thời
hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (12/8/2026).
Nơi nhận:
- TAND T. Quảng Trị;
- VKSND T. Quảng Trị;
- VKSND khu vực 7-Quảng Trị;
- CQCSĐT Công an tỉnh Quảng Trị;
- THADS tỉnh Quảng Trị;
- Cơ quan Thi hành án hình sự;
- Bị cáo;
- NCQLNVLQ;
- Tổ HCTP;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Quang Sơn
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 91/2026/HS-ST Bản án số 91/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 91/2026/HS-ST Bản án số 91/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất