Bản án số 81/2020/KDTM-PT ngày 19/06/2020 của TAND TP. Hà Nội về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 81/2020/KDTM-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 81/2020/KDTM-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 81/2020/KDTM-PT ngày 19/06/2020 của TAND TP. Hà Nội về tranh chấp hợp đồng tín dụng |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Hà Nội |
| Số hiệu: | 81/2020/KDTM-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 19/06/2020 |
| Lĩnh vực: | Kinh doanh thương mại |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | HĐTD |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Bản án số: 81 /2020/KDTM-PT
Ngày: 19/ 6/2020
V/v: tranh chấp hợp đồng tín dụng
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Tuyết Băng
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thúy Hạnh
Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Ninh Việt Hoàng -Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố
Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông
Nguyễn Trần Thắng – Kiểm sát viên
Trong các ngày 13,19 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành
phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số
32/2019/TLPT-KDTM ngày 09/01/2020 về tranh chấp hợp đồng tín dụng.
Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 15/2019/KDTM-ST ngày
31/7/2019 của Toà án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 134/2020/QĐ-PT ngày 27/4/2020 và
Quyết định hoãn phiên tòa số 205/2020/QĐ-PT ngày 20/5/2020, thông báo mở lại
phiên tòa số 214/TB-TA ngày 21/5/2020 giữa các đương sự:
*Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần A
Trụ sở: Số 198 Trần Quang Khải, phường Lý Thái Tổ, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Đại diện theo pháp luật: Ông Nghiêm Xuân T – chủ tịch HĐQT
Đại diện theo ủy quyền: Ông Đặng Kiên Đ – Giám đốc Phụ Trách Ngân hàng TMCP
A – chi nhánh Hoàng Mai (theo Giấy ủy quyền số 48/UQ-VCB-PC ngày 03 tháng 01
năm 2017 của Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP A).Ông Đặng Kiên Đ ủy
quyền lại Bà Nguyễn Thị Hồng M và bà Lê Thị P (theo giấy ủy quyền số 57 ngày
01/6/2018). ( Có mặt ).
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn Luật sư Đỗ Đăng T – Công ty
Luật TNHH Bách Khoa- Đoàn Luật sư Hà Nội. ( Có mặt).
*Bị đơn: Công ty CP B
Trụ sở: số 183 Kim Mã, phường Kim Mã, quận Ba Đình, Hà Nội.
Đại diện theo pháp luật: Bà Ngô Thị T– Chủ tịch Hội đồng quản trị
( Vắng mặt)
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Bà Hoàng Quế L, sinh năm 1964
ĐKHKTT: Số K17, P306 phường Bách Khoa, quận Hai Bà Trưng , Hà Nội
( Vắng mặt).
2/ Ông Bùi Thế H, sinh năm 1963
HKTT và nơi ở: Tổ 8, Cự Khối, phường Cự Khối, quận Long Biên, thành phố Hà
Nội.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Hùng là ông Nguyễn Trung K
Địa chỉ:A1013,Hh2a, khu đô thị thương mại Dương Nội, Yên Nghĩa, quận Hà Đông,
Thành phố Hà Nội. ( Có mặt)
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho ông Hùng Luật sư Phạm Thị Thu H – Công
ty Luật TNHH Phạm Vũ – Đoàn Luật Sư Hà Nội ( Có mặt)
3/ Bà Đỗ Thu H, sinh năm 1974
HKTTvà nơi ở: Số 10 ngõ 111 Khương thượng, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
( Vắng mặt).
4/ Bà Trương Thị P – sinh năm 1952
5/ Ông Trần Việt N – sinh năm 1949
Cùng HKTT và nơi ở: xã Ngũ Hiệp, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội
(Bà Trương Thị P và ông Trần Việt N ủy quyền cho chị Trần Thị L theo văn bản
ủy quyền số 588/2019 ngày 26/3/2019). Vắng mặt.
6/ Anh Trần Việt H – sinh năm 1975
7/ Chị Ngô Thị An H – sinh năm 1977 ( có mặt)
8/ Cháu Trần Ngọc A – sinh năm 2004 ( Vắng mặt)
9/ Cháu Trần Việt P – sinh năm 2006
Cháu Ngọc A và cháu P do Anh Trần Việt H là người đại diện hợp pháp
( Anh H vắng mặt).
10/ Anh Trần Việt P – sinh năm 1981
11/ Chị Nguyễn Thị H – sinh năm 1982
Anh Trần Việt P và chị Nguyễn Thị H ủy quyền cho chị: Trần Thị L
( Vắng mặt).
12/ Cháu Trần Huyền T – sinh năm 2007
13/ Cháu Trần Hải A – sinh năm 2009
Cháu Trang, cháu Anh do Anh Trần Việt P là người đại diện hợp pháp
(Anh Phú Vắng mặt).
Cùng trú tại: xã Ngũ Hiệp, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội
14/ Chị Lưu Thị Bích L – sinh năm 1982
Địa chỉ: Xã Ngũ Hiệp, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. ( Vắng mặt)
15/ Anh Bùi Thế C – sinh năm 1987 ( Vắng mặt)
16/ Chị Vũ Thị Thúy N – sinh năm 1994 ( Vắng mặt)
17/ Cháu Bùi Thế V – sinh năm 2013
18/ Cháu Bùi Thế Khánh H – sinh ngày 06/9/2018
Cháu V, cháu H do Anh Bùi Thế C là người đại diện hợp pháp
Cùng trú tại: Tổ 8, Cự Khối, phường Cự Khối, quận Long Biên, thành phố Hà
Nội
19/ Ông Phí Hồng S – sinh năm 1970
20/ Bà Nguyễn Thị Hồng N – sinh năm 1971
21/ Chị Phí Thùy L – sinh năm 1997
Bà Nguyễn Thị Hồng N, chị Phí Thùy L ủy quyền cho ông Phí Hồng S.
( Ông Sơn vắng mặt).
22/ Cháu Phí Minh Q – sinh năm 2006
Cháu Q do anh S đại diện theo pháp luật
Cùng trú tại: Nhà E5, khu 22 ngõ Kiến Thiết, phường Thổ Quan, quận Đống Đa,
thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai tại Tòa án, nguyên đơn là Ngân hàng
thương mại cổ phần A do bà NguyễnThị Hồng M và bà Lê Thị P đại diện
theo ủy quyền trình bày:
Ngân hàng thương mại cổ phần A và Công ty cổ phần đầu tư kinh doanh
thương mại Quốc tế B có ký kết Hợp đồng tín dụng hạn mức số:
02/2015/HĐTD/VCB.HGM-BINHMINH ngày 31/07/2015 với nội dung Ngân
hàng thương mại cổ phần A cho Công ty cổ phần đầu tư kinh doanh thương mại
Quốc tế B vay: 25.000.000.000đồng; Thời hạn rút vốn: 06 tháng kể từ ngày Hợp
đồng tín dụng có hiệu lực 31/07/2015; Thời hạn cho vay: tối đa là 03 tháng kể từ
ngày rút vốn đến ngày Bên vay trả xong nợ tính cho từng lần rút vốn (theo từng
Giấy nhận nợ); Mục đích vay vốn: Bổ sung vốn phục vụ hoạt động sản xuất kinh
doanh của Công ty
Tài sản đảm bảo cho khoản vay gồm:
1/Toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số
105(1), tờ bản đồ số 26, xã Ngũ Hiệp, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội (theo
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất số BU 734435 của UBND huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội cấp ngày
30 tháng 01 năm 2015 cho Bà Hoàng Quế L.Theo Hợp đồng thế chấp tài sản số
sổ công chứng 1590.15 ngày 18/03/2015; Giá tài sản: 4.576.000.000 đồng .
2/ Toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số
5(2), tờ bản đồ số 30, Tổ 13, phường Ngọc Thụy, quận Long Biên, thành phố Hà
Nội (nay là số 45 ngách 264/63 đường Ngọc Thụy) ,theo Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BN 700544
do UBND quận Long Biên, thành phố Hà Nội cấp ngày 22 tháng 03 năm 2013
cho Bà Nguyễn Thị V. Theo Hợp đồng thế chấp tài sản số công chứng 1710.15
ngày 24/03/2015; Giá tài sản: 4.218.907.000 đồng.
Ngày 04/07/2017, Ngân hàng đã xử lý Tài sản bảo đảm này để thu nợ gốc
số tiền là: 3.300.000.000 đồng.
3/ Toàn bộ Quyền sử dụng đất thửa đất số 5-4 tại Thổ Khối, phường Cự
Khối, quận Long Biên, thành phố Hà Nội, theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng
đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất Số BI 174498, Số vào sổ
cấp GCN: 738 do UBND Quận Long Biên, thành phố Hà Nội cấp ngày
09/12/2011 cho Ông Bùi Thế H.Hợp đồng thế chấp tài sản số công chứng
2704.2015 ngày 27/04/2015; Giá tài sản: 2.719.530.000 đồng.
4/ Toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại E5 khu 22 ngõ
Kiến Thiết, phường Thổ Quan, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội, theo Giấy
chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất số CA231572, số vào sổ cấp GCN: CS13779 do Sở tài nguyên và môi trường
thành phố Hà Nội cấp ngày 16/06/2015 mang tên bà Đỗ Thu H. Theo Hợp đồng
thế chấp tài sản số công chứng 3985.15 ngày 19/06/2015; Giá trị tài sản:
3.408.000.000đồng.
5/ Toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 19,
tờ bản đồ số “00”, Tổ 23, cụm 6, phường Hạ Đình, quận Thanh Xuân, Thành phố
Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất số BD 662681, số vào sổ cấp GCN: CH00223 do UBND
Quận Thanh Xuân cấp ngày 23/11/2010 cho Bà Nguyễn Thị Mai Anh, đã sang
tên cho bà Đỗ Thu H ngày 24/07/2015 theo hợp đồng số 0898.2015/HĐCN ngày
22/07/2015 lập tại phòng công chứng Vượng Phát, Thành phố Hà Nội. TheoHợp
đồng thế chấp tài sản số công chứng 5209.15 ngày 29/07/2015; Giá trị tài sản:
7.756.000.000 đồng.
6/ Sổ tiết kiệm của bà Đỗ Thu H số sổ 01849001 ngày 26/03/2015 tại
Vietcombank,trị giá: 10.000 EUR, kỳ hạn 03 tháng, theo Hợp đồng cầm cố
09/2015/HĐCC/VCB.HGM-BINHMINH ngày 27/03/2015; trị giá tài sản:
235.564.400 đồng .
Ngày 10/03/2016, Ngân hàng đã xử lý sổ tiết kiệm số 01849001 của Bà
Đỗ Thu H để thu nợ gốc số tiền là 244.084.937 đồng và ngày 04/7/2017 Ngân
hàng đã xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất số BN
700544 do Uỷ ban nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội cấp ngày 22 tháng
03 năm 2013 mang tên bà Nguyễn Thị V tại địa chỉ: thửa đất số 5(2), tờ bản đồ số
30, Tổ 13, phường Ngọc Thụy, quận Long Biên, thành phố Hà Nội (nay là số 45
ngách 264/63 đường Ngọc Thụy); theo Hợp đồng thế chấp số công chứng 1710.15
ngày 24/03/2015 để thu nợ gốc số tiền 3.300.000.000 đồng.
Quá trình thực hiện Hợp đồng đến ngày 26/12/2015, Công ty cổ phần đầu
tư kinh doanh thương mại Quốc tế B vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận tại
Hợp đồng. Nay Ngân hàng thương mại cổ phần A đề nghị Tòa án giải quyết buộc
Công ty đầu tư kinh doanh thương mại Quốc tế B phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ
cho Ngân hàng tổng số tiền cả gốc và lãi tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày
31/7/2019 tổng số tiền nợ gốc và lãi là: 30.475.024.457đồng. Trong đó:
- Nợ gốc: 21.255.914.374đồng;
- Nợ lãi trong hạn: 7.200.204.381đồng;
- Nợ lãi quá hạn: 2.018.905.702 đồng;
- Tổng nợ lãi: 9.219.110.083 đồng;
Ngoài ra Công ty đầu tư kinh doanh thương mại Quốc tế B còn phải tiếp
tục trả lãi suất được tính theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng cho đến khi
Công ty đầu tư kinh doanh thương mại Quốc tế B thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ
gốc cho Ngân hàng cổ phần thương mại A.
Trường hợp Công ty đầu tư kinh doanh thương mại Quốc tế B không thực
hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng thì
Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý toàn bộ tài
sản thế chấp để thu hồi các khoản nợ.Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý
tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của Công ty đầu tư kinh
doanh thương mại Quốc tế B đối với Ngân hàng thương mại cô phần A. Nếu số
tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán hết khoản
nợ thì Công ty đầu tư kinh doanh thương mại Quốc tế B vẫn phải có nghĩa vụ trả
hết khoản nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần A.
Tại bản tự khai và các biên bản lời khai trong quá trình giải quyết vụ
án bị đơn: Công ty cổ phần đầu tư kinh doanh thương mại quốc tế B do Bà
Ngô Thị T là đại diện theo pháp luật trình bày:
Công ty cổ phần Đầu tư kinh doanh thương mại quốc tế B xác nhận về thời
gian ký kết hợp đồng và hình thức, nội dung ký kết hợp đồng hạn mức tín dụng và
các hợp đồng thế chấp, quá trình thực hiện hợp đồng như nguyên đơn trình bày là
đúng.
Nay Ngân hàng thương mại cổ phần A khởi kiện đối với khoản vay của
Công ty. Do hiện nay kinh tế của Công ty gặp khó khăn, nên Công ty không có
khả năng để chi trả, do vậy Công ty đề nghị ngân hàng xem xét giảm lãi trong
hạn và lãi quá hạn cho công ty.
Đối với yêu cầu của Ngân hàng đề nghị Tòa án tuyên trong bản án về
quyền yêu cầu phát mại toàn bộ tài sản thế chấp để thu hồi các khoản nợ, thì
Công ty đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện để các chủ tài sản được làm việc thỏa
thuận giữa các bên. Tuy nhiên, đối với tài sản đảm bảo là: Toàn bộ Quyền sử
dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ: Tổ 23, cụm 6, phường Hạ Đình,
quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội và Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền
với đất tại địa chỉ: E5 khu 22 ngõ Kiến Thiết, phường Thổ Quan, quận Đống Đa,
thành phố Hà Nội đều mang tên bà Đỗ Thu H. Bà Hà trước đây là người đại diện
theo pháp luật của Công ty đầu tư kinh doanh thương mại Quốc tế B. Hiện nay bà
Đỗ Thu H đã đi khỏi địa phương nơi cư trú và đã ủy quyền cho bà Tuyết là đại
diện theo pháp luật của Công ty đầu tư kinh doanh thương mại Quốc tế B hiện
nay toàn quyền giải quyết 02 tài sản này. Với tư cách là đại diện của Công ty , bà
Tuyết cũng nhất trí đề nghị Tòa án giải quyết tài sản đảm bảo theo quy định của
pháp luật vì hiện tại bà Tuyết vẫn phải chịu trách nhiệm đối với khoản vay của
Công ty đầu tư kinh doanh thương mại Quốc tế B tại Ngân hàng thương mại cổ
phần A theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số 02/2015/HĐTD/VCB.HGM-
BINHMINH ngày 31/7/2015.
Tại bản tự khai và biên ban ghi lời khai trong quá trình giải quyết vụ
án, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Bà Hoàng Quế L trình bày: Năm 2015, thông qua người quen giới thiệu bà
Lan biết anh Nguyễn Hồng Mạnh ở tại số 5 ngõ 289 phố Yên Duyên, phường
Yên Sở, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội, chuyên làm dịch vụ vay Ngân
hàng và đáo hạn Ngân hàng, anh Mạnh tự giới thiệu là phó giám đốc Công ty
đầu tư kinh doanh thương mại Quốc tế B và có 40% cổ phần tại công ty này.
Công ty kinh doanh sim thẻ rất tốt, doanh thu hàng trăm tỷ đồng. Nên bà có nói
chuyện với vợ chồng chị Hoa, anh Hà để mượn sổ đỏ của vợ chồng anh chị để
thế chấp vay ngân hàng trong thời hạn 3 năm (hai bên có làm văn bản thỏa thuận
viết tay giữa hai bên với nhau. Vợ chồng chị Hoa, anh Hà đồng ý nên hai bên ra
văn phòng công chứng làm thủ tục chuyển nhượng, sang tên giấy chứng nhận
thành tên bà Lan. Sau khi sang tên sổ đỏ thì anh Mạnh có đưa cán bộ Ngân
hàng thương mại cổ phần A xuống thẩm định tài sản đảm bảo. Đến ngày
18/3/2015, các bên cùng nhau ra văn phòng công chứng để ký hợp đồng thế
chấp. Tài sản đã được Ngân hàng định giá là 4.576.000.000 đồng. Tại hôm ký
hợp đồng thế chấp có chị Đỗ Thu H là đại diện theo pháp luật Công ty đầu tư
kinh doanh thương mại Quốc tế B đến ký. Khi ký hợp đồng này bà Lan cũng
đọc nội dung hợp đồng thế chấp và có lăn tăn về việc tài sản đảm bảo của bà sẽ
phải chịu trách nhiệm cho toàn bộ khoản vay tại hợp đồng hạn mức của Công ty
đầu tư kinh doanh thương mại Quốc tế B là 25.000.000.000 đồng, nhưng do lúc
đó bà đang cần tiền kinh doanh nên vẫn ký. Trước khi ký hợp đồng thế chấp,
anh Mạnh có nói với bà là không vay ké vào giá trị tài sản đảm bảo của bà,
Ngân hàng chỉ cho vay tối đa là 3.100.000.000 đồng, nhưng thực tế anh Mạnh
chỉ đưa cho bà số tiền 2.700.000.000 đồng, số tiền 400.000.000 đồng còn lại anh
Mạnh giải thích với bà là giữ lại để cơ cấu lại tài sản, đề phòng khi bà không trả
được lãi vay cho Ngân hàng, lúc đó có mặt cả cán bộ Ngân hàng, vì vậy bà đã
đồng ý. Việc anh Mạnh đưa tiền cho bà thì có viết giấy tờ.
Sau khi nhận khoản tiền 2.700.000.000 đồng, hàng tháng bà đều trả lãi cho
anh Mạnh. Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, quan điểm của bà là mong
ngân hàng tạo điều kiện miễn giảm lãi cho Công ty đầu tư kinh doanh thương mại
Quốc tế B và bà xin được trả khoản tiền nợ gốc 2.700.000.000 đồng mà bà đã sử
dụng cho Ngân hàng, tiền lãi từ đó đến nay bà xin Ngân hàng xem xét giảm lãi để
bà được rút tài sản đảm bảo về, bà không đồng ý Ngân hàng là phát mại tài sản
đảm bảo.
2/ ÔngBùi Thế H trình bày: Đầu năm 2015, ông có nhu cầu vay tiền để
kinh doanh, thông qua người quen là anh Nguyễn Đăng Hà, ông gặp và quen biết
anh Nguyễn Hồng Mạnh là Phó giám đốc của Công ty đầu tư kinh doanh thương
mại Quốc tế B. Ngày 27/4/2015, anh Mạnh cùng ông ra Văn phòng công chứng
số 4 ký hợp đồng thế chấp tài sản đứng tên ông tại địa chỉ Tổ 8, Cự Khối, phường
Cự Khối, quận Long Biên, thành phố Hà Nội để đảm bảo cho khoản vay của
Công ty đầu tư kinh doanh thương mại Quốc tế B. Khi ông ký hợp đồng thế chấp
ông có được đọc nhưng do ông không hiểu biết pháp luật. Trước khi ký hợp đồng
thế chấp, ông được anh Mạnh đưa cho 80.000.000 đồng, (khi đưa hai bên không
làm giấy biên nhận gì), anh Mạnh nói đưa trước số tiền này cho ông , sau khi
làm thủ tục thế chấp sổ đỏ của ông thì ông sẽ được nhận nốt số tiền còn lại là
220.000.000 đồng, khoảng 10 ngày sau khi ký hợp đồng thế chấp, ông gặp anh
Mạnh lấy nốt số tiền 220.000.000 đồng, khi đưa số tiền trên, anh Mạnh có bắt
ông viết giấy biên nhận với nội dung là ông đã nhận số tiền 220.000.000 đồng.
Hiện tại, giấy biên nhận này do anh Mạnh giữ nên ông không thể xuất trình cho
Tòa án được. Hàng tháng ông vẫn trực tiếp trả lãi cho anh Mạnh. Khi đó Công ty
đầu tư kinh doanh thương mại Quốc tế B có đưa cho ông biên bản bàn giao hàng
hóa ngày 13/4/2015, phiếu xuất kho và hóa đơn giá trị gia tăng mà có chữ ký của
ông (mua sim thẻ điện thoại).
Năm 2015 Ngân hàng gửi thông báo về cho ông. Sau đó, Công an C46
đến nhà ông và đưa giấy mời ông đến trụ sở công an làm việc. Ông đã đề nghị Cơ
quan điều tra xem xét giải quyết về việc ông bị Ngân hàng và Công ty đầu tư kinh
doanh thương mại Quốc tế B lừa. Cơ quan điều tra đã kết luận ông là bị hại trong
vụ án lừa đảo do chủ mưu là anh Nguyễn Hồng Mạnh – Phó giám đốc Công ty
đầu tư kinh doanh thương mại Quốc tế B. Tuy nhiên sau đó Cơ quan điều tra đã
quyết định đình chỉ điều tra đối với yêu cầu của Ngân hàng mà không tiếp tục
điều tra giải quyết theo yêu cầu của ông.
Nay ông đề nghị Tòa án triệu tập anh Mạnh đến để cùng nhau giải quyết.
Ông chỉ đồng ý trả cho Ngân hàng số tiền 300.000.000 đồng và Ngân hàng phải
giải chấp sổ đỏ ra trả cho ông, còn tiền lãi thì ông không chịu trách nhiệm .
3/ Anh Bùi Thế C, chị Vũ Thị Thúy N và các cháu Bùi Thế V – sinh
năm 2013 và cháu Bùi Thế Khánh H – sinh ngày 06/9/2018 do anh Bùi Thế
C là người đại diện hợp pháp trình bày: Anh, chị là con trai và con dâu của
ông Bùi Thế H. Hiện vợ chồng anh , chị và các con của anh chị đang sống chung
với ông Hùng tại địa chỉ:78 -tổ 8, phường Cự Khối, quận Long Biên, Hà Nội.
Việc ông Hùng thế chấp mảnh đất tại số nhà 78 Tổ 8 phường Cự Khối, quận
Long Biên, thành phố Hà Nội, vợ chồng anh, chị không hề biết gì, vì đây là tài
sản riêng của ông Hùng. Quá trình chung sống với ông Hùng, vợ chồng anh, chị
không có đóng góp gì vào việc sửa chữa xây dựng nhà.
Nay Ngân hàng khởi kiện vợ chồng anh, chị đề nghị Tòa án giải quyết theo quy
định pháp luật và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho gia đình anh chị.
Vì lý do công việc nên anh, chị xin vắng mặt tất cả các buổi làm việc cũng
như phiên Tòa sơ thẩm.
4/ Ông Trần Việt N và bà Trương Thị P và do chị Trần Thị L đại diện
theo ủy quyền; 5/Anh Trần Việt H, chị Ngô Thị An H và các cháu Trần Ngọc
A – sinh năm 2004 và cháu Trần Việt P – sinh năm 2006 do anh Trần Việt H
(bố đẻ) ; Anh Trần Việt P ; chị Nguyễn Thị H và các cháu Trần Huyền T –
sinh năm 2007 và cháu Trần Hải A – sinh năm 2009 do anh Trần Việt P (bố
đẻ) là người đại diện hợp pháp do chị: Trần Thị L đại diện theo ủy quyền
trình bày: Nhà đất tại địa chỉ xã Ngủ Hiệp, huyện Thanh Trì, Hà Nội có nguồn
gốc là của tổ tiên để lại cho ông Nam, bà Pha. Năm 2013, ông Nam, bà Pha đã
tách chia một phần diện tích nhà đất chung với ông Nam, bà Pha cho anh Hà là
con trai cả và làm thủ tục sang tên trong giấy chứng nhận cho anh Hà. Việc bà
Lan đứng tên trong giấy chứng nhận nhà đất đứng tên anh Trần Việt H là do quan
hệ giữa anh Hà với bà Lan, nhà đất này đã thế chấp cho Ngân hàng để đảm bảo
cho khoản vay của công ty, hiện sổ đỏ này đang đứng tên bà Lan. Cụ thể bà Lan
vay được bao nhiêu tiền từ việc thế chấp sổ đỏ này thì ông bà không biết.
Từ khi thế chấp cho Ngân hàng đến nay, hiện trạng nhà đất không có gì
thay đổi, ông Nam, bà Pha chỉ bỏ tiền ra sửa chữa xây thêm bếp, công trình phụ
ở tầng 2, ban công tầng 2 và sửa lại cửa hàng ở trước nhà để cho chị Liên thuê
bán đồ điện nước. Việc cho thuê ông Nam, bà Pha có làm hợp đồng thuê 1 năm
1 lần, giá thuê mỗi tháng là 3.000.000 đồng.
Nay Ngân hàng khởi kiện, ông, bà và các anh, chị đề nghị Tòa án giải quyết
gia đình được giữ lại tài sản này vì hiện tại cả gia đình đang ăn ở tại đây.
5/ Chị Lưu Thị Bích L trình bày: Chị là người thuê một phần diện tích nhà
của ông Trần Việt N và bà Trương Thị P tại địa chỉ: Tự Khoát, Ngũ Hiệp, huyện
Thanh Trì, thành phố Hà Nội để kinh doanh bán đồ điện nước, từ tháng 3 năm
2018 theo hợp đồng với giá thuê là 3.000.000 đồng/tháng, thời hạn thuê là 1
năm/1 lần. Hiện tại chị vẫn đang kinh doanh tại địa chỉ trên. Chị đề nghị Tòa án
giải quyết theo quy định của pháp luật.
6/ Ông Phí Hồng S, bà Nguyễn Thị Hồng N; chị Phí Thùy L do ông Phí
Hồng S làm đại diện theo ủy quyền;và cháu Phí Minh Q – sinh năm 2006 do
ông Phí Hồng S (bố đẻ) là đại diện hợp pháp trình bày:
Trong quá trình làm ăn, do cần vay tiền nên ông Phí Hồng S đã vay của vợ chồng bà
Hương (ông không nhớ rõ đầy đủ họ tên) số tiền 10.000.000.000 đồng. Sau đó, do
làm ăn thua lỗ nên vợ chồng ông Sơn đã sang tên toàn bộ giấy chứng nhận nhà đất
trên cho bà Hương để trả nợ, vợ chồng bà Hương chỉ bảo ông Sơn thu xếp trả
2.000.000.000 đồng, còn số tiền 8.000.000.000 đồng còn lại thì vợ chồng bà Hương
cho ông Sơn, đồng thời sẽ sang tên lại sổ đỏ để lấy nhà cho gia đình ông Sơn sinh
sống.
Thông qua quan hệ quen biết xã hội, ông Sơn biết bà Hà và hỏi vay bà Hà
số tiền 2.000.000.000 đồng để trả nợ cho bà Hương. Bà Hà có yêu cầu ông Sơn
làm thủ tục sang tên cho mình thì mới cho vay nên ông Sơn đã đồng ý và bảo bà
Hương làm thủ tục sang tên lại cho bà Hà và nhận được số tiền 2.000.000.000
đồng. Số tiền này ông Sơn đã dùng để trả nợ cho bà Hương.
Ông Sơn xác nhận ông không biết về việc bà Đỗ Thu H thế chấp tài sản nhà
đất này để đảm bảo cho khoản vay của Công ty cổ phần đầu tư kinh doanh thương
mại Quốc tế B. Sau này nhận được thông báo của Ngân hàng Vietcombank thì ông
mới nắm được thông tin bà Hà đã thế chấp tài sản nhà đất trên cho Ngân hàng vào
thời điểm 19/6/2015. Kể từ thời điểm bà Hà thế chấp nhà đất trên cho Ngân hàng
đến nay, nhà đất vẫn được giữ nguyên hiện trạng.
Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, ông đề nghị Tòa án giải quyết
theo pháp luật và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho gia đình ông. Đối với yêu
cầu phát mại tài sản của Ngân hàng thì ông đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện ưu
tiên cho ông được mua lại tài sản, vì vợ chồng ông chỉ có duy nhất chỗ này để ở.
Tại bản án kinh doanh thương mại số 15/2019/KDTM-ST ngày 31/7/2019
của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội đã xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần A đối với
Công ty cổ phần đầu tư kinh doanh thương mại quốc tế B
2. Buộc Công ty cổ phần đầu tư kinh doanh thương mại quốc tế B phải thanh
toán cho Ngân hàng theo hợp đồng cấp tín dụng hạn mức số
02/2015/HĐTD/VCB.HGM-BINHMINH ngày 31/7/2017 và các giấy nhận nợ từ
số 21 đến giấy nhận nợ số 30,cụ thể như sau:
- Nợ gốc: 21.255.914.374đồng;
- Nợ lãi trong hạn: 7.200.204.381đồng;
- Nợ lãi quá hạn: 2.018.905.702 đồng;
- Tổng nợ lãi: 9.219.110.083 đồng;
- Tổng cả gốc và lãi: 30.475.024.457 đồng (Ba mươi tỷ, bốn trăm bảy
mươi năm triệu, không trăm hai mươi tư nghìn, bốn trăm năm mươi bảyđồng),
Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử, Công ty cổ phần đầu tư kinh doanh thương mại
quốc tế B còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa
thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng hạn
mức số 02/2015/HĐTD/VCB.HGM-BINHMINH ngày 31/7/2017 cho đến khi
thanh toán xong khoản nợ gốc.
3. Trường hợp Công ty đầu tư kinh doanh thương mại quốc tế B không
thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng có
quyền đề nghị cơ quan thi hành án dân sự kê biên, phát mại tài sản đảm bảo sau
đây để thu hồi nợ:
+ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: BU 734435ngày 30 tháng
01 năm 2015 do UBND huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, cấp cho bà Hoàng
Quế L; tại địa chỉ:Xã Ngũ Hiệp, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Hợp đồng
thế chấp quyền sử dụng đất để đảm bảo nghĩa vụ của bên thứ ba số:
07/2015/HĐTC/VCB. HGM-BINHMINH, số sổ công chứng 1590.15 ngày
18/3/2015 của Văn phòng công chứng số 1 – thành phố Hà Nội;
+ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: BI 174498 ngày
09/12/2011, Số vào sổ cấp GCN: 738 do UBND Quận Long Biên, thành phố Hà
Nội cấp cho ông Bùi Thế H; tại địa chỉ: Thổ Khối, phường Cự Khối, quận Long
Biên, thành phố Hà Nội. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để đảm bảo nghĩa vụ
của bên thứ ba số: 10/2015/HĐTC/VCB. HGM-BINHMINH, số sổ công chứng
2704.2015 ngày 27/04/2015của Văn phòng công chứng số 4 – thành phố Hà Nội;
+ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: CA231572, số vào sổ cấp
GCN: CS13779 do Sở tài nguyên và môi trường thành phố Hà Nội cấp ngày
16/06/2015 cho bà Đỗ Thu H; tại địa chỉ: E5 khu 22 ngõ Kiến Thiết, phường Thổ
Quan, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Theo Hợp đồng thế chấp số công chứng
3985.15 ngày 19/06/2015 của Văn phòng công chứng số 1 thành phố Hà Nội;
+ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số:BD 662681ngày
23/11/2010, số vào sổ cấp GCN: CH00223 do Uỷ ban nhân dân quận Thanh
Xuân cấp cho Bà Nguyễn Thị Mai Anh, đã sang tên cho bà Đỗ Thu H ngày
24/07/2015 theo hợp đồng số 0898.2015/HĐCN ngày 22/07/2015 lập tại phòng
công chứng Vượng Phát, TP Hà Nội; tại địa chỉ:Tổ 23, cụm 6, phường Hạ Đình,
quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
đểđảm bảo nghĩa vụ của bên thứ ba số công chứng 5209.15 ngày
29/07/2015củaVăn phòng công chứng số 1 – thành phố Hà Nội.
Số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp nêu trên sẽ được thanh toán
toàn bộ khoản nợ trong hợp đồng tín dụng nêu trên, nếu dư, Ngân hàng sẽ trả lại
cho bên thế chấp, nếu thiếu thì bên vay tiền tiếp tục trả cho Ngân hàng số tiền còn
thiếu.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của đương sự.
Không đồng ý với bản án sơ thẩm, ngày 12/9/2019 ông Bùi Thế H có đơn
kháng cáo, không đồng ý với bản án sơ thẩm về việc xử lý tài thế chấp là quyền
sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số BI174498 do Ủy ban nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội cấp
ngày 9/12/2011 mang tên ông và đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải
quyết theo quy định của pháp luật, để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho gia đình
ông.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn: Vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, người có quyền lợi nghĩa
vụ liên quan ông Bùi Thế H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự xác
nhận ngoài các tài liệu chứng cứ đã xuất trình cho Tòa án thì không còn chứng cứ
nào khác để nộp cho Tòa án và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp
luật.
Luật sư bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho ông Bùi Thế H sau khi tóm tắt
nội dung vụ án và phân tích vụ án có quan điểm: Về nguồn gốc tài sản thế chấp
tại thửa số 5-4, tờ bản đồ số 13, địa chỉ Thổ Khối, phường Cự Khối, quận Long
Biên, Hà Nội là của ông Bùi Thế H được tặng cho, tuy nhiên sau khi được tặng
cho ông Hùng đã tự nguyện nhập khối tài sản này vào tài sản chung của vợ
chồng, vợ chồng ông Hùng và các con đã xây dựng các công trình trên đất. Do
vậy Tài sản này là tài sản chung của vợ chồng ông Hùng, bà Sửu. Tòa án cấp sơ
thẩm không đưa bà Sửu và các con ông Hùng vào tham gia tố tụng là vi phạm
nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 211 Bộ luật
dân sự năm 2015; Điều 68,310,400,214 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 14 luật Hôn
nhân gia đình. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Hùng; Tuyên bố Hợp đồng
thế chấp số 10/2015/HĐTC/VCB.HGM-BM ngày 27/4/2015 vô hiệu; Hủy một
phần bản án sơ thẩm liên quan đến tài sản thế chấp của ông Bùi Thế H.
Luật sư bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho Ngân hàng thương mại A sau
khi tóm tắt nội dung vụ án và phân tích vụ án có quan điểm: Tại thời điểm ký kết
hợp đồng thế chấp ông Bùi Thế H đã có cam kết tài sản tại Thổ Khối, Cự Khối,
quận Long Biên, Hà Nội là tài sản riêng của ông Hùng, theo giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất thì tài sản thế
chấp có nguồn gốc ông Hùng được tặng cho riêng. Quá trình giải quyết vụ án ông
Hùng không xuất trình được chứng cứ chứng minh đây là tài sản chung của ông
Hùng và bà Sửu. Hợp đồng thế chấp được các bên ký kết trên cơ sở tự nguyện, về
hình thức và nội dung phù hợp với quy định của pháp luật, tài sản thế chấp đã
được đăng ký giao dịch đảm bảo theo quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án
không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Hùng, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tại phiên tòa phúc thẩm
trình bày quan điểm:
+ Về tố tụng: Thẩm phán, thư ký đã chấp hành đúng các quy định của Bộ
luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử đã tiến hành
xét xử vụ án theo trình tự luật định, các đương sự đã thực hiện đầy đủ các quyền,
nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Về nội dung: Sau khi tóm tắt nội dung vụ án và phân tích nội dung vụ
án. Vị đại diện Viện kiểm sát có quan điểm : Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị đơn
phải thanh toán nợ gốc, lãi cho Nguyên đơn, cụ thể Nợ gốc:
21.255.914.374đồng; Nợ lãi trong hạn: 7.200.204.381đồng; Nợ lãi quá hạn:
2.018.905.702 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật; Về tài sản thế chấp
các hợp đồng thế chấp được các bên ký kết trên cơ sở tự nguyện, về hình thức
và nội dung phù hợp với quy định của pháp luật, nên phát sinh nghĩa vụ đối với
các bên. Do đó không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Hùng.
Căn cứ khoản 1 Điều 308 giữ nguyên bản án sơ thẩm; Về án phí các đương sự
phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả hỏi và
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1].Về tố tụng: Đơn kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
là ông Bùi Thế H làm trong thời hạn luật định.Sau khi kháng cáo ông Bùi Thế H
đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm, nên việc kháng cáo là hợp lệ.Tòa án nhân dân
Thành phố Hà Nội giải quyết là đúng thẩm quyền.
1.1. Về người tham gia tố tụng: xét yêu cầu kháng cáo của ông Hùng cho
rằng tòa án cấp sơ thẩm không đưa bà Nguyễn Thị Sửu và các con ông là Bùi Thế
Mạnh, Bùi Thế Khiêm vào tham gia tố tụng là vi phạm thủ tục tố tụng. Xét thấy,
quá trình giải quyết vụ án ông Hùng xác nhận ông và bà Sửu đã sống ly thân từ
năm 2015 cho đến nay, hiện bà Sửu đã đi ở nơi khác và cũng đã chuyển hộ khẩu
đi, mặt khác các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện diện tích đất tại Thổ Khối,
phường Cự Khối, Long Biên, Hà Nội đứng tên ông Hùng, được nhận từ việc tặng
cho. Quá trình giải quyết tòa án cấp sơ thẩm anh Cường và chị Nga là con trai và
con dâu của ông Hùng, anh chị đã có bản tự khai với nội dung: “… Việc bố tôi
thế chấp tài sản cho Ngân hàng chúng tôi không biết gì vì đây là tài sản riêng của
bố tôi…….Quá trình ở cùng bố tôi chúng tôi không có công sức đóng góp gì…” (
BL 511,512). Theo biên bản xác minh ngày 29/10/2018 tại Công an phường Cự
Khối, quận Long Biên, Hà Nội thể hiện: Tại địa chỉ tổ 8 Cự Khối, Phường Cự
Khối, quận Long Biên, Hà Nội có ông Bùi Thế H anh Bùi Thế C, chị Vũ Thị
Thúy N, cháu Bùi Thế V có đăng ký hộ khẩu và thường trú, ngoài ra không còn
ai khác có hộ khẩu thường trú và sinh sống tại đây. Mặt khác, tại cấp sơ thẩm
ông Hùng không có yêu cầu độc lập đề nghị xem xét đối với hợp đồng thế chấp
số 10/2015/HĐTC/VCB-HGM-BM ngày 27/4/2015. Do vậy, Tòa án không đưa
bà Sửu, anh Mạnh, chị Khiêm vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền
lợi nghĩa vụ liên quan là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra
xét xử và quyết định hoãn phiên tòa cho các đương sự trong vụ án nhưng tại phiên
tòa hôm nay Công ty cổ phần đầu tư kinh doanh thương mại quốc tế B do Bà Ngô
Thị T đại diện theo pháp luật; Bà Hoàng Quế L, Bà Đỗ Thu H, Bà Trương Thị P,
Ông Trần Việt N. bà Pha, ông Nam do bà Trần Thị L đại diện theo ủy quyền; Anh
Trần Việt H, Cháu Trần Ngọc A , Cháu Trần Việt P . Cháu Ngọc Anh và cháu
Phong do anh Trần Việt H là người đại diện hợp pháp; Anh Trần Việt P, Chị
Nguyễn Thị H do bà Trần Thị L đại diện theo ủy quyền; Cháu Trần Huyền
T,Cháu Trần Hải A. Cháu Hải, cháu Hải Ánh do anh Trần Việt P đại diện theo
pháp luật; Chị Lưu Thị Bích L, Anh Bùi Thế C, Chị Vũ Thị Thúy N, Cháu Bùi
Thế V,Cháu Bùi Thế Khánh H. Cháu Vinh, cháu Hưng do anh Cường là người đại
diện theo pháp luật; Ông Phí Hồng S, Bà Nguyễn Thị Hồng N, Chị Phí Thùy L.
chị Ngọc, chị Linh do anh Sơn đại diện theo ủy quyền, Cháu Phí Minh Q, cháu
Quân do anh Sơn đại diện theo pháp luật đều vắng mặt không có lý do. Căn cứ
khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án tiến hành xét xử vắng
mặt các đương sự trên.
[2].Về nội dung:
Hội đồng xét xử xét thấy: Hợp đồng tín dụng hạn mức số
02/2015/HĐTD/VCB.HGM-BINHMINH ngày 31/7/2015 ký kết giữa Ngân
hàng thương mại cổ phần A và Công ty cổ phần Đầu tư kinh doanh thương mại
quốc tế B được các bên ký kết trên cơ sở tự nguyện, về hình thức và nội dung phù
hợp với quy định của pháp luật, nên phát sinh hiệu lực đối với các bên.
Quá trình giải quyết Công ty B xác nhận cho đến nay Công ty B còn nợ
Ngân hàngVietcom bank số tiền nợ gốc là:21.255.914.374 đồng. Tòa án cấp sơ
thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Vietcom bank buộc Công ty
B phải thanh toán trả nợ gốc, lãi cho Ngân hàng Vietcom bank tổng số tiền là:
30.475.024.457 đồng. Trong đó nợ gốc: 21.255.914.374 đồng; Nợ lãi trong hạn:
7.200.204.381đồng; Nợ lãi quá hạn: 2.018.905.702 đồng là có căn cứ và phù hợp
với quy định của pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm các đương sự không kháng
cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị về vấn đề này, nên hội đồng xét xử không
xem xét.
* Tài sản đảm bảo cho khoản vay gồm:
+ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa 105(1), tờ bản đồ số
26, địa chỉ : Xã Ngũ Hiệp, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, theo Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số:
BU 734435 do UBND huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội,cấp ngày 30 tháng 01
năm 2015 mang tên bà Hoàng Quế L. Theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
đểđảm bảo nghĩa vụ của bên thứ ba số: 07/2015/HĐTC/VCB. HGM-BINHMINH, số
sổ công chứng1590.15 ngày 18/3/2015 của Văn phòng công chứng số 1 – thành phố
Hà Nội.
+ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 5-4, tờ bản đồ số
13, địa chỉ Thổ Khối, phường Cự Khối, quận Long Biên, Hà Nội. Theo giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất số: BI 174498, Số vào sổ cấp GCN: 738 do UBND Quận Long Biên, thành
phố Hà Nội cấp ngày 09/12/2011 mang tên ông Bùi Thế H. Theo Hợp đồng thế
chấp quyền sử dụng đất để đảm bảo nghĩa vụ của bên thứ ba số:
10/2015/HĐTC/VCB. HGM-BINHMINH, số sổ công chứng2704.2015 ngày
27/04/2015củaVăn phòng công chứng số 4 – thành phố Hà Nội.
+ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ: E5 khu 22 ngõ
Kiến Thiết, phường Thổ Quan, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội, theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất số CA231572, số vào sổ cấp GCN: CS13779 do Sở tài nguyên và môi trường
thành phố Hà Nội cấp ngày 16/06/2015 mang tên bà Đỗ Thu H. Theo Hợp đồng
thế chấp số công chứng 3985.15 ngày 19/06/2015 của Văn phòng công chứng số
1 thành phố Hà Nội.
+ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 19, tờ bản đồ
số 00, địa chỉ:Tổ 23, cụm 6, phường Hạ Đình, quận Thanh Xuân, thành phố Hà
Nội, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất số:BD 662681, số vào sổ cấp GCN: CH00223 do Uỷ ban
nhân dân quận Thanh Xuân cấp ngày 23/11/2010 mang tên Bà Nguyễn Thị Mai
Anh, đã sang tên cho bà Đỗ Thu H ngày 24/07/2015 theo hợp đồng số
0898.2015/HĐCN ngày 22/07/2015 lập tại phòng công chứng Vượng Phát,
Thành phố Hà Nội. Theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để đảm bảo nghĩa
vụ của bên thứ ba số công chứng 5209.15 ngày 29/07/2015củaVăn phòng công
chứng số 1 – thành phố Hà Nội.
+ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ: thửa đất số 5(2), tờ
bản đồ số 30, Tổ 13, phường Ngọc Thụy, quận Long Biên, thành phố Hà Nội (nay là
số 45 ngách 264/63 đường Ngọc Thụy), theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và
quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất số BN 700544 do Uỷ ban nhân dân quận Long
Biên, thành phố Hà Nội cấp ngày 22 tháng 03 năm 2013 mang tên bà Nguyễn Thị
V. Theo Hợp đồng thế chấp số công chứng 1710.15 ngày 24/03/2015.
+ Sổ tiết kiệm của bà Đỗ Thu H số sổ 01849001 ngày 26/03/2015 tại
Vietcombank,trị giá: 10.000 EUR, kỳ hạn 03 tháng, theo Hợp đồng cầm cố
09/2015/HĐCC/VCB.HGM-BINHMINH ngày 27/03/2015; trị giá tài sản:
235.564.400 đồng.
Ngày 10/03/2016, Ngân hàng đã xử lý sổ tiết kiệm số 01849001 của Bà Đỗ
Thu H để thu nợ gốc số tiền là 244.084.937 đồng và ngày 04/7/2017 Ngân hàng
đã xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất số BN
700544 do Uỷ ban nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội cấp ngày 22 tháng
03 năm 2013 mang tên bà Nguyễn Thị V tại địa chỉ: thửa đất số 5(2), tờ bản đồ số
30, Tổ 13, phường Ngọc Thụy, quận Long Biên, thành phố Hà Nội (nay là số 45
ngách 264/63 đường Ngọc Thụy); theo Hợp đồng thế chấp số công chứng 1710.15
ngày 24/03/2015 để thu nợ gốc số tiền 3.300.000.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ
án các đương sự không yêu cầu tòa án giải quyết đối với hai tài sản này, nên hội
đồng xét xử không xem xét.
Xét yêu cầu kháng cáo của ông Bùi Thế H cho rằng khi ký Hợp đồng thế
chấp ông không đọc nội dung của hợp đồng, việc ông ký hợp đồng thế chấp trên
là để đảm bảo cho khoản vay của ông tại công ty B, chứ ông không thế chấp tài
sản để đảm bảo cho khoản vay của Công ty B tại Ngân hàng. Hội đồng xét xử
xét thấy quá trình giải quyết và tại phiên tòa hôm này ông Bùi Thế H xác nhận
chữ viết và chữ ký trong hợp đồng thế chấp số 10/2015/HĐTC/VCB.HGM-
BINHMINH vào sổ công chứng số 2704.2015 ngày 27/04/2015củaVăn phòng
công chứng số 4 – thành phố Hà Nội là của ông và việc ông ký hợp đồng thế chấp
là hoàn toàn tự nguyện không bị ai ép buộc. Hơn nữa, tại phần ký tên của hợp
đồng thế chấp thể hiện ông Hùng ghi “ tôi đã đọc và đồng ý” và ký tên Bùi Thế
H, tài sản thế chấp đã được đăng ký giao dịch đảm bảo theo quy định của pháp
luật. Do vậy, không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Hùng.
Ngoài ra ông Hùng và Luật sư của ông Hùng còn cho rằng toàn bộ diện
tích nhà đất tại Thổ Khối ( nay là số nhà 78 tổ 8 Cự Khối) phường Cự Khối,
quận Long Biên, thành phố Hà Nội là tài sản chung của cả gia đình ông Hùng,
khi thế chấp vợ con ông không ký vào hợp đồng thế chấp, đề nghị Tòa án tuyên
bố hợp đồng thế chấp số 10/2015/HĐTC/VCB.HGM-BM ngày 27/4/2015 vô
hiệu. Xét thấy, quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm ông Bùi Thế H không có yêu
cầu độc lập đối với yêu cầu này. Sau khi xét xử sơ thẩm ông Hùng có đơn kháng
cáo mới có yêu cầu đề nghị Tòa án xem xét tuyên bố hợp đồng thế chấp số
10/2015/ HĐTC/VCB.HGM-BM ngày 27/4/2015 vô hiệu. Căn cứ Điều 293 Bộ
luật tố tụng năm 2015, thì yêu cầu kháng cáo này của ông Hùng vượt quá phạm
vi giải quyết của cấp phúc thẩm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Xét thấy, các Hợp đồng thế chấp đều được các bên ký kết trên cơ sở tự
nguyện, về hình thức và nội dung phù hợp với quy định của pháp luật. Các Hợp
đồng thế chấp đều được công chứng, chứng thực và các tài sản thế chấp đều đã
được đăng ký giao dịch đảm bảo theo quy định của pháp luật, nên Hợp đồng thế
chấp phát sinh hiệu lực đối với các bên.
Tuy nhiên bản án sơ thẩm tuyên Trường hợp Công ty đầu tư kinh doanh
thương mại quốc tế B không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ
không đầy đủ thì Ngân hàng có quyền đề nghị cơ quan thi hành án dân sự kê
biên, phát mại tài sản đảm bảo sau đây để thu hồi nợ:
“………………………….
Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: BI 174498 ngày
09/12/2011, Số vào sổ cấp GCN: 738 do UBND Quận Long Biên, thành phố Hà
Nội cấp cho ông Bùi Thế H; tại địa chỉ: Thổ Khối, phường Cự Khối, quận Long
Biên, thành phố Hà Nội. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất đểđảm bảo nghĩa vụ
của bên thứ ba số: 10/2015/HĐTC/VCB. HGM-BINHMINH, số sổ công chứng
2704.2015 ngày 27/04/2015củaVăn phòng công chứng số 4 – thành phố Hà
Nội……….” là chưa chính xác, vì theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BI
174498 ngày 09/12/2011do Uỷ ban nhân dân Quận Long Biên, thành phố Hà Nội
cấp mang tên Ông Bùi Thế H thể hiện Thửa đất 5-4, tờ bản đố số 13 taị Thổ
Khối, phường Cự Khối, quận Long Biên, Hà Nội có diện tích 382,60m2; Hình
thức sử dụng riêng là: 220m2, sử dụng chung là: 162,60m2 ( theo Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất thể hiện là lối đi chung). Vì vậy, Ngân hàng chỉ có quyền
yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý đối với diện tích sử dụng riêng của ông Hùng
tại thửa 5-4 có diện tích sử dụng riêng là: 220m2 để thu hồi nợ.
Đề nghị của Luật sư bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho ông Hùng không
phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, nên không được chấp nhận.
Đề nghị của luật sư bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho Ngân hàng thương
mại cổ phần A và đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tại phiên tòa
sơ thẩm phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ, nên được chấp nhận.
Từ những phân tích trên, không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo
của ông Bùi Thế H và sửa án sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành
phố Hà Nội.
Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo của ông Bùi Thế H không được chấp
nhận nên ông Hùng phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QuyÕt ®Þnh:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 30, 220, 227,228 , 293 và khoản 2 Điều 308; Điều
309; Điều 314 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 302,305,342,344,351,471,476,478,715,721 Bộ luật dân sự
năm 2005.
Áp dụng Điều 91 và Điều 98 Luật tổ chức tín dụng.
Căn cứ Nghị Quyết số 326/ NQ – QH ngày 30/12/2016, quy định về mức
thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí.
Sửa bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 15/2019/KDTM-ST ngày
31/7/2019 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần A đối
với Công ty cổ phần đầu tư kinh doanh thương mại quốc tế B.
2. Buộc Công ty cổ phần đầu tư kinh doanh thương mại quốc tế B phải
thanh toán trả nợ gốc, nợ lãi cho Ngân hàng theo hợp đồng cấp tín dụng hạn mức
số 02/2015/HĐTD/VCB.HGM-BINHMINH ngày 31/7/2015 và các giấy nhận nợ
từ số 21 đến giấy nhận nợ số 30, tạm tính đến ngày 31/7/2019là: : 30.475.024.457
đồng(Ba mươi tỷ, bốn trăm bảy mươi năm triệu, không trăm hai mươi tư nghìn,
bốn trăm năm mươi bảyđồng). Trong đó:
- Nợ gốc là : 21.255.914.374đồng;
- Nợ lãi trong hạn là: 7.200.204.381đồng;
- Nợ lãi quá hạn là: 2.018.905.702 đồng;
Kể từ ngày 01/8/2019, Công ty cổ phần đầu tư kinh doanh thương mại
quốc tế B còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa
thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng hạn
mức số 02/2015/HĐTD/VCB.HGM-BINHMINH ngày 31/7/2015 cho đến khi
thanh toán xong khoản nợ gốc.
3. Trường hợp Công ty đầu tư kinh doanh thương mại quốc tế B không
thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng có
quyền đề nghị cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản đảm bảo sau đây để thu
hồi nợ:
+ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa 105(1), tờ bản đồ số
26, địa chỉ : Xã Ngũ Hiệp, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, theo Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số:
BU 734435 do UBND huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội,cấp ngày 30 tháng 01
năm 2015 mang tên bà Hoàng Quế L. Theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
để đảm bảo nghĩa vụ của bên thứ ba số: 07/2015/HĐTC/VCB. HGM-BINHMINH,
số sổ công chứng1590.15 ngày 18/3/2015 của Văn phòng công chứng số 1 – thành
phố Hà Nội.
+ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất có diện tích sử dụng riêng là
220m2 tại thửa số 5-4, tờ bản đồ số 13, địa chỉ Thổ Khối, phường Cự Khối, quận
Long Biên, Hà Nội. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: BI 174498, Số vào sổ cấp GCN số: 738
do UBND Quận Long Biên, thành phố Hà Nội cấp ngày 09/12/2011 mang tên
ông Bùi Thế H. Theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để đảm bảo nghĩa vụ
của bên thứ ba số: 10/2015/HĐTC/VCB. HGM-BINHMINH, số sổ công chứng
2704.2015 ngày 27/04/2015 củaVăn phòng công chứng số 4 – thành phố Hà Nội.
+ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ: E5 khu 22 ngõ
Kiến Thiết, phường Thổ Quan, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội, theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất số CA231572, số vào sổ cấp GCN: CS13779 do Sở tài nguyên và môi trường
thành phố Hà Nội cấp ngày 16/06/2015 cho bà Đỗ Thu H. Theo Hợp đồng thế
chấp số công chứng 3985.15 ngày 19/06/2015 của Văn phòng công chứng số 1
thành phố Hà Nội.
+ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 19, tờ bản đồ
số 00, địa chỉ:Tổ 23, cụm 6, phường Hạ Đình, quận Thanh Xuân, thành phố Hà
Nội, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất số:BD 662681, số vào sổ cấp GCN: CH00223 do Uỷ ban
nhân dân quận Thanh Xuân cấp ngày 23/11/2010 mang tên Bà Nguyễn Thị Mai
Anh, đã sang tên cho bà Đỗ Thu H ngày 24/07/2015 theo hợp đồng thế chấp số
0898.2015/HĐCN ngày 22/07/2015 lập tại phòng công chứng Vượng Phát,
Thành phố Hà Nội. Theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để đảm bảo nghĩa
vụ của bên thứ ba số công chứng 5209.15 ngày 29/07/2015củaVăn phòng công
chứng số 1 – thành phố Hà Nội.
Số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp nêu trên sẽ được thanh toán
toàn bộ khoản nợ trong hợp đồng tín dụng nêu trên, nếu dư, Ngân hàng sẽ trả lại
cho bên thế chấp, nếu thiếu thì Công ty cổ phần đầu tư kinh doanh thương mại
quốc tế B phải trả cho Ngân hàng số tiền còn thiếu.
4. Trường hợp phải xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ thì các tổ chức, cá
nhân đang kinh doanh, sinh sống, sinh hoạt dưới mọi hình thức trên các tài sản
thế chấp có nghĩa vụ chuyển đi nơi khác để thi hành án.
5. Về án phí:
+ Án phí sơ thẩm: Công ty cổ phần đầu tư kinh doanh thương mại quốc tế
Bphải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 138.475.024 đồng (Một
trăm ba mươi tám triệu, bốn trăm bảy mươi năm nghìn, không trăm hai mươi bốn
nghìn đồng). Hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần A số tiền tạm ứng án
phí đã nộp là 68.670.000đồng (Sáu mươi tám triệu,sáu trăm bảy mươi nghìn
đồng) theo biên lai số 0008537ngày 09/7/2018 của Chi cục thi hành án dân sự
quận Ba Đình,thành phố Hà Nội.
+ Án phí phúc thẩm : Ông Bùi Thế H phải chịu 2.000.000 đồng tiến án phí
kinh doanh thương mại phúc thẩm, được trừ vào 2.000.000 đồng tiền tạm ứng án
phí ông đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 005803 ngày 16/9/2019
của Chi cục thi hành án quận Ba Đình, Hà Nội.
Trường hợp bản án quyết định của Tòa án được thi hành theo quy định tại
Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi
hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự

nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,
Điều 7, Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện
theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5- Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
CÁC THẨM PHÁN
Nguyễn Thị Hồng Hạnh Nguyễn Thị Thúy Hạnh
ThÈm ph¸n - chñ to¹ phiªn toµ
Ngô Tuyết Băng
Nơi nhận:
- VKSND TP Hà Nội;
- Chi cục THADS Q.Ba Đình;
- TAND Q.Ba Đình
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
Ngô Tuyết Băng
Sau khi ký các hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp, Ngân hàng Vietcombank
đã giải ngân cho Công ty B19 lần với tổng số tiền là 50.000.000.000đồng (Năm
mươi tỷ đồng), thể hiện qua 19 giấy nhận nợ ( từ Giấy nhận nợ số 12 đến Giấy nhận
sợ số 30). Quá trình thực hiện hợp đồng Công ty B đã thanh toán trả nợ cho Ngân
hàngVietcombank số tiền nợ gốc là 25.000.000.000 đồng, tiền nợ lãi là 873.882.312
đồng. Đồng thời Ngân hàngVietcombank đã xử lý các tài sản đảm bảo là sổ tiết kiệm
số 01849001 ngày 26/03/2015 mang tên bà Đỗ Thu H và Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: BN 700544 ngày 22 tháng 03 năm 2013 của Uỷ
ban nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội cấp cho Bà Nguyễn Thị V tại địa chỉ:
thửa đất số 5(2), tờ bản đồ số 30, Tổ 13, phường Ngọc Thụy, quận Long Biên, thành
phố Hà Nội (nay là số 45 ngách 264/63 đường Ngọc Thụy); theo Hợp đồng thế chấp số
công chứng 1710.15 ngày 24/03/2015 để thu nợ gốc số tiền 3.300.000.000 đồng
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 21/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 19/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 30/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 29/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 29/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 28/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 28/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 26/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 24/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 23/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 23/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 22/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 22/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 17/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 17/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 16/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 15/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 15/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 08/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 08/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm