Bản án số 80/2026/HS-ST ngày 14/07/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 80/2026/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 80/2026/HS-ST ngày 14/07/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 7 - Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị
Số hiệu: 80/2026/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 14/07/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Vận chuyển trái phép vật liệu nổ
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 80/2026/HS-ST Bản án số 80/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 80/2026/HS-ST Bản án số 80/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7
TỈNH QUẢNG TRỊ
Bản án số: 80/2026/HS-ST
Ngày 14-7-2026
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Mạnh Lưu
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Uyên Như
Ông Lê Văn Vũ
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Xuân Hồng – Thư ký Toà án nhân dân khu
vực 7, tỉnh Quảng Trị.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên
toà: Ông Lê Chí Sỹ - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 7 năm 2026, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực
7, tỉnh Quảng Trị, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:
67/2026/TLST-HS ngày 08/6/2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
76/2026/QĐXXST-HS ngày 01/7/2026, đối với các bị cáo:
1. Chan T, sinh ngày 06/3/2000 tại Lào; Nơi thường trú: Làng K, bản P,
huyện S, tỉnh Sạ Vẳn Nạ Khệt, Lào; Nghề nghiệp: Làm rẩy; Trình độ học vấn: lớp
02/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Lào; Dân tộc: Lào T; Tôn giáo: Không; Con
ông A G và bà Sa P1; Có vợ là Khut Xa Đi; có 03 người con, con lớn sinh năm
2011, con nhỏ sinh năm 2014; Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất;
Tiền án tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/10/2025, tạm giam từ ngày 02/11/2025 đến nay
tại Trại tạm giam số 02, Công an tỉnh Q; Có mặt.
2. T, sinh ngày 15/9/2003 tại Lào; Nơi thường trú: Làng K, bản P, huyện S,
tỉnh Sạ Vẳn Nạ Khệt, Lào; Nghề nghiệp: Làm rẩy; Trình độ học vấn: lớp 04/12;
Giới tính: Nam; Quốc tịch: Lào; Dân tộc: Lào T; Tôn giáo: Không; Con ông Thạ
V và bà S; V1 là L; có 01 người con sinh năm 2024; Gia đình có 05 anh chị em,
bị cáo là con thứ nhất;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/10/2025, tạm giam từ ngày 02/11/2025 đến nay
tại Trại tạm giam số 02, Công an tỉnh Q; Có mặt.
- Người phiên dịch tiếng Lào: Ông Hải H; Địa chỉ: Thôn B, xã K, tỉnh Quảng
2
Trị; Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 00 phút, ngày 24/10/2025 Đ Biên phòng Hướng Phùng đang
tuần tra, kiểm soát thì phát hiện Chan T và T đang điều khiển xe mô tô (xe không
gắn biển kiểm soát), trên mỗi xe chở theo 01 bao gai màu cam, có biểu hiện nghi
vấn nên Tổ công tác yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện bên
trong bao gai màu cam trên xe mô tô của Chan T chứa 40,7 kg chất rắn dạng cục
(nghi là thuốc nổ), bên trong bao gai màu cam trên xe mô tô của T chứa 40 kg
chất rắn dạng cục (nghi là thuốc nổ). Chan T và T khai nhận chất rắn dạng cục mà
các bị cáo vận chuyển là thuốc nổ do một người đàn ông có tên là C thuê vận
chuyển từ nhà C sang Việt Nam với tiền công 1.000.000 đồng/người.
Mở rộng phạm vi kiểm tra về phía biên giới nước Lào cách vị trí của Chan
T và T 100-150 mét, lực lượng chức năng phát hiện 02 xe mô tô (xe không gắn
biển kiểm soát) trên mỗi xe chở 01 bao gai (bao thứ nhất chứa 40,3 kg, bao thứ
hai chứa 39,3 kg chất rắn dạng cục). Tổ công tác tiến hành bắt người phạm tội quả
tang, thu giữ toàn bộ tang vật. Quá trình điều tra, Chan T và T khai hai xe mô tô
nêu trên do C, T1 và O điều khiển cùng vận chuyển thuốc nổ.
Kết luận giám định số 1541/KL-KTHS ngày 30/10/2025 của Phòng K Công
an tỉnh Q, kết luận:
Mẫu thu giữ trong bao gai màu cam của Chan Thi vận chuyển ký hiệu A1
là thuốc nổ có thành phần chính là TNT (Trinitrotoluene) và RDX (C1), khối
lượng 40,7 kg, tình trạng còn sử dụng được;
Mẫu thu giữ trong bao gai màu cam của T vận chuyển ký hiệu A2 là thuốc
nổ có thành phần chính là TNT (Trinitrotoluene) và RDX (C1), khối lượng 40 kg,
tình trạng còn sử dụng được;
Thuốc nổ thuộc vật liệu nổ được quy định tại khoản 7 Điều 2 của Luật quản
lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2024.
Bản cáo trạng số: 56/CT-VKSQT-P1 ngày 05 tháng 6 năm 2026 của Viện
kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị, truy tố các bị cáo Chan T, T về tội “Vận chuyển
trái phép vật liệu nổ” theo điểm a khoản 3 Điều 305 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7, tỉnh Quảng Trị
giữ nguyên nội dung Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Chan T, T đều phạm tội “Vận chuyển trái phép vật
liệu nổ”;
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 305; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ
luật hình sự; Bị cáo Chan T được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
3
Xử phạt: Bị cáo Chan T từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù; Bị cáo T từ 07
năm đến 07 năm 06 tháng tù.
Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật
tố tụng hình sự;
- Tịch thu, tiêu hủy số thuốc nổ còn lại sau giám định;
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA,
đã qua sử dụng, không có biển kiểm soát, số khung RLHJC4328AY175986, số
máy JC43E-5643482 (xe của bị cáo Chan T); 01 (một) xe mô tô khác cùng nhãn
hiệu HONDA, đã qua sử dụng, không có biển kiểm soát; không có số khung, số
máy, không xác định được dung tích xi lanh, không có giấy chứng nhận xe; Quá
trình sử dụng xe đã bị thay đổi nhiều: không có mang xe, không có yếm xe, không
có gương xe, xe chỉ còn lại bộ khung sắt (xe của bị can T).
- Trả lại cho bị cáo T 01 máy điện thoại di động.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a
khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa
án; Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Chan T trình bày lời nói sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là
vi phạm pháp luật. Mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt để bị
cáo sớm trở về với gia đình, có cơ hội làm lại cuộc đời.
Bị cáo T trình bày lời nói sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi mà mình thực
hiện là vi phạm pháp luật. Mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt
để bị cáo sớm trở về với gia đình, có cơ hội làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên;
Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực
hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về
hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do
đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người
tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi bị truy tố: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn
phù hợp với kết quả điều tra và các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ
vụ án, có đủ cơ sở để kết luận:
Vào lúc 18 giờ 00 phút ngày 24/10/2025, tại thôn M, xã H, tỉnh Quảng Trị,
lực lượng chức năng phát hiện, bắt quả tang Chan T có hành vi vận chuyển 40,7
kg thuốc nổ; T có hành vi vận chuyển 40 kg thuốc nổ từ Lào sang Việt Nam để
4
nhận tiền công. Theo kết luận giám định số 1541/KL-KTHS ngày 30/10/2025 của
Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận: Mẫu thu giữ của Chan T vận chuyển là thuốc
nổ có thành phần chính là TNT (Trinitrotoluene) và RDX (C1), khối lượng 40,7
kg, tình trạng còn sử dụng được; Mẫu thu giữ của T vận chuyển là thuốc nổ có
thành phần chính là TNT (Trinitrotoluene) và RDX (C1), khối lượng 40 kg, tình
trạng còn sử dụng được.
Hành vi của các bị cáo đã vi phạm khoản 7 Điều 2, Điều 4 của Luật quản
lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2024 nên đã phạm vào tội
“Vận chuyển trái phép vật liệu nổ”, với tình tiết định khung là “Thuốc nổ các loại
từ 30 kilôgam đến dưới 100 kilôgam”, được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 305
Bộ luật hình sự như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, đúng
quy định pháp luật.
[3]. Xét tính chất, hành vi phạm tội tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự, nhân thân đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[3.1]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình
tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[3.2]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra,
truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của
mình nên cần xem xét cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo Chan T có
03 người con đều dưới 15 tuổi nên cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[3.3]. Xét vai trò, tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc
quyền quản lý của Nhà nước đối với vật liệu nổ. Các bị cáo được người khác thuê
rồi cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội nên vai trò của các bị cáo là như nhau.
Để nhằm đáp ứng công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm về loại tội phạm này
đang diễn biến ngày càng phức tạp trên địa bàn nên cần áp dụng khoản 1 Điều 38
Bộ luật hình sự buộc các bị cáo phải chấp hành cải tạo tại cơ sở giam giữ một thời
gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và
phòng ngừa chung.
Cần tiếp tục tạm giam các bị cáo để đảm bảo công tác thi hành án hình sự.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo là người Lào, có hoàn cảnh khó khăn,
được người khác thuê vận chuyển để nhận tiền công nên không cần thiết áp dụng
hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[5]. Về vật chứng:
- Số lượng thuốc nổ hoàn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành
nên cần tịch thu tiêu huỷ.
5
- Đối với xe mô tô mà các bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội nên cần
tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động màu xám bạc, nhãn hiệu TECNO
SPARK, số Imei 1: 354210613632394, số Imei 2: 354210615272900, đã qua sử
dụng, quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần
trả lại cho bị cáo T.
[5]. Về các vấn đề khác: Đối với "Chít", "Thăm" và "On", quá trình điều tra,
Cơ quan điều tra đã áp dụng đầy đủ các biện pháp điều tra, đến nay đã hết thời
hạn điều tra nhưng chưa xác định được nhân thân, lai lịch của các đối tượng, chưa
đủ căn cứ để kết luận xử lý, nên Cơ quan điều tra đã tách vụ án cùng vật chứng
để giải quyết bằng một vụ án khác theo khác theo Quyết định tách vụ án hình sự
số 385/QĐ-ANĐT-Đ2 ngày 01/6/2026 của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh
Q.
[6]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a
khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa
án; Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Chan T, T đều phạm tội “Vận chuyển trái phép vật
liệu nổ”;
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 305, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ
luật hình sự đối với các bị cáo; Áp dụng khoản 2 Điều 51 đối với bị cáo Chan T:
Xử phạt bị cáo Chan T 07 (B) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính
từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (24/10/2025);
Xử phạt bị cáo T 07 (B) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ
ngày bắt tạm giữ, tạm giam (24/10/2025);
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự,
điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu giao cho Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Q tiêu huỷ, xử lý theo quy định:
Khối lượng thuốc nổ còn lại sau giám định (gồm 40,6 kg thuốc nổ, chứa trong 01
thùng cát tông, các mép dán kín, bên ngoài dán giấy có nội dung “A1”, 39,9 kg
thuốc nổ, chứa trong 01 thùng cát tông, các mép dán kín, bên ngoài dán giấy có
nội dung “A2”)
Vật chứng đang được Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Q quản lý theo Biên bản
giao nhận vật chứng lập ngày 18/11/2025 giữa Cơ quan ANĐT Công an tỉnh Q
và Phòng hậu cần - kỹ thuật Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Q
Tịch thu nộp Ngân sách sách nhà nước:
6
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, đã qua sử dụng, không có biển
kiểm soát, số khung RLHJC4328AY175986, số máy JC43E-5643482, không có
giấy chứng nhận xe, không có chìa khóa xe (dung tích xi lanh 109 cm3, theo phiếu
trả lời xác minh xe ngày 23/12/2025 của Đội đăng ký xe Phòng CSGT Quảng
Trị). Quá trình sử dụng xe đã bị thay đổi nhiều: không có mang xe, không có yếm
xe, không có gương xe, xe chỉ còn lại bộ khung sắt.
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, đã qua sử dụng, không có biển
kiểm soát; không có số khung, số máy, không xác định được dung tích xi lanh,
không có giấy chứng nhận xe; Quá trình sử dụng xe đã bị thay đổi nhiều: không
có mang xe, không có yếm xe, không có gương xe, xe chỉ còn lại bộ khung sắt.
Trả lại cho bị cáo T 01 (một) điện thoại di động màu xám bạc, (thực tế màu
xám đen) nhãn hiệu TECNO SPARK, máy đang trong trong tình trạng tắt nguồn
nên không kiểm tra được số IMEI , máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chất
lượng máy
Vật chứng trên hiện đang được Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7, tỉnh
Quảng Trị quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/6/2026 giữa Thi
hành án dân sự khu vực 7, tỉnh Quảng Trị và Cơ quan An ninh điều tra Công an
tỉnh Q.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a
khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa
án;
Buộc các bị cáo Chan T, T, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình
sự sơ thẩm.
4. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày
tuyên án (14/7/2026).
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Quảng Trị;
- VKSND tỉnh Quảng Trị;
- VKSND KV 7-Quảng Trị;
- Công an tỉnh Quảng Trị;
- THADS tỉnh Quảng Trị;
- CQ THAHS CA tỉnh Quảng Trị;
- Sở ngoại vụ tỉnh Quảng Trị;
- Trại TG số 2, CA tỉnh Quảng Trị;
- Hồ sơ THAHS;
- Các bị cáo;
- Lưu HSVA; Lưu Tổ HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Mạnh Lưu
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 80/2026/HS-ST Bản án số 80/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 80/2026/HS-ST Bản án số 80/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất