Bản án số 79/2025/DS-ST ngày 10/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Cần Thơ, TP. Cần Thơ về tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 79/2025/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 79/2025/DS-ST ngày 10/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Cần Thơ, TP. Cần Thơ về tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 7 - Cần Thơ, TP. Cần Thơ
Số hiệu: 79/2025/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 10/09/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 – CẦN THƠ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 79/2025/DS-ST.
Ngày: 10/9/2025
V/v tranh chấp thực hiện nghĩa vụ do
người chết để lại
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Vàng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đàm Thanh Vũ
Ông Bùi n Thắng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thuận Phát, Thư ký Tòa án nhân dân khu
vực 7 – Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 Cần Thơ tham gia phiên
tòa: Nguyễn Thúy Hằng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 10 tháng tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực
7 Cần Thơ. Xét xử thẩm công khai vụ án thụ số 211/2024/TLST-DS
ngày 03 tháng 12 năm 2024 về việc " Tranh chấp thực hiện nghĩa vụ của người
chết để lại” theo Quyết định đưa vụ án ra t xử thẩm số
101/2025/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 8 năm 2025 giữa:
- Nguyên đơn: Bà Trần C, sinh ngày 01/01/1962 (Có mặt)
Số căn cước công dân: 094162003480, ngày cấp 20/08/2021
Địa chỉ: ấp M, phường MQ, thành phố Cần T.
- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn U, sinh ngày
07/12/1984 (vắng mặt) Phạm D, sinh ngày 25/11/1999 (Có mặt), theo văn
bản ủy quyền lập ngày 22/8/2024
Cùng địa chỉ liên hệ: Khóm C, phường N, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn:
1. Ông Huỳnh S, sinh ngày 01/01/1972 (vắng mặt)
Số căn cước công dân 094071008739; CMND 365020228
2. Chị Huỳnh Y, sinh ngày 08/3/1992 (vắng mặt)
Số căn cước công dân 094192010304; CMND 365860499
3. Anh Huỳnh N, sinh ngày 22/02/2006 (vắng mặt)
2
Số căn cước công dân 094206002766
Cùng địa chỉ: ấp M, phường MQ, thành phố Cần Thơ.
4. Chị Huỳnh T, sinh năm 1997 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã C, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1/ Theo đơn khởi kiện lập ngày 19/8/2024, quá trình tố tụng ng như tại
phiên tòa người đại diện hợp pp của nguyên đơn Phạm d tnh bày:
Nguyên vào năm 2018, Trần C làm chủ hụi, nhiều người tham
gia chơi hụi trong đó Trần Đ (đã chết) tham gia hụi của C nhiều dây
hụi, cụ thể như sau:
Dây hụi 01: Hụi 5.000.000 đồng, hụi mùa, khui ngày 11/02/2018 âm lịch,
bốn tháng khui một lần, hụi này 21 phần, Đ tham gia 01 phần, hụi đến
tháng 11/2024 là mãn, dây hụi này bà Đ đã hốt hụi, C đã giao đủ tiền hụi cho
Đ.
Dây hụi 02: Hụi 1.000.000 đồng, hụi tháng, khui ngày 29/7/2018 âm lịch,
bốn tháng khui một lần, hụi này 32 phần, Đ tham gia 02 phần, dây hụi này
đã mãn, bà Đ cũng đã hốt cả 02 phần hụi, bà C đã giao đủ tiền hụi cho bà Đ.
Dây hụi 03: Hụi 500.000 đồng, hụi tháng, khui ngày 21/02/2020 âm lịch,
bốn tháng khui một lần, hụi y 34 phần, bà Đ tham gia 02 phần, dây hụi
y đã mãn, Đ cũng đã hốt cả 02 phần hụi, C đã giao đủ tiền hụi cho
Đ.
Sau khi hốt hụi xong cả ba dây hụi, Đ không đóng lại hụi chết cho
C, liên hĐ để đòi tiền hụi chết thì Đ hứa hẹn sẽ trả nhưng sau
đó Đ chết. Rồi Cam đến nhà liên hệ với chồng con của Đ để đòi
tiền hụi, gặp được ông Huỳnh S chồng Đ cùng hai người con Huỳnh Y,
Huỳnh N, do khi bà Đ tham gia hụi có con Đ tên Y biết, Y cũng nhiều lần
đóng tiền hụi cho bà C, nên ngày 09/7/2023 bà C và Y đã có chốt lại tổng số tiền
hụi mà Đ còn nợ C 121.000.000 đồng, Y tự ghi vào sổ của Đ. Rồi
sau đó Y chỉ trả cho C được số tiền 2.000.000 đồng không trả nữa. Rồi
đến ngày 04/9/2023 C cùng với con trai, một người cháu, đến nhà của ông S
thì gặp ông S, Y, N làm biên nhận ngày 04/9/2023 Huỳnh Y đứng ra hứa
trả tiền cho C stiền hụi Đ đã tham gia 119.000.000 đồng, ông S cũng
mặt nhưng ông S nói để cho Y toàn quyền quyết định, Y hứa sớm trả sớm
trong vòng tháng 10 đến tháng 12 năm 2023 sẽ trả đủ vì gia đình ông S đang
chuẩn bị bán đất, nói bán đất xong gửi tiền một lần cho C. Nhưng sau đó
lại không trả. Y tự nguyện vào biên nhận ngày 04/9/2023 chứ không
mướn giang hồ lại nhà Y bắt ép Y ký biên nhận như Y nói, số tiền hụi là do Y tự
tính toán tiền hụi rồi ghi biên nhận cho bà C.
Tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của nguyên đơn và nguyên đơn
3
Trần C yêu cầu buộc ông Huỳnh S cùng những người con gồm Huỳnh Y, Huỳnh
N, Huỳnh T những người thừa kế của bà Trần Đ (đã chết) có trách nhiệm liên
đới trả cho Trần C số tiền nợ hụi 119.000.000 đồng (Một trăm mười chín
nghìn đồng).
2/ Bđơn chị Huỳnh Y có những ý kiến trình bày như sau:
Tại biên bản hòa giải lập ngày 24/12/2024 giữa Trần C chị Huỳnh
Y, chị Y tnh bày: Chị nhận nợ cho mẹ chị - Trần Đ đã chết ngày
09/9/2021 số tiền hụi của bà C 119.000.000 đồng đúng như tờ biên nhận ngày
04/9/2023. Chị đồng ý trả số tiền 119.000.000 đồng cho bà C nhưng do hiện nay
khó khăn không thể trả ngay được xin mỗi tháng trả 1.000.000 đồng. C
không đồng ý thì chị không trả xin chuyển hồ cho công an để điều tra về
số tiền hụi chính xác 119.000.000 đồng không và điều tra về hành vi C
đã nhiều lần kéo người đến hâm dọa gia đình chị.
Tại tờ tường trình lập ngày 26/12/2024 chị Y trình bày: Vào khoảng 11
giờ ngày 04/9/2023 bà Trần C cùng con trai tên G lại nhà chị bắt chị ghi giấy
nợ hẹn ngày trả tiền hụi cho C, đòi tính thêm tiền lãi, chị Y mới nói để
lai chị đánh máy nhờ người in ra, còn phần tiền lãi thì chị không biết, muốn
cứ tính với Ba của chị. Tiền hụi này là do mẹ chị - bà Trần Đ với bà Trần C giao
dịch chứ chkhông liên quan gì, mẹ chị đã chết trong đợt dịch Covid vừa
qua nên chị người biết điều, biết chuyện nên đứng ra trả thay chốt số tiền
nhưng mẹ con bà C không chịu bắt chị từ đây tới tết của năm 2023 chị phải trả
hết tổng số tiền 119.000.000 đồng, biết không làm được chị nên mcon C
về nhà, tầm khoảng 15h30p cùng ngày, c chị đang nằm nghĩ tại ncùng em
trai Huỳnh N và con trai của chị bỗng nhiên đám thanh niên lạ mặt 5 người
xong vào nhà chị trong đó H con trai C, C dẫn đám thanh niên lại
nhà chị. Chị không họ tên, mặt mũi đám thanh niên này, chúng nói chuyện
với cách thức giang hồ đòi nợ mướn, kiểu cách hâm dọa bắt ép chị phải giấy
nhận nợ cam kết trả từ đây đến tết năm 2023 phải trả cho C dứt điểm số
tiền trên, vì chị là phụ nữ, thân cô, mt mình ở nhà, chồng đi công tác xa, em trai
con trai còn quá nhỏ, chị qsợ hãy nên đành giấy chấp nhận như những
chúng yêu cầu, cho họ ra về để bảo vệ tính mạng của cả nhà chị, do mấy
người xông nhà chị bịt mặt hết nên chị không chụp lại hình ảnh mặt mũi
của từng người. Lần thhai vào khoảng 11 giờ, ngày 03/10/2023 C tiếp tục
dẫn thêm ba thanh niên lạ mặt tới nhà quấy rối, đem giấy nhận nợ hụi mà
trước đó hđã ép chị giấy nợ, lại nhà đòi chị phải trả tiền, lúc đó chị gọi
lên công an xã báo, tầm khoảng 13 giờ sau phó công an anh T nay đã
chuyển công tác đi nơi khác, anh T xuống không dàn xếp được sviệc chỉ
nói rằng: tôi bận rất nhiều việc chứ không rảnh mà xuống giải quyết mấy chuyện
này, tôi tính đau đánh lộn hay xãy ra xô xác giữ lắm nên chị mới xuống, muốn gì
thì làm đơn ra a thưa kiện, lúc đó C mới chịu ra về. Chị Y yêu cầu
quan nhà nước thẩm quyền, Tòa án thị Ngã m hủy tờ biên nhận n
chữ ký của chị vì chị không tự nguyện mà bị ép ký; chị cũng không đi vay nợ gì
của bà C mà là tiền hụi của mẹ chị - bà Trần Đ.
4
Tại biên bản lấy lời khai lập ngày 12/5/2025 chị Y trình bày: C cung
cấp một tgiấy ca ghi nội dung “Chốt tổng tính từ ngày 29/8/2020 đến
ngày 09/7/2023 tổng là 121.000.000 đồng” do chị viết và ký tên nhưng bà C kêu
chị ghi sau tchị ghi vậy cho qua chuyện vì lúc này mẹ chị mới chết không bao
lâu, chứ thật chất tiền hụi mẹ chị tham gia từ bà C như thế nào chị không biết rõ.
Số tiền 119.000.000đồng theo như chị biết là tiền hụi.
3/ Các bị đơn ông Huỳnh S, anh Huỳnh N, chị Huỳnh T đã được triệu tập
hợp lệ nhưng vắng mặt không do cũng không lời trình bày gửi đến Tòa
án.
4/ Kiểm sát viên thuộc Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 Cần Thơ tham
gia phiên toà phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật, xác định
tư cách đương sự, thu thập chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử đúng trình tự thủ tục
của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử đúng thành phần, thực hiện đầy đủ
các thủ tục, trình tự khi xét xử vụ án. Nguyên đơn người đại diện hợp pháp
của nguyên đơn tham gia phiên tòa đã chấp hành tốt nội quy phiên tòa quy
định của của Bộ luật tố tụng dân s. Còn các bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần
thứ hai không do chưa chấp hành đúng quy định triệu tập của Bộ luật tố
tụng dân sự.
Về nội dung ván: Kiểm sát viên phát biểu về tính có căn cứ về yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn bà Trần C. Buộc các bị đơn ông Huỳnh S, chị Huỳnh Y, anh Huỳnh
N, chị Huỳnh T cùng trách nhiệm liên đới trả cho Trần C số tiền nợ hụi
119.000.000 đồng trong phạm vi di sản mà bà Trần Đ chết để lại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phn
tòa, căn cvào kết quả tranh luận tại các phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Vắng mặt đương sự: Các bị đơn ông Huỳnh S, chị Huỳnh Y, anh
Huỳnh N, chị Huỳnh T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không rõ lý do. Căn cứ
vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến
hành xét xử vắng mặt các bị đơn.
[2] Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Cu
cầu các bị đơn ông Huỳnh S, chHuỳnh Y, anh Huỳnh N, chHunh T cùng
trách nhiệm liên đới trsố tiền nợ hụi cho C là 119.000.000 đồng. Bị đơn chị
Huỳnh Y thừa nhận số tiền 119.000.000 đồng theo chị biết tiền m chị Trần Đ
thiếu C tiền hi nhưng chị không c định chính c đúng stiền này không;
c bị đơn ông S, anh N, chị T không ý kiến phản hồi. Hội đồng xét xnhận
thấy:
[3] Nguyên đơn C cung cấp cho Tòa án một tờ giấy ca ghi nội
dung “Chốt tổng tính từ ngày 29/8/2020 đến ngày 09/7/2023 tổng
5
121.000.000 đồng” chị Y thừa nhận do chị viết tên, C đọc sao thì chị
ghi vậy cho qua chuyện vì mẹ chị mới chết không bao lâu; Ngoài ra, nguyên đơn
bà C cung cấp tờ biên nhận lập ngày 04/9/2023 có nội dung “tôi tên Huỳnh Y, sn
08/03/1992 số cccd 094192010304 con của Trần Đ - ấp M MQ Thxã
N Tỉnh S Tôi đứng ra trả tiền huộc của Trần C hiện tại 119.000.000
(một trăm mười chín triệu Hứa sớm trả sớm trong vòng tháng 10 đến tháng
12 sẽ trả đủ số tiền 119.000.000 (một trăm mười chín triệu) tên ghi họ
tên Huỳnh Y. Quá trình tố tụng bị đơn chị Y cho rằng biên nhận thừa nhận số
tiền nợ hụi 119.000.000 đồng do chị chị đứng ra trả nợ hụi do mẹ chị
Trần Đ, nhưng do C bắt ép chị ký, việc C bắt ép chị không để
chứng minh, bà C không thừa nhận có bắt ép chị ký biên nhận. Quá trình tố tụng
tại biên bản hòa giải lập ngày 24/12/2024 chị Y cũng thừa nhận mẹ chị - bà Trần
Đ còn nợ bà C số tiền hụi 119.000.000 đồng, chị Y yêu cầu tự chị chịu trách
nhiệm trả nợ cho bà C, không đồng ý đưa cha chị là ông S hai đứa em N và T
vào cùng trách nhiệm. Mặc chị Y trình bày không biết được số tiền hụi
119.000.000 đồng chính xác hay không nhưng với những phân tích nêu trên
nhận thấy chị Y và gia đình chị đều biết khi còn sống bà Trần Đ tham gia hụi
của C, còn nợ C số tiền hụi chưa trả 119.000.000 đồng. Trần Đ đã
chết ngày 09/9/2021. Căn cứ Điều 615 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định
về thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại quy định: Những người
hưởng thừa kế trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản
do người chết để lại,…. Theo công văn số 160/CNNN ngày 27/5/2025 của Chi
nhánh văn phòng đăng ký đất đai thị xã N, tỉnh S cung cấp thông tin ông Huỳnh
S, sinh năm 1971 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 36,
diện tích 384,2m
2
đất trồng cây lâu năm thửa số 950, diện tích 1.270,7m
2
, đất
trồng lúa. Như vậy khi Đ chết vẫn chưa phân chia di sản thừa kế. n C
khởi kiện các đồng thừa kế của Trần Đ gồm chồng ông S cùng ba người
con chị Y, anh N, chị T cùng trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ của người
chết (bà Đ) để lại trong phạm vi di sản của Định để trả số tiền nợ hụi phù
hợp quy định tại Điều 615 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên được Hội đồng xét
xử chấp nhận.
[4] Về án phí thẩm: Do u cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp
nhận toàn bộ nên nguyên đơn Trần C không phải chịu án phí nguyên đơn
bà C thuộc trường hợp được miễn tạm ứng án phí nên không đặt ra xem xét. Còn
các bị đơn ông S, chị Y, chị T, anh N cùng trách nhiệm liên đới phải chịu án
phí theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án plệ phí a án, số tiền án phí phải
chịu 119.000.000đồng x 5% = 5.950.000 đồng.
[5] Từ những phân tích nêu trên, xét lời đề nghị của Kiểm sát viên
cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
6
QUYẾT ĐỊNH:
Căn ckhoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điu
227, Điều 228, Điu 266, Điều 271 Điều 273 của B luật Ttng Dân sự.
Áp dụng Điều 615 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Áp dụng khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần C về việc yêu
cầuc bị đơn ông Huỳnh S, chHuỳnh Y, anh Huỳnh N, chị Huỳnh T cùng
trách nhiệm liên đới trả cho bà số tiền nợ hụi.
2/ Buộc ông Huỳnh S, chị Huỳnh Y, anh Huỳnh N, chHuỳnh T cùng
trách nhiệm liên đới trả cho Trần C số tiền nợ hụi 119.000.000 đồng (Một
trăm mười chín triệu đồng) trong phạm vi di sản của Trần Đ chết để lại.
3/ Về lãi chậm trả: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được
thi hành án đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi
thi hành xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của
số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qui định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ
luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
4/ Về án phí dân sự sơ thẩm:
+ Bà Trần C không phải chịu án phí.
+ Bđơn ông Huỳnh S, chị Huỳnh Y, anh Huỳnh N, chị Huỳnh T cùng có
trách nhiệm liên đới trả phải chịu án phí số tiền 5.950.000 đồng (Năm triệu, chín
trăm năm mươi nghìn đồng).
5/ Quyền kháng cáo: Đương sự mặt quyền làm đơn kháng cáo bản
án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đương sự vng mặt tại phiên
tòa hoặc không mặt khi tuyên án do chính đáng thì thời hạn kháng
cáo tính từ ngày nhận được bn án hoặc được tống đạt hợp lệ.
6/ Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vthi hành án, thời hiệu yêu cầu thi
hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi
hành án dân sự được sửa đổi, bsung thì người được thi hành án dân sự, người
phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành
án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các
Điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật thi hành án dân sự. Thi hiệu thi nh án được thực
hiện theo quy định tại Điu 30 Lut thi hành án n sự được sửa đi, bsung.
Nơi nhận:
- VKSND khu vực 7 Cần Thơ;
- THADS thành phố Cần Thơ;
- Phòng THADS khu vực N Cần Thơ;
- TAND thành phố Cần Thơ;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
7
- Các đương sự;
- Lưu VT, hồ sơ vụ án.
Đặng Thị Vàng
Tải về
Bản án số 79/2025/DS-ST Bản án số 79/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 79/2025/DS-ST Bản án số 79/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất