Bản án số 74/2022/DSPT ngày 27/09/2022 của TAND tỉnh Bắc Ninh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 74/2022/DSPT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 74/2022/DSPT
| Tên Bản án: | Bản án số 74/2022/DSPT ngày 27/09/2022 của TAND tỉnh Bắc Ninh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Bắc Ninh |
| Số hiệu: | 74/2022/DSPT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 27/09/2022 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa Nguyên đơn |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC NINH
Bản án số: 74/2022/DSPT
Ngày: 27/9/2022
V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Trường.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Bình.
Ông Nguyễn Văn Tính.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Tuyết Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà
Nguyễn Thị Thu Trang - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 19 và 27 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh
Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 97/2022/TLPT-DS ngày 01
tháng 8 năm 2022 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 12/2022/DSST, ngày 06/5/2022 của Tòa án
nhân dân huyện Yên Phong bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 98/2022/QĐ-PT, ngày 18
tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Đình Tr, sinh năm 1976 (có mặt).
Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1974 (có mặt).
Cùng địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Vũ Văn Xuyên
và bà Nguyễn Thị Lan - Luật sư Công ty Luật TNHH MTV Thành Long, chi
nhánh Bắc Ninh, đoàn luật sư thành phố Hà Nội (có mặt).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Đức Th, sinh năm 1971 (có mặt).
Chị Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1973 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
2
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Xuân Tùng - Luật sư
Công ty Luật TNHH Tùng Bách Diệp, đoàn luật sư tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
Người kháng cáo: Nguyên đơn Anh Nguyễn Đình Tr và Chị Nguyễn Thị L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ thì nội dung vụ án như sau:
Nguyên đơn là Anh Nguyễn Đình Tr, Chị Nguyễn Thị L trình bày:
Vợ chồng anh chị và vợ chồng anh Th, chị Ng là người nhà vì chị Ng là chị
gái Anh Tr. Khoảng đầu năm 2018, anh chị có cho vợ chồng anh Th, chị Ng vay
tiền nhiều lần. Mỗi lần anh chị cho vay từ 100.000.000đ đến 300.000.000đ. Mới
đầu, anh Th, chị Ng vay một thời gian ngắn sau lại trả rồi lại vay. Tổng cộng số
tiền anh Th, chị Ng còn nợ anh chị là 900.000.000đ. Mục đích anh Th, chị Ng vay
tiền anh chị là để kinh doanh gỗ.
Đến tháng 3 năm 2019, anh chị có bán nửa thửa đất, anh chị lại cho anh Th,
chị Ng vay tiền và vay nhiều lần, mỗi lần cho vay từ 200.000.000đ đến
300.000.000đ. Anh chị cho anh Th, chị Ng vay số tiền lần này là 1.100.000.000đ.
Mục đích vay để anh Th kinh doanh gỗ.
Tổng số tiền vợ chồng anh cho vợ chồng anh Th, chị Ng vay là
2.000.000.000đ.
Vì là anh chị em ruột nên việc vay nợ giữa vợ chồng anh với vợ chồng anh
Th chỉ đưa tay không có giấy tờ gì. Lãi suất do anh Th tự trả từ 1% đến
1,5%/tháng, vay không có thời hạn. Hàng tháng, anh Th, chị Ng đều trả lãi cho anh
chị, anh chị không nhớ số tiền lãi anh Th, chị Ng trả là bao nhiêu vì mỗi lần trả chỉ
đưa tay mà không có giấy tờ gì. Anh Th, chị Ng trả lãi cho anh chị đến hết tháng 7
năm 2019 âm lịch và sau đó không trả nữa. Do từ tháng 8 năm 2019 anh Th, chị
Ng không trả lãi cho anh chị nữa anh chị bắt đầu đòi thì anh Th, chị Ng có nói bán
đất cho anh chị nhưng anh chị không lấy và bảo vợ chồng anh Th anh chị cho nợ
thêm một năm nếu sau một năm không trả được anh chị sẽ lấy đất.
Cho đến tháng 8 năm 2020 âm lịch, anh Th, chị Ng mới trả được cho anh chị
số tiền 40.000.000đ. Khi trả chỉ đưa tay mà không viết giấy tờ gì.
Anh chị có yêu cầu anh Th, chị Ng trả bằng đất thì anh Th, chị Ng đòi giá cao
nên anh chị không lấy được và sau này anh Th, chị Ng không có ý định trả nữa.
Nay anh chị khởi kiện đề nghị Tòa án buộc anh Th, chị Ng phải trả anh chị số
tiền gốc là 1.960.000.000đ và anh chị không yêu cầu anh Th, chị Ng phải trả anh
chị tiền lãi.
3
Bị đơn là Anh Nguyễn Đức Th và người đại diện theo ủy quyền của anh Th là
ông Nguyễn Xuân Tùng trình bày: Anh Tr là em trai của chị Ng. Anh Th làm nghề
đồ gỗ mỹ nghệ. Cách đây 04 năm, anh Th có vay tiền của Chị L với mục đích mua
gỗ về pha để làm đồ mỹ nghệ. Vì chỉ vay nóng nên vay không có lãi suất và không
thời hạn. Anh Th vay tiền nhiều lần cứ vay rồi lại trả rồi lại vay. Chị L cũng vay
tiền của anh Th rồi sau đó lại trả. Vì là chỗ người nhà nên việc vay nợ chỉ đưa tay
không có giấy tờ gì.
Việc anh Th vay tiền Chị L cũng như anh Th cho Chị L vay tiền anh Th
không nói với chị Ng và Chị L cũng không nói gì với chị Ng.
Việc anh Th vay tiền Chị L đến nay anh Th đã trả hết cho Chị L và Chị L vay
tiền của anh Th Chị L đã trả hết cho anh Th. Việc cho vay giữa anh Th và Chị L,
chị Ng không biết. Anh xác định giữa hai bên đến nay không ai còn nợ nần ai nữa.
Do vậy, Anh Tr, Chị L khởi kiện anh chị yêu cầu anh chị trả số tiền gốc là
1.960.000.000đ anh chị không đồng ý vì anh chị không còn nợ gì Anh Tr, Chị L
nữa.
Bị đơn là Chị Nguyễn Thị Ng trình bày: Chị là chị gái Anh Tr, chồng chị là
anh Th làm nghề đồ gỗ mỹ nghệ. Việc anh Th vay tiền Anh Tr, Chị L như nào chị
không biết vì chồng chị không nói gì với chị về việc này và Anh Tr, Chị L cũng
không nói cho chị biết việc anh Th vay tiền Anh Tr, Chị L. Chị không biết mục
đích anh Th vay tiền để làm gì vì kinh tế trong nhà cũng như mọi thu chi trong nhà
hay kinh doanh đều do anh Th quản lý. Đến khoảng giữa năm 2020, vợ chồng Anh
Tr, Chị L sang nhà chị đòi tiền thì chị mới biết việc anh Th vay tiền của Anh Tr,
Chị L.
Nay vợ chồng Anh Tr, Chị L yêu cầu vợ chồng chị phải trả số tiền gốc là
1.960.000.000đ chị không đồng ý vì chị không vay tiền Anh Tr, Chị L.
Từ những nội dung trên bản án sơ thẩm đã căn cứ Điều 274; 275; 463; 469 Bộ
luật dân sự năm 2015; Điều 235; 264; 266; 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết
số 326/2016/NQUBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
xử:
Không chấp nhận đơn khởi kiện của Anh Nguyễn Đình Tr, Chị Nguyễn Thị L
yêu cầu Anh Nguyễn Đức Th, Chị Nguyễn Thị Ng phải trả số tiền 1.960.000.000đ.
Ngoài ra, bản án còn tuyên án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 10/5/2022, nguyên đơn là Anh Nguyễn Đình Tr và Chị Nguyễn Thị L
kháng cáo toàn bộ bản án.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, nguyên đơn là Anh Nguyễn Đình Tr, Chị
Nguyễn Thị L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo và Anh Tr,
4
Chị L đề nghị giám định giọng nói của anh Th, chị Ng trong file ghi âm được sao
ra USB.
Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã cho mở file ghi âm và mọi người tham gia
phiên tòa cùng nghe. Sau khi nghe anh Th thừa nhận giọng nói trong file ghi âm
vừa mở là của anh và vợ anh. Do vậy, phía nguyên đơn là Chị L không đề nghị Hội
đồng xét xử đi giám định giọng nói nữa.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn cho rằng: Việc vay
nợ là có thật. Do các bên có quan hệ họ hàng nên tin tưởng nhau. Khi cho nhau vay
tiền không có giấy tờ gì về việc vay tiền. Trong file ghi âm thể hiện anh Th không
chối việc vay nợ và có nói đến việc gán nhà đất để trả nợ. Do vậy, đề nghị Hội
đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện và đơn kháng cáo của Anh Tr, Chị L.
Bị đơn giữ nguyên quan điểm. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau
về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý
kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên
tòa; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến
trước khi nghị án là đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Về nội dung đề nghị
Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự giữ nguyên bản
án sơ thẩm xử.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời trình bày
của các đương sự; Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử
thấy:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của Anh Nguyễn Đình Tr, Chị Nguyễn Thị L
nộp trong hạn luật định đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng nên được xem xét giải
quyết theo trình tự xét xử phúc thẩm.
[2] Về nội dung: Theo nguyên đơn là Anh Tr, Chị L trình bày vào năm 2018,
anh chị có cho vợ chồng anh Th, chị Ng vay tiền làm nhiều lần cứ mỗi lần vay từ
100.000.000đ đến 300.000.000đ. Sau đó anh Th, chị Ng trả rồi sau đó lại vay.
Tổng cộng lần vay này anh Th, chị Ng còn nợ anh chị tổng số tiền 900.000.000đ.
Sau đó, năm 2019, anh chị có bán nửa thửa đất thì anh chị lại cho anh Th, chị
Ng vay tiền và cũng vay làm nhiều lần với tổng số tiền vay 1.100.000.000đ.
Cả hai lần vay giữa vợ chồng anh chị và vợ chồng anh Th, chị Ng đều không
viết giấy vay vì là anh chị em trong nhà. Mục đích vay để anh Th kinh doanh đồ gỗ
mỹ nghệ. Anh Th có trả lãi cho anh chị từ 1% đến 1,5%/tháng. Việc vay không có
thời hạn.
5
Sau đó, hàng tháng anh Th có trả lãi cho vợ chồng anh chị, hết tháng 7 (âm
lịch) năm 2019 thì không trả lãi nữa. Tháng 8 (âm lịch) năm 2019, anh chị có đòi
tiền anh Th, chị Ng thì anh Th, chị Ng có nói bán đất cho anh chị nhưng anh chị
không lấy và nói cho anh Th, chị Ng nợ thêm một năm nữa. Đến tháng 8 năm
2020, anh Th, chị Ng trả thêm cho vợ chồng anh chị được 40.000.000đ. Việc anh
Th, chị Ng trả anh chị chỉ đưa tay không có giấy tờ gì. Do đó, Anh Tr, Chị L đề
nghị Tòa án buộc anh Th, chị Ng trả anh chị số tiền gốc là 1.960.000.000đ, anh chị
không đề nghị trả lãi.
Phía bị đơn và người đại diện theo ủy quyền cho bị đơn trình bày: Anh Th
thừa nhận cách đây 04 năm anh có vay tiền của Anh Tr, Chị L. Vì là vay nóng và
là anh em trong nhà nên vay không có lãi suất và không có thời hạn. Giữa hai bên
vay đi, vay lại nhiều lần rồi lại trả. Việc vay giữa hai bên chỉ đưa tay chứ không có
giấy tờ gì. Nay bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Từ những nội dung trên bản án sơ thẩm đã xử không chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn. Bản án sơ thẩm xử như vậy là có căn cứ. Bởi: Theo lời trình
bày của nguyên đơn cũng như bị đơn đều thừa nhận trong năm 2018, 2019, giữa
Anh Tr, Chị L và anh Th, chị Ng có quan hệ vay mượn nhau tiền. Mục đích vay để
kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ. Giữa hai bên khi vay không có giấy tờ gì. Phía nguyên
đơn cho rằng vì vay nóng và là người nhà nên vay không có lãi nhưng phía bị đơn
cho rằng vay có lãi nhưng bị đơn không đưa ra được chứng cứ nào chứng minh là
vay có lãi nên cần xác định là hợp đồng vay tài sản không có lãi.
Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình nguyên đơn là Anh Tr, Chị L
đã nộp cho Tòa án hai vi bằng do văn phòng thừa phát lại Tây Đô lập ngày
10/11/2021. Nội dung Anh Tr, Chị L cung cấp hai file ghi âm: Một file ghi vào
ngày 01/12/2020 với thời lượng 27 phút 04 giây và một file ghi vào ngày
05/3/2021, cả hai file đều được ghi bằng điện thoại cá nhân sau đó sao chép sang
máy tính cá nhân, sao chép lưu chuyển sang USB và cung cấp lại cho thừa phát lại
Nguyễn Xuân An. Trong hai vi bằng do văn phòng thừa phát lại Tây Đô lập trong
01 file ghi âm có giọng nói của hai người đàn ông và một người phụ nữ, 01 file ghi
âm có giọng nói của hai người đàn ông và hai người phụ nữ. Thế nhưng ở cả 02
file ghi âm đều không thể hiện được việc anh Th, chị Ng vay số tiền cụ thể là
2.000.000.000 đồng của Anh Tr, Chị L cũng như không đề cập được đến số tiền lãi
mà hai bên thỏa thuận với nhau. Bên cạnh đó, bị đơn là anh Th, chị Ng cũng không
thừa nhận rằng đó là giọng nói của mình và hai bên cũng không yêu cầu trưng cầu
giám định để xác định giọng nói. Ngoài ra phía nguyên đơn không giao nộp thêm
được tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh được khoản vay của anh Th, chị Ng
và phía bên bị đơn cũng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vì
6
vậy, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là
hoàn toàn đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Anh Tr, Chị L đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng
phiên tòa để giám định giọng nói trong file ghi âm mà anh chị đã sao ra USB. Hội
đồng xét xử đã mở file ghi âm cho các đương sự nghe tại phiên tòa. Bị đơn là anh
Th thừa nhận giọng nói trong file ghi âm mở tại phiên tòa chính là giọng nói của
anh và vợ anh. Vì vậy, Anh Tr, Chị L không đề nghị Hội đồng xét xử giám định
giọng nói trong file ghi âm nữa. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định không tạm
ngừng phiên tòa và tiếp tục xét xử.
Tuy nhiên nội dung được mở tại phiên tòa cũng không thể hiện việc anh Th,
chị Ng thừa nhận có vay tiền của Anh Tr, Chị L. Do đó, không có căn cứ nào
chứng minh việc Anh Tr, Chị L cho vợ chồng anh Th vay tiền.
Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, Anh
Tr, Chị L kháng cáo toàn bộ bản án nhưng không đưa ra được tài liệu, chứng cứ
nào mới nên kháng cáo của Anh Tr, Chị L không có căn cứ để chấp nhận nên cần
bác toàn bộ kháng cáo của Anh Tr, Chị L.
[3] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên Anh Tr, Chị L phải
chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 274; 275; 463;
469 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 235; 264; 266; 147 Bộ luật tố tụng dân sự;
Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội xử: Giữ nguyên bản án sơ thẩm xử:
1. Không chấp nhận đơn khởi kiện của Anh Nguyễn Đình Tr, Chị Nguyễn Thị
L yêu cầu Anh Nguyễn Đức Th, Chị Nguyễn Thị Ng phải trả số tiền
1.960.000.000đ.
2. Về án phí: Anh Nguyễn Đình Tr, Chị Nguyễn Thị L phải chịu 70.800.000đ
tiền án phí dân sự sơ thẩm. Xác nhận Anh Tr, Chị L đã nộp 35.400.000đ tiền tạm
ứng án phí tại biên lai số 0001342, ngày 29/9/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự
huyện Yên Phong. Anh Tr, Chị L còn phải nộp tiếp 35.400.000đ tiền án phí dân
sự sơ thẩm.
Anh Tr, Chị L mỗi người phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự phúc thẩm.
Xác nhận Anh Tr, Chị L mỗi người đã nộp 300.000đ tiền tạm ứng án phí dân sự
phúc thẩm tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004315 và 0004316 cùng ngày
10/5/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Phong.
7
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Bắc Ninh;
- TAND huyện Yên Phong;
- Chi cục THADS huyện Yên Phong;
- Các đương sự;
- Lưu hs.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Nguyễn Trọng Trường
CÁC THẨM PHÁN
Nguyễn Văn Tính - Nguyễn Thanh Bình
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Nguyễn Trọng Trường
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 10/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Bản án số 367/2026/DS-PT ngày 05/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 24/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm