Bản án số 723/2021/DS-PT ngày 23/12/2021 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 723/2021/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 723/2021/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 723/2021/DS-PT ngày 23/12/2021 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Hồ Chí Minh |
| Số hiệu: | 723/2021/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 23/12/2021 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Hủy bản án sơ thẩm và giao tòa án sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục chung |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 723 /2021/DS - PT
Ngày: 23-12-2021
V/v “Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản”
.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Kim Thương
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Lan Hương
Bà Nguyễn Thị Thu
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị P, Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ
Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Khương – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 14 và 23 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số
95/2021/TLPT-DS ngày 08 tháng 03 năm 2021 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài
sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 13/2021/DS-ST ngày 08 tháng 01 năm 2021
của Tòa án nhân dân huyện X bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 4167/2021/QĐ - PT
ngày 15 tháng 11 năm 2021 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữa
các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Q, sinh năm 1966 (có mặt).
Địa chỉ: 664 Đường A, xã L, huyện X, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Bà Đào Thị R, sinh năm 1976 (có mặt).
Địa chỉ: 81 đường S, xã L, huyện X, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Bà Nguyễn Thị Bích T, sinh năm
1964); Là người đại diện theo ủy quyền theo Hợp đồng ủy quyền ngày 12 tháng
2
4 năm 2021; (có mặt tại phiên tòa ngày 14/12/2021, xin vắng mặt tại phiên tòa
ngày 23/12/2021).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Trần Văn Y, Luật
sư Văn phòng Luật sư Y thuộc Đoàn luật sư tỉnh Nghệ An (có mặt tại phiên tòa
ngày 14/12/2021, xin vắng mặt tại phiên tòa ngày 23/12/2021).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Văn U, sinh năm 1965.
Địa chỉ: 664 Đường A, xã L, huyện X, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: ông Phạm Thanh I, sinh năm 1988 (có mặt); Là
người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày 25 tháng 6 năm 2021).
- Người kháng cáo: Bị đơn - bà Đào Thị R.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn bà Lê Thị Q
trình bày:
Trong năm 2019, bà Đào Thị R có vay của bà nhiều lần với tổng số tiền là
1.084.000.000 đồng, đến ngày 30/12/2019 bà và bà Đào Thị R có lập hợp đồng
vay mượn tiền không cầm cố tài sản để chốt lại số tiền, lãi suất cho vay là
2%/tháng. Bà R đóng lãi đến tháng 12 năm 2019 thì không đóng lãi nữa. Cùng
ngày 30/12/2019, bà R tiếp tục ký hợp đồng vay mượn tiền không cầm cố tài sản
với số tiền 87.000.000 đồng (mượn cho bạn) và ký hợp đồng vay mượn tiền
không cầm cố tài sản với số tiền 90.000.000 đồng (mượn dùm cho P vợ Đ), thời
hạn vay là 02 tháng, lãi suất là 2%/tháng. Đến ngày 3/3/2020, bà R ký hợp đồng
vay mượn tiền không cầm cố tài sản với số tiền 80.000.000 đồng, lãi suất
2%/tháng,
thời hạn vay là 02 tháng; cùng ngày, bà R tiếp tục ký hợp đồng vay
mượn tiền không cầm cố tài sản với số tiền 80.000.000 đồng (để làm vốn kinh
doanh),
lãi suất 2%/tháng, thời hạn vay là 02 tháng. Ngày 9/4/2020,
bà R tiếp tục
ký hợp đồng vay mượn tiền không cầm cố tài sản với số tiền 75.000.000 đồng,
lãi suất 2%/tháng, thời hạn vay là 02 tháng. Từ tháng 01 năm 2020 cho đến nay,
bà R chưa đóng tiền lãi. Nay bà yêu cầu Tòa án buộc bà Đào Thị R phải trả lại
cho bà số tiền tổng cộng là 1.496.000.000 đồng, bà không yêu cầu bà Đào Thị R
trả lãi.
Bị đơn bà Đào Thị R trình bày: Vào năm 2017, bà có vay của bà Lê Thị Q
số tiền 60.000.000 đồng, lãi suất là cứ 1.000.000 đồng thì mỗi ngày tiền lãi là
20.000 đồng, bà đóng tiền lãi cho bà Lê Thị Q hàng ngày, đóng lãi được khoảng
7-8 tháng thì không có khả năng đóng tiền lãi. Đến ngày 30/12/2019, bà Lê Thị
3
Q ép buộc bà ký tên và điểm chỉ vào hợp đồng vay mượn tiền không cầm cố tài
sản với số tiền 1.084.000.000 đồng và hợp đồng vay mượn tiền không cầm cố
tài sản với số tiền 87.000.000 đồng, thực chất đó là số tiền lãi mà bà Q cộng dồn
vào. Đối với hợp đồng vay mượn tiền không cầm cố tài sản lập ngày 3/3/2020
và ngày 9/4/2020 là số tiền lãi mà bà Lê Thị Q cộng vào ép bà ký tên và điểm
chỉ vào hợp đồng. Nay bà không đồng ý theo yêu cầu của bà Q.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn U trình bày: Ông có
biết vợ ông là bà Lê Thị Q có cho bà Đào Thị R vay tiền nhiều lần nhưng số tiền
cho vay bao nhiêu thì ông không rõ, nay ông thống nhất với ý kiến của vợ ông là
bà Q, yêu cầu bà R phải hoàn trả toàn bộ số tiền đã vay.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 13/2021/DS-ST ngày 08 tháng 01 năm
2021 của Tòa án nhân dân huyện X đã tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Buộc bà Đào Thị R phải chịu trách nhiệm trả cho bà Lê Thị Q số tiền nợ
gốc 1.496.000.000 đồng (một tỷ bốn trăm chín mươi sáu triệu đồng).
Thi hành ngay sau khi bản án phát sinh hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày bà Q có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà R chậm trả tiền thì phải
trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát
sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không
được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân
sự năm 2015, nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2
Điều 468
của Bộ luật dân sự năm 2015.
2. Án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Đào Thị R
phải chịu 56.880.000 (năm mươi sáu triệu tám trăm tám
mươi nghìn) đồng.
- Hoàn lại cho bà Lê Thị Q số tiền 28.440.000 (hai mươi tám triệu bốn trăm
bốn mươi nghìn) đồng bà Lê Thị Q đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí,
lệ phí Tòa án số AA/2019/0084256 ngày 14 tháng 7 năm 2020 của Chi cục Thi
hành án dân sự huyện X, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về quyền kháng cáo và quy định về thi hành án
cho các bên đương sự.
Ngày 27 tháng 01 năm 2021, bà Đào Thị R có đơn kháng cáo toàn bộ bản
án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
4
Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện; người kháng cáo không rút đơn kháng
cáo; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Bị đơn trình bày bổ sung yêu cầu kháng cáo với nội dung: Đầu năm 2017, bà
vay bà Q 3 lần tổng cộng 60 triệu đồng, năm 2018 bà trả cho bà Q một khoản
tiền lãi rất lớn nhưng chưa hết nợ. Từ số tiền nợ còn lại, năm 2019, bà Q tiếp tục
tính lãi và lập thành 19 hợp đồng vay tiền, đầu năm 2020 lập 3 hợp đồng. Các
khoản vay tiền trong vụ án vay tài sản trùng với các khoản vay cấn trừ nợ trong
vụ án hợp đồng đặt cọc do bà Q kiện bà, vừa bị Tòa án cấp phúc thẩm hủy, vì có
liên quan nhau. Ngoài ra, các khoản ghi tính lãi của bà Q, bà có nộp cho Tòa sơ
thẩm nhưng chưa được xem xét, bà đề nghị giám định chữ viết trên các bản ghi
tính lãi này. Do vậy, đề nghị hủy án sơ thẩm để giải quyết lại theo thủ tục sơ
thẩm.
Nguyên đơn trình bày: bà vẫn giữ nguyên yêu cầu buộc bà R trả số nợ
1.496.000.000 đồng theo 06 hợp đồng vay đã cung cấp cho Tòa. Hợp đồng vay
ngày 30/12/2019 với số tiền vay 1.084.000.000 đồng là chốt lại các khoản vay
trước đây được thể hiện qua 18 hợp đồng vay bà đã nộp cho Tòa sơ thẩm. Lãi
suất cho các khoản vay đều 2%/tháng, do bà R trả lãi đầy đủ và có tài sản là đất
nên khi bà R vay tiền bà sẵn sàng cho bà R vay. Đối với khoản vay cấn trừ nợ
trong hợp đồng đặt cọc mà cấp phúc thẩm vừa hủy án không liên quan trong vụ
án vay tài sản này. Do vậy, bà không đồng ý yêu cầu kháng cáo của bị đơn, đề
nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Phần tranh luận:
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn phát biểu tranh luận:
Trong hai vụ án dân sự do Tòa án nhân dân huyện X thụ lý số 268/TB-TLVA về
tranh chấp hợp đồng vay tài sản và số 269/TB-TLVA về tranh chấp hợp đồng
đặt cọc cùng ngày 14/7/2020 (tạm gọi là vụ 268 và vụ 269) có cùng nguyên đơn
là bà Lê Thị Q và cùng bị đơn là bà Đào Thị R, có nhiều khoản tiền vay trùng
nhau. Các khoản tiền trong vụ án số 269/TB-TLVA về tranh chấp hợp đồng đặt
cọc trùng nhau và trùng với vụ án số 268/TB-TLVA về tranh chấp hợp đồng vay
tài sản. Cụ thể: hợp đồng vay ngày 20/12/2019: 40.000.000đ (BL 59) trùng BL
75, 40 vụ 268; hợp đồng vay ngày 20/12/2019: 40.000.000đ (BL 75) trùng BL
59, 40 vụ 268;
hợp đồng vay ngày 20/12/2019: 120.000.000đ (BL 60) trùng BL
74, 44 vụ 268; hợp đồng vay ngày 20/12/2019: 120.000.000đ (BL 74) trùng BL
60, 44 vụ 268; hợp đồng vay ngày 9/4/2020: 75.000.000đ (BL 33) trùng BL 51
vụ 268; hợp đồng vay ngày 30/12/2019: 90.000.000đ (BL 32) trùng BL 46 vụ
268; hợp đồng vay ngày 30/12/2019: 87.000.000đ (BL 31) trùng BL 41 vụ 268;
5
hợp đồng vay ngày 03/3/2020: 80.000.000đ (BL 30) trùng BL 48 vụ 268; hợp
đồng vay ngày 03/3/2020: 80.000.000đ (BL 29) trùng BL 47 vụ 268; hợp đồng
vay ngày 30/12/2019: 1.084.000.000đ (BL 34) trùng BL 52 vụ 268; hợp đồng
vay ngày 9/4/2020: 75.000.000đ (BL 44) trùng BL 33, 51 vụ 268;
hợp đồng vay
ngày 16/11/2019: 120.000.000đ (BL 40) trùng BL 74, 44 vụ 268.
Tất cả các khoản nợ đã được chốt lại, tính đến ngày 30/12/2019 là
1.084.000.000 đồng, tức là khoản nợ từ năm 2018 về trước bà R đã thanh toán
và đã chuyển nợ sang năm 2019 nhưng đến năm 2020 bà Q vẫn đưa một số
khoản nợ trước và trong năm 2019 để khởi kiện, thể hiện khoản tiền
450.000.000 đồng ngày 14/02/2020, mục đích là để lấp vào khoản tiền đặt cọc
trước đó (Bản tường trình của bà Q ngày 26/11/2020 (BL số 111) và Bản tường
trình ngày 22/01/2021 (BL 116) hồ sơ vụ án thụ lý số 269. Ngày 5/5/2019 và
ngày 13/02/2020, bà Q và mẹ con bà R lập 2 hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng
quyền sử dụng đất nhưng thực tế không có việc giao tiền, đến nay vẫn không có
việc giao tiền cọc nhưng bà Q vẫn khởi kiện đòi tiền đặt cọc. Vụ án này đã bị
Tòa phúc thẩm hủy để giải quyết lại ở cấp sơ thẩm. Do số tiền bà Q khởi kiện
trong các vụ án đang trùng lặp nhau chưa được làm rõ, tách bạch các vụ án,
khoản vay, trả, gốc, lãi. Hiện nay có vụ án đã bị hủy để giải quyết lại ở cấp sơ
thẩm. Vì vậy, để giải quyết triệt để toàn bộ các tranh chấp này, căn cứ khoản 3
Điều 308, 310 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án dân
sự sơ thẩm số 13/2021/DS-ST ngày 08/01/2021 của Tòa án nhân dân huyện X
và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại.
Nguyên đơn tranh luận: đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm, vì các khoản
vay nào cũng đều có hợp đồng vay, không có khoản vay nào trùng nhau như
tranh luận của Luật sư .
Ông Hiếu thống nhất với tranh luận của bà Q.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tiến hành tố tụng và người
tham gia tố tụng: trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét
xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong giai đoạn xét xử
phúc thẩm đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về tính có căn cứ và hợp pháp của kháng cáo: Tòa án nhân dân huyện X
tuyên Bản án số 13/2021/DS-ST ngày 08/01/2021. Ngày 27/01/2021, bị đơn –
bà Đào Thị R có đơn kháng cáo toàn bộ nội dung Bản án trên. Căn cứ khoản 1
Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì đơn kháng cáo còn trong hạn luật
định.
6
Về nội dung kháng cáo: Tại bản tường trình ngày 22/4/2021, bà Q trình
bày số tiền cho vay 1.084.000.000 đồng tại hợp đồng vay mượn tiền không cầm
cố tài sản ngày 30/12/2019 là chốt lại từ 18 hợp đồng vay mượn tiền không cầm
cố tài sản. Tuy nhiên, tổng số tiền của 18 Hợp đồng vay tiền là số tiền
1.087.000.000 đồng không phải 1.084.000.000 đồng và cùng ngày chốt nợ lại
cho bà R vay số tiền 80.000.000 đồng. Ngoài ra, Hợp đồng vay mượn tiền
không cầm cố tài sản ngày 16/11/2019, thể hiện bà Q cho bà R vay số tiền
120.000.000 đồng, có nội dung “mượn cho anh hai”. Nhận thấy, Tòa án cấp sơ
thẩm chưa làm rõ số tiền chênh lệch; lý do tại sao cùng ngày 30/12/2019 đã chốt
tổng số tiền vay là 1.084.000.000 đồng rồi lại cho vay thêm số tiền 80.000.000
đồng; chưa xác minh bà R mượn số tiền 120.000.000 đồng ngày 26/11/2019 cho
người nào để đưa vào tham gia tố tụng.
Xét, bị đơn không đồng ý thanh toán cho nguyên đơn số tiền
1.496.000.000 đồng vì tất cả số tiền ở 06 giấy nợ không phải là nợ gốc mà là
khoản tiền lãi của khoản vay 60.000.000 đồng năm 2017. Trong quá trình Tòa
án cấp sơ thẩm giải quyết vụ án, bị đơn đã nộp cho Tòa án các chứng cứ thể hiện
bị đơn có thanh toán tiền lãi cho nguyên đơn, tuy nhiên không được Tòa án cấp
sơ thẩm xem xét, cũng như chưa làm rõ số tiền 1.496.000.000 đồng là tiền vốn
gốc hay gồm cả tiền lãi, số tiền bà Q cho bà R vay thực tế là bao nhiêu. Mặt
khác, bà Q còn khởi kiện tranh chấp hợp đồng đặt cọc với ông Đặng Văn Vi, bà
Đào Thị R trong một vụ án khác. Vụ án đã được Tòa án nhân dân huyện X thụ
lý, giải quyết bằng bản án sơ thẩm số 219/2021/DS-ST ngày 28/5/2021. Tại bản
án phúc thẩm số 636/2021/DS-PT ngày 29/11/2021, Tòa án nhân dân Tp. Hồ
Chí Minh đã tuyên hủy bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện X để giải
quyết lại. Tại hai bản án này có nhận định nguyên đơn thừa nhận việc hai bên ký
hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất là để cấn trừ nợ với bị đơn.
Do cả hai vụ án có liên quan đến nhau nên cần nhập lại để giải quyết chung một
vụ án mới để đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
Từ những phân tích trên nhận thấy cấp sơ thẩm đã có thiếu sót trong việc
thu thập, đánh giá chứng cứ mà cấp phúc thẩm không thể khắc phục được. Để
đảm bảo quyền lợi của các đương sự, để đảm bảo hai cấp xét xử, căn cứ khoản 3
Điều 308 Bộ luật TTDS 2015, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Chấp nhận
kháng cáo của bị đơn; Hủy bản án dân sự sơ thẩm 13/2021/DS-ST ngày
08/01/2021 của Tòa án nhân dân huyện X, Thành phố Hồ Chí Minh và chuyển
hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện X giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ
thẩm.
7
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh
tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Về thời hạn kháng cáo: Ngày 08 tháng 1 năm 2021, Tòa án nhân dân
huyện X xét xử và tuyên án bản số 13/2021/DS-ST, bị đơn vắng mặt. Ngày
26/01/2021 bị đơn nhận bản án và ngày 27/01/2021 bị đơn kháng cáo. Căn cứ
khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự thì đơn kháng cáo của đương sự còn
trong hạn luật định nên được chấp nhận về mặt hình thức.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Luật sư và đại diện theo ủy quyền của bị
đơn có mặt tại phiên tòa ngày 14/12/2021 và có đơn xin xét xử vắng mặt tại
phiên tòa ngày 23/12/2021. Căn cứ khoản 2 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân
sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự nêu trên.
[3] Về nội dung:
[3.1] Tại đơn khởi kiện, bà Q kiện đòi bà R trả số tiền 1.496.000.000 đồng
theo 6 hợp đồng vay tiền không cầm cố tài sản, cụ thể: 03 hợp đồng vay cùng
ngày 30/12/2019 lần lượt với số tiền vay là 1.084.000.000 đồng, 90.000.000
đồng và 87.000.000 đồng; 02 hợp đồng vay cùng ngày 3/3/2020 với cùng khoản
tiền vay là 80.000.000 đồng; Và 01 hợp đồng vay ngày 9/4/2020 với số tiền là
75.000.000 đồng. Lãi suất của các khoản vay là 2%/tháng và cùng thời hạn vay
là 02 tháng.
Theo nguyên đơn, tổng số tiền cho vay theo 06 hợp đồng vay mượn nêu trên là
1.496.000.000 đồng, do bị đơn không trả nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị
đơn trả lại toàn bộ số nợ gốc này. Ngược lại, bị đơn không thừa nhận có nợ
nguyên đơn nợ gốc 1.496.000.000 đồng mà toàn bộ số tiền này là do nguyên
đơn tính lãi cộng dồn của khoản vay nợ gốc 60.000.000 đồng từ năm 2017, do
vậy không đồng ý theo đơn khởi kiện của nguyên đơn.
Tòa án cấp sơ thẩm chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của bà Q buộc bà R trả số tiền 1.496.000.000 đồng theo
6 hợp đồng vay (thể hiện tại các bút lục 46, 47, 48, 49, 50, 51).
Tại bản giải trình ngày 22/4/2021, bà Q trình bày: trong 6 hợp đồng vay mượn
thì khoản vay 1.084.000.000 đồng theo hợp đồng vay ngày 30/12/2019 là chốt
lại 18 khoản vay trước đó (18 hợp đồng vay này được thể hiện tại các bút lục từ
28 đến 45 có tại hồ sơ).
[3.2] Nhận thấy: Theo thừa nhận của bà Q thì khoản vay 1.084.000.000 đồng
theo hợp đồng vay ngày 30/12/2019 là chốt lại tất cả các khoản nợ trước đó mà
cụ thể là 18 hợp đồng vay. Tuy nhiên, trong 18 hợp đồng vay này lại có 1 hợp
đồng vay ghi ngày 30/12/2019 số tiền vay là 80.000.000 đồng và tổng số tiền
vay của 18 hợp đồng vay này là 1.087.000.000 đồng không phải 1.084.000.000
đồng như bà Q trình bày. Như vậy, nếu đến ngày 30/12/2019 đã chốt lại tất cả
các khoản vay trước đó thì cùng ngày 30/12/2019 lại có 1 hợp đồng vay
80.000.000 đồng và số tiền vay được chốt lại của 18 hợp đồng vay
8
(1.087.000.000 đồng) không khớp với số tiền 1.084.000.000 đồng theo trình bày
của bà Q.
[3.3] Cấp sơ thẩm chưa xem xét làm rõ các khoản vay thể hiện tại 18 hợp
đồng vay tiền này có phải đã được chốt lại thành khoản nợ 1.084.000.000 đồng
theo trình bày của bà Q hay không? Hay ngoài khoản nợ 1.084.000.000 đồng
theo hợp đồng vay ngày 30/12/2019 lại có thêm khoản nợ 1.087.000.000 đồng
của 18 hợp đồng vay? Vì nếu tính đúng thì số tiền của 18 hợp đồng vay là
1.087.000.000 đồng không phải 1.084.000.000 đồng như trình bày của bà Q.
Ngoài ra, tại 18 hợp đồng vay có những hợp đồng thể hiện nội dung: “lấy dùm
cho P vợ Đ” (khoản vay 90.000.000 đồng ngày 30/12/209); hay “ mượn cho anh
hai” (khoản vay 120.000.000 đồng ngày 26/11/2019) và “mượn trả tiền Đ”
(khoản vay 80.000.000 đồng ngày 3/3/2020) cũng chưa được cấp sơ thẩm điều
tra làm rõ; trong khi bị đơn không thừa nhận các khoản vay này.
[3.4] Về phía bị đơn không thừa nhận khoản nợ 1.496.000.000 đồng vì tất cả
số tiền ở 06 giấy nợ không phải là nợ gốc mà là khoản tiền lãi của khoản vay
60.000.000 đồng năm 2017. Khoản tiền 1.496.000.000 đồng mà bà Q kiện đòi là
do bà Q cộng dồn lãi, ép buộc bà ký vào các hợp đồng vay và tại phiên tòa phúc
thẩm có cung cấp nhiều chứng cứ tính lãi cho rằng do bà Q ghi trong khi bà Q
không thừa nhận chữ viết trên các tài liệu, chứng cứ này.
Nhận thấy, các tài liệu, chứng cứ do bà R xuất trình đã được nộp tại cấp sơ
thẩm (thể hiện tại các bút lục 57, 58, 59) cũng chưa được cấp sơ thẩm đối chất,
xem xét làm rõ có phải là khoản nhận lãi trước đó của bà Q hay không? cũng
như chưa làm rõ số tiền 1.496.000.000 đồng là tiền vốn gốc hay gồm cả tiền lãi,
số tiền bà Q cho bà R vay thực tế là bao nhiêu?.
[3.5] Và cũng theo trình bày của bà R, với khoản tiền 1.496.000.000 đồng,
bà Q cấn trừ nợ kêu bà ký Hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng đất và bà Q có khởi
kiện bà tại tòa sơ thẩm. Nhận thấy, cùng thời điểm bà Q kiện bà R đòi nợ thì bà
Q còn khởi kiện tranh chấp hợp đồng đặt cọc với ông Đặng Văn Vi, bà Đào Thị
R trong một vụ án khác, đã được Tòa án nhân dân huyện X thụ lý, giải quyết
bằng bản án sơ thẩm số 219/2021/DS-ST ngày 28/5/2021.
Tại bản án phúc thẩm số 636/2021/DS-PT ngày 29/11/2021, Tòa án nhân dân
Tp. Hồ Chí Minh đã tuyên hủy bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện X để
giải quyết lại. Tại hai bản án này có nhận định nguyên đơn thừa nhận việc hai
bên ký hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất là để cấn trừ nợ với
bị đơn; cấp sơ thẩm chưa xác minh làm rõ trong số tiền cấn trừ đặt cọc mua đất
của bà R có tiền bà R vay của bà Q hay không, có cộng dồn tiền lãi vào tiền gốc
như bà R trình bày hay không. Các giấy xác nhận, giấy nợ, các hợp đồng vay
mượn tiền chưa được Tòa án cấp sơ thẩm xác minh, đối chất làm rõ nên không
có căn cứ để xác định có vay nợ và cấn trừ số tiền vay nợ vào tiền đặt cọc hay
không?
9
[4] Như vậy, các hợp đồng vay mượn trong vụ án “Tranh chấp Hợp đồng
vay tài sản” và các giấy xác nhận, giấy nợ trong vụ án “Tranh chấp Hợp đồng
đặt cọc” giữa bà Q và bà R có những khoản tiền trùng nhau, liên quan nhau
nhưng chưa được cấp sơ thẩm xác minh làm rõ như đã nhận định nêu trên. Xuất
phát từ giao dịch vay mượn nợ rồi sau đó cấn trừ nợ vào hợp đồng đặt cọc
chuyển nhượng đất. Bản án phúc thẩm số 636/2021/DS-PT ngày 29/11/2021 của
TANDTPHCM nhận định hợp đồng đặt cọc là giả tạo. Do đó, cũng cần phải làm
rõ những người tham gia giao dịch mua bán đất , xác định có vay hay không,
cấn trừ nợ cho những khoản vay nào? Nhiều tài liệu, chứng cứ trong hai vụ án
có liên quan nhau nhưng chưa được cấp sơ thẩm điều tra làm rõ. Những thiếu
sót này, cấp phúc thẩm không thể khắc phục được.
[5] Từ những nhận định nêu trên, yêu cầu kháng cáo của bị đơn, đề nghị của
luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn đề nghị hủy án có căn cứ
nên được chấp nhận.
[6] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
phát biểu quan điểm chấp nhận kháng cáo của bị đơn, hủy bản án sơ thẩm. Xét,
đề nghị của Viện kiểm sát có căn cứ nên chấp nhận.
[7] Về án phí sơ thẩm: nghĩa vụ chịu án phí được xác định lại khi giải quyết
lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Án phí dân sự phúc thẩm: do Hội đồng phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm nên
người kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm, hoàn lại án phí tạm nộp cho
bị đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 308, khoản 3 Điều 148 của Bộ luật tố tụng Dân sự;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn bà Đào Thị R.
1. Hủy bản án sơ thẩm số 13/2021/DS-ST ngày 08 tháng 01 năm 2021 của
Tòa án nhân dân huyện X, Thành phố Hồ Chí Minh và chuyển hồ sơ vụ án cho
Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
2. Về án phí sơ thẩm: nghĩa vụ chịu án phí được xác định lại khi giải quyết
lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
3. Án phí dân sự phúc thẩm: Hoàn lại số tiền án phí phúc thẩm 300.000 đồng
cho bà Đào Thị R theo biên lai thu tiền số AA/2019/0085587 ngày 29/01/2021
của Chi cục thi hành án dân sự huyện X.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

10
Nơi nhận:
- TAND Tối Cao;
- TAND Cấp cao tại TP.HCM;
- VKSND TP.HCM;
- Cục thi hành án dân sự TPHCM;
- Chi cục THADS huyện X;
- TAND huyện X;
- Các đương sự;
- Lưu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Võ Thị Kim Thương
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 03/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 24/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 17/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 03/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 29/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 24/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 23/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 22/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 22/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 16/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 15/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 12/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 09/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 06/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 04/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm