Bản án số 72/2025/DS-ST ngày 24/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh về tranh chấp hợp đồng vận chuyển

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 72/2025/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 72/2025/DS-ST ngày 24/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh về tranh chấp hợp đồng vận chuyển
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vận chuyển
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh
Số hiệu: 72/2025/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 24/09/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: DS
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 72/2025/DS-ST Bản án số 72/2025/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 72/2025/DS-ST Bản án số 72/2025/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 – BẮC NINH
Bản án số: 72/2025/DS-ST
Ngày: 24/09/2025
V/v tranh chấp hợp đồng vận
cMển hàng hóa
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHNGA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - W pc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Hữu Huân
2. Ông Trương Thanh Cường
- Thư phiên tòa: Thị Thùy Linh Thư Tòa án nhân dân khu
vực 4 - Bắc Ninh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh tham gia phiên
toà: Ông Nguyễn Thanh Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 09 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh
xét xthẩm công khai vụ án thụ số: 186/2024/TLST-DS ngày 22 tháng 11
năm 2024 về: Tranh chấp hợp đồng vận tải, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử
số: 53/2025/QĐXXST- DS ngày 11 tháng 08 năm 2025; Quyết định hoãn phiên
tòa số: 13/2025/QĐST-DS ngày 11 tháng 09 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Tạ Hữu L, sinh năm 1990
Địa chỉ: thôn H, xã Q, tỉnh Quảng Ninh.
Ủy quyền cho ông Trần Văn D-Công ty Luật TNHH Quang M Cộng sự,
theo Hợp đồng ủy quyền số 319/HĐUQ-LQH ngày 02/11/2024; ông Nguyễn Văn
P- Luật sư Công ty Luật TNHH Quang M và Cộng sự.
Địa chỉ: Biệt thự E1, khu A10, khu đô thị A, thành phố Hà Nội ( đều vắng
mặt).
2. Bị đơn: Ông Đoàn Văn X, sinh năm 1974
Địa chỉ: thôn G, xã B, tỉnh Bắc Ninh (có mặt)
Người bảo vệ quyền, L ích hợp pháp cho ông Đoàn Văn X: Ông Phạm Văn
E, ông Đình Đ-Luật sư, Công ty Luật TNHH 1, đoàn Luật thành phố
Nội.
2
Địa chỉ: số 5 đường Z, phường Phú Diễn, thành phố Hà Nội (ông E có mặt,
ông Đ vắng mặt)
3. Người có quyền L, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Phạm Thị W, sinh năm 1988
Địa chỉ: thôn H, xã Q, tỉnh Quảng Ninh (vắng mặt).
- Chị Nguyễn Thị K1, sinh năm 1975
Địa chỉ: thôn G, xã B, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt)
NỘI K1 VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, lời khai tiếp theo, nguyên đơn anh Tạ Hữu L người
đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn trình bày: Giữa anh ông Đoàn Văn X
không có quan hệ bạn bè, họ hàng gì, chỉ là quan hệ hội. Qua bạn bè giới thiệu,
được biết ông Đoàn Văn X có xe ô tô tải cMên trở hàng hóa thuê, nên anh đã xin
số điện thoại liên lạc qua điện thoại với ông X, nội K1 anh thuê ông X trở
hàng hóa quả cau khô. Sau khi trao đổi, thống nhất nội K1, ngày 09/10/2024,
tại thôn Lâm Đồng, xã Văn Tố, Mện Tứ Kỳ, tỉnh Hải D, anh và ông Đoàn Văn X
đã gặp nhau Hợp đồng vận cMển hàng hóa. Nội K1 hai bên thỏa thuận: Anh
Đoàn Văn X chịu trách nhiệm về P tiện vận cMển hàng hóa cho anh 621 bao cau
khô, khối lượng 40kg/01 bao (trên thực tế thì chỉ có 620 bao), từ thôn Lâm Đồng,
xã Văn Tố, Mện Tứ Kỳ, tỉnh Hải D đến cảng Đình Vũ, phường Đông Hải 2, quận
Hải An, thành phố Hải Phòng (từ nơi bắt đầu vận cMển đến nơi giao hàng khoảng
50km). Thời hạn nhận giao hàng các bên không ghi trong hợp đồng, nhưng thỏa
thuận miệng là từ ngày 09/10/2024 (ngày ký hợp đồng) đến ngày 15/10/2024 (các
bên không thỏa thuận giờ), giá cước vận cMển 15.000.000 đồng. Trước khi
đóng các quả cau khô vào bao đưa lên xe ô tô, ông X mặt cùng với một số
công nhân bốc c kiểm tra. Anh ông X thỏa thuận trong thời gian vận cMển
đến khi anh nhận hàng tại cảng Đình Vũ cau không được hư hỏng, thiếu hụt, nếu
hư hỏng, thiếu hụt thì ông X phải đền bù toàn bộ số hàng bị thiếu hụt, bị hư hỏng
theo giá thị trường tại nơi giao hàng, tại thời điểm đó 350.000 đồng/01kg. Ngoài
việc giao nhận hàng giữa anh ông X không quan, tổ chức, nhận nào
kiểm tra, kiểm định về chất lượng hàng hóa trước khi cau được đóng bao cMn
lên ô tô. Ngày 15/10/2024, ông X đã trở 620 bao cau khô tới cảng Đình Vũ, công
nhân xuống hàng báo cho anh qua điện thoại là toàn bộ 620 bao cau khô đã bị
mốc, lúc này anh đang ở xã Văn Tố, Mện Tứ Kỳ, tỉnh Hải D. Sau khi nhận được
thông tin, anh đã gọi điện thoại cho ông X yêu cầu trở toàn bộ số cau trên đến nơi
nhận hàng ban đầu để xử lý. Đêm ngày 15/10/2024 ông X trở hàng về đến nơi,
3
anh ông X ng nhau kiểm tra hàng ngay. Hai bên thỏa thuận sau khi xử
xong, thiệt hại bao nhiêu thì ông X bồi thường cần đó. Thống nhất P án xử số
hàng bị mốc bằng rửa cồn, anh đã mua cồn, thuê khoảng 20 người rửa (không lau),
rồi đưa vào xưởng quạt cho cau khô. Thời gian rửa toàn bộ số cau trên mất 03
ngày. Sau khi xử lý, số quả cau khô bị hỏng 100 bao (04 tấn). Từ khi nhận
lại hàng cho đến khi xử lý xong số cau trên, anh và ông X không mời cơ quan, tổ
chức, nhân nào đến để xem t, kiểm định kết luận, anh chỉ mời ông X xuống
để tìm P án giải quyết vụ việc. Khi hai bên gặp nhau, ông X đã xác định 100 bao
cau khô bị hư hỏng là do lỗi của ông, ông X đồng ý bồi thường. Do lúc đó ông X
không tiền nên xin trả anh từ 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) đến
200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng), nhưng anh không đồng ý. Nay anh u
cầu ông X phải trả anh 4.000kg quả cau khô trên theo giá thị trường 350.000.000
đồng/01kg bằng 1.400.000.000 đồng tiền mua cồn, tiền thuê nhân công
70.000.000 đồng (bẩy mươi triệu đồng). Khi anh ông Đoàn n X Hợp đồng
vận cMển hàng hóa ngày 09/10/2024, anh ông X hoàn toàn tỉnh táo, minh mẫn,
không ái ép buộc. Giao dịch giữa anh với ông Đoàn Văn X không liên quan đến
người thứ ba, vợ anhchị Phạm Thị W cũng không có liên quan gì.
Tại biên bản lấy lời khai, lời khai tiếp theo tại phiên tòa, bị đơn ông Đoàn
Văn X trình bày: Giữa ông anh Tạ Hữu L chỗ quen biết nhiều năm, ông đã
nhiều lần vận cMển hàng hóa cho anh Tạ Hữu L. Khoảng 10 giờ sáng ngày
06/10/2024, anh THữu L gọi điện thoại cho ông với nội K1 nhờ ông xuống trở
quả cau khô từ Văn Tố, Mện Tứ Kỳ, tỉnh Hải D xuống cảng Đình Vũ, thành
phố Hải Phòng, ông nhận lời. 19 giờ cùng ngày (06/10/2024), ông đánh xe ô
tải, biển kiểm sát 98C-14920 mặt tại địa bàn Văn Tố. Đến 19 giờ 30 phút t
khoảng 05 người do phía anh L thuê bốc hàng lên xe ô . Những người bốc
hàng này ông không biết tên, tuổi, địa chỉ đâu, nếu cho nhận dạng, ông vẫn sẽ
nhận được, những người này trước đây cũng đã từng bốc hàng lên xe ô của
ông tại đó. Khi mọi người bốc hàng lên xe ô thì toàn bộ số hàng a đã được
đóng bao, khâu chỉ bằng máy, nên ông không được xem kiểm tra hàng. Lý do ông
biết bên trong bao là quả cau khô do anh L nói với ông nên ông mới biết. Giá
bao nhiêu tiền 01kg ông không biết, vì ông chỉ biết nhận trở hàng thuê cho anh L.
Sau khi cau khô được bốc lên xe ô , khoảng 23 giờ (ngày 06/10/2024),
ông đánh xe ô tô ra đỗ tại cây xăng dầu cách chỗ bốc hàng khoảng 02 cây số, đợi
anh L gom hàng tại các nơi khác về để đưa lên xe. Khoảng 09 giờ 30 phút sáng
ngày 07/10/2024, tại cây xăng anh L lại cho người bốc thêm một số bao cau khô
lên xe ô tô. Đến 19 giơ 30 phút ngày 09/10/2024, anh L gọi điện cho ông vào
4
xưởng cau của anh L, cách nơi ông đỗ xe ô tô khoảng 02 cây số để bốc hàng lên
xe, vẫn là quả cau khô. Khoảng 19 giờ 35 phút cùng ngày (09/10/2024), ông đánh
xe ô vào đến xưởng. Tại đây, anh L cho người bốc thêm một số bao quả cau
khô lên xe ô tô. Tổng số bao quả cau khô anh L cho người bốc lên xe ô tô của ông
620 bao. Những người bốc vác tại cây xăng và tại xưởng nhà anh L, vẫn là
những người bốc hàng ngày 06/09/2024. Sau khi bốc hàng xong, anh L cho kẹp
trì xe ô (niêm phong) bảo ông đánh xe ô ra cây xăng dầu đỗ xe trước đó
để đợi tàu trở hàng của anh L cập cảng Đình Vũ, Hải Phòng thì mới trở hàng
xuống. Từ chỗ ông đỗ xe đến cảng Đình khoảng 50km. Cả 03 lần nhận hàng
lên xe, ông đều không được kiểm tra hàng, ông yêu cầu được kiểm tra nhưng
anh L bảo hàng đã đóng bao và kẹp trì nên không cho kiểm tra.
Đến 11 giờ 30 phút trưa ngày 14/10/2024, anh Tạ Hữu L gọi điện thoại cho
ông bảo14 giờ chiều cùng ngày phải trở hàng có mặt tại cảng Đình Vũ, thành phố
Hải Phòng. Đúng 14 giờ chiều ngày 14/10/2024, ông đã trở toàn b620 bao quả
cau khô đến cảng Đình Vũ. Lúc ông đến nơi, anh L không có mặt ở đó, chỉcác
công nhân tại cảng (ông không quen biết) cắt trì (bóc niêm phong), bốc hàng xuống
“Côngtener” để cMển lên tàu. Trong khi công nhân bốc hàng phát hiện ra cau đã
bị mốc gọi điện báo cho anh L, anh L gọi điện cho ông yêu cầu đánh xe ô trở
toàn bộ số quả cau khô (620 bao) về xưởng của anh L tại xã Văn Tố. Sau khi anh
L gọi điện thoại cho ông, 15 giờ 30 phút cùng ngày (14/10/2024), ông đã đánh xe
ô trở số hàng trên về đến cây xăng dầu i bốc hàng ban đầu, do không người
bốc hàng nên ông phải đỗ ô tô ở đó đến khoảng 20 giờ ngày 14/10/2024 thì anh L
mới gọi được người xuống hàng bảo ông đánh xe vào xưởng. Khi mọi người
xuống hàng được 300 bao tdừng lại. Lúc này anh L bảo ông mang căn cước
công dân và toàn bộ giấy tờ xe ô của ông để anh L viết hợp đồng. Sau khi đưa
căn cước công dân toàn bộ giấy t xe cho anh L, anh L bảo ông đánh xe ô
cùng số hàng còn lại ra cây xăng dầu trước đó để 05 giờ sáng ngày 15/10/2024
đánh xe vào xưởng của anh L để xuống nốt số hàng còn lại. Sau khi bốc hàng
xuống xong, ông anh L đã lập Hợp đồng do anh L soạn thảo sẵn bảo ông ký.
Hợp đồng không ghi ngày tháng năm, ngày tháng năm là do anh L sau này tự ghi.
Ông đã được thông qua toàn bộ nội K1 của hợp đồng, chữ trong hợp đồng đề
ngày 09/10/2024 đúng chký của ông. Tuy nhiên phần nội K1 luôn chạy nhiệt
độ -3- 4 độ” là không có, sau này do anh L tự ghi. Khi ký hợp đồng ông và anh L
hoàn toàn minh mẫn, tỉnh táo, không ai ép buộc ai, anh L chỉ bảo ông ký xong
anh L trả lại ông n cước công dân giấy tờ xe. Nhưng sau khi hợp đồng anh
5
L không trả, đến khi ông báo Công an xã Văn Tố và nhờ văn phòng Luật , anh
L mới trả ông.
Ông và anh Tạ Hữu L thỏa thuận giá cước vận cMển 620 bao quả cau khô
từ xã Tố đến cảng Đình 15.000.000 đồng. Trong thời gian từ khi nhận
số hàng ban đầu đến khi nhận xong hàng và trả hàng cho anh L (từ ngày
06/09/2024 đến ngày 15/09/2024) xe ô của ông vẫn luôn nổ máy chạy chế
độ làm lạnh, giao động từ 0 độ đến âm 10 độ. Xe ô tô của ông là xe đầu kéo công
tenner 30 tấn, cMên trở hàng đông lạnh.
Do ông bị anh Tạ Hữu L lừa giữ lại giấy tờ tùy thân cùng toàn bộ giấy tờ xe
ô tô khiến ông không thể chạy xe hay nhận các hợp đồng vận cMển hàng hóa, nên
mất một khoản thu nhập rất lớn. Vì vậy, ông có yêu cầu phản tố buộc anh Tạ Hữu
L phải bồi thường thu nhập cho ông trong khoảng thời gian anh L giữ giấy tờ tùy
thân và giấy tờ xe ô trong thời gian 02 tháng 09 ngày (từ ngày 15/10/2024 đến
24/12/2024) với tổng số tiền (282.000.000 đồng/01 tháng) 564.000.000 đồng
(năm trăm sáu mươi bốn triệu đồng).
Ông vận cMển hàng cho anh Tạ Hữu L bằng xe ô tô của nhân ông, ông
không đăng ký kinh doanh không lái xe thuê cho cá nhân, tổ chức hay tập thể
nào. Giao dịch giữa ông với anh L giao dịch riêng của ông với anh Tạ Hữu L,
không liên quan đến người thứ ba, vợ ông chị Nguyễn Thị K1 không liên
quan gì.
Tại bản tự khai, người có quyền L, nghĩa vụ liên quan chị Phạm Thị W hoàn
toàn nhất với nội K1 đơn khởi kiện và ý kiến của chồng chị là anh Tạ Hữu L.
Tại bản tự khai, người quyền L, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị K1
hoàn toàn nhất với ý kiến của chồng bà là ông Đoàn Văn X.
Đại din Vin kim sát phát biu ý kiến:
- V t tng: T khi thv án cho đến khi có quyết định đưa v án ra xét
x, Thm phán tiến hành t tụng đúng quy đnh ca B lut t tng dân s. Ti
phiên tòa, Hội đồng xét x, Thm phán- Ch tọa phiên tòa, Thư phiên tòa đã
tuân th đúng quy định ca B lut t tng dân s. Các đương s chp hành đầy
đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định ca pháp lut.
- V ni K1: Đề ngh Hi đồng xét x, không chp nhn toàn b yêu cu khi
kin của nguyên đơn; đình chỉ yêu cu phn t ca b đơn. Nguyên đơn phải chu
án phí theo quy định ca pháp lut; hoàn tr tiên tm ng án phí cho b đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
6
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và được thẩm
tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Hội đồng xét xử xác
định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án tranh chấp hợp đồng vận cMển
hàng hóa, gọi E tranh chấp hợp đồng dân sự quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ
luật tố tụng dân sự; bị đơn trú tại B, tỉnh Bắc Ninh. Căn cứ Điều 35, Điều
39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân
khu vực 4 – Bắc Ninh.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự. Tại phiên
tòa, đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn đơn xin xét x vắng mặt; người
bảo vệ quyền L ích hợp pháp cho bị đơn ông Đình Đ, người quyền L,
nghĩa vụ liên quan vắng mặt lần thứ hai không lý do. Căn cứ Điều 227, Điều
228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xử vụ án.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Ngày 09/10/2024, anh Tạ Hữu L ông Đoàn Văn X đã hợp đồng vận
cMển hàng hóa với nội K1 ông Đoàn Văn X dùng xe ôtải loại công tenner 30
tấn của mình trở 620 bao quả cau khô với khối lượng 40kg/bao từ thôn Lâm Đồng,
xã Văn Tố, Mện Tứ Kỳ, tỉnh Hải D đến cảng Đình Vũ, phường Đông Hải 2, quận
Hải An, thành phố Hải Phòng, giá cước vận cMển là 15.000.000 đồng. Sau khi
ông X trở 620 bao quả cau khô đến địa điểm giao hàng, công nhân do anh L thuê
đến bốc dỡ hàng hóa lên tầu thì phát hiện 100 bao quả cau khô (tương đương
4000kg) đã bị mốc, hỏng. Anh L cho rằng toàn bộ số cau khô bị hoảng
do lỗi của lái xe, nên yêu cầu ông Đoàn Văn X phải bồi thường cho anh toàn bộ
số quả cau khô bị hỏng với giá 350.000 đồng/01kg x 4000kg= 1.400.000.000
đồng (Một tỷ bốn trăm triệu đồng). Ngoài ra, anh L còn yêu cầu ông X phải hoàn
trả anh 70.000.000 đồng (Bẩy mươi triệu đồng) tiền anh mua cồn, thuê nhân công
để khắc phục hậu quả. Trước khi mở phiên tòa, nguyên đơn đơn xin rút một
phần yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu bị đơn bồi thường giá trị ng hóa bị hỏng
là 700.000.000 đồng và tiền chi phí thuê nhân công, mua nguyên vật liệu để khắc
phục thiệt hại 70.000.000 đồng. Tổng số tiến nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải
bồi thường là 770.000.000 đồng (Bẩy trăm bẩy mươi triệu đồng).
Hội đồng t xử thấy: Khi hợp đồng vận cMển hàng hóa ngày 09/10/2024,
anh Tạ Hữu L, ông Đoàn Văn X đều hoàn toàn tự nguyện, minh mẫn, nội K1
hình thức hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức
xã hội. Tại Điều 3 của hợp đồng có ghi: “Hàng hóa thiếu hụt hay hư hỏng do nhà
xe gây ra trong quá trình vận cMển phải đền theo giá thị trường tại nơi giao
hàng”. Quá trình tố tụng, ngoài bản phô, không công chứng chứng thực Hợp đồng
7
vận cMển hàng hóa ngày 09/10/2024, nguyên đơn không cung cấp được tài liệu,
chứng cứ chứng minh lỗi của bị đơn và nguyên nhân dẫn đến 100 bao quả cau khô
bị hư hỏng, n: Ngay khi xẩy ra sự việc các bên không lập biên bản, không mời
cơ quan cMên môn đến để đánh giá, xác định thiệt hại, nguyên nhân dẫn đến thiệt
hại; nội K1 trong hợp đồng (bản phô tô) không ghi quyền và nghĩa vụ của các
bên…Do đó yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không có căn cứ để chấp nhận.
vậy, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Tạ Hữu L, vviệc buộc ông Đoàn
Văn X phải bồi thường 770.000.000 đồng, theo Hợp đồng vận cMển hàng hóa là
quả cau khô ngày 09/10/2024.
[3] Xét yêu cầu phản tố của bị đơn: Quá trình tố tụng, ông Đoàn Văn X
đơn phản tố yêu cầu anh Tạ Hữu L phải bồi thường cho ông số tiền 564.000.000
đồng trong thời gian anh L giữ giấy tờ xe ô giấy tờ tùy thân của ông 02
tháng 09 ngày, khiến ông không thể được các hợp đồng vận cMển hàng hóa
nên bị mất thu nhập. Tại phiên tòa, ông Đoàn Văn X xin rút toàn bộ yêu cầu phản
tố. Ông X rút yêu cầu phản tố hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật
không trái đạo đức hội, nên được chấp nhận. Vì vậy, cần đình chỉ yêu cầu phản
tố của ông Đoàn Văn X về việc yêu cầu anh Tạ Văn L phải bồi thường 564.000.000
đồng, tiền bị mất thu nhập trong thời gian 02 tháng 09 ngày do bị anh L giữ giấy
tờ xe ô tô và giấy tờ tùy thân.
[4] Về án phí: n cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân
sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của
Ủy ban thường vụ Quốc hội, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Tạ Hữu L
không được chấp nhận nên anh Tạ Hữu L phải chịu 34.800.000 đồng tiền án phí
dân sự sơ thẩm. Trừ đi số tiền 28.050.000 đồng tạm ứng án phí anh L đã nộp theo
Biên lai thu tạm ứng án phí, lphí Tòa án số: 0004423 ngày 22/11/2024, tại Chi
cục thi hành án dân sự Mện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang (nay là Thi hành án dân sự
tỉnh Bắc Ninh), anh Tạ Hữu L còn phải chịu 6.750.000 đồng án phí dân sự
thẩm. Do ông Đoàn Văn X rút yêu cầu phản tố được chấp nhận, nên hoàn trả
lại ông Đoàn Văn X 13.280.000 đồng tiền tạm ứng án phí ông Đoàn đã nộp theo
Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lphí Tòa án số: 0004628 ngày 25/04/2025, tại
Chi cục thi hành án dân sự Mn Lục Nam, tỉnh Bắc Giang (nay Thi hành án dân
sự tỉnh Bắc Ninh.
[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy
định tại Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 351, Điều 356, Điều 541 của Bộ luật dân sự; Điều 26, Điều
35, Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 244, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân
8
sự; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ
ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Tạ Hữu L về việc
yêu cầu ông Đoàn Văn X phải bồi thường thiệt hại về hàng hóaquả cau khô với
tổng số tiền 770.000.000 đồng (Bẩy trăm bẩy mươi bẩy triệu đồng), theo Hợp
đồng vận cMển hàng hóa ngày 09/10/2024.
2. Đình chỉ yêu cầu phản tố của bị đơn ông Đoàn Văn X về việc yêu cầu anh
Tạ Hữu L phải bồi thường 564.000.000 đồng tiền bị mất thu nhập trong thời gian
02 tháng 09 ngày do bị anh Tạ Hữu L giữ Căn cước công dân và giấy tờ xe ô tô.
3. Về án phí: Anh Tạ Hữu L phải chịu 34.800.000 đồng tiền án phí dân sự
thẩm, trừ đi số tiền 28.050.000 đồng tạm ứng án phí anh L đã nộp theo Biên lai
thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0004423 ngày 22/11/2024, tại Chi cục thi
hành án dân sự Mện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang (nay Thi hành án dân sự tỉnh Bắc
Ninh), anh Tạ Hữu L còn phải chịu 6.750.000 đồng (Sáu triệu bẩy trăm m mươi
nghìn đồng) án phí dân sự thẩm. Hoàn trả ông Đoàn Văn X 13.280.000 đồng
tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ pTòa án số: 0004628
ngày 25/04/2025, ông X đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự Mện Lục Nam, tỉnh
Bắc Giang (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh).
4. Về quyền kháng cáo: Báo cho đương sự mặt biết, được quyền kháng
cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ
ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
- Đương sự;
- VKSND khu vực 4- Bắc Ninh;
- VKSND tỉnh Bắc Ninh;
- Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Văn Huân
9
10
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 72/2025/DS-ST Bản án số 72/2025/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 72/2025/DS-ST Bản án số 72/2025/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất