Bản án số 71/2026/DS-ST ngày 21/07/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 71/2026/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 71/2026/DS-ST ngày 21/07/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 7 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 71/2026/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 21/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn có nghĩa vụ mở lối đi qua một phần thửa đất của bị đơn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 71/2026/DS-ST Bản án số 71/2026/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 71/2026/DS-ST Bản án số 71/2026/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHU VỰC 7 – VĨNH LONG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 71/2026/DS-ST
Ngày: 21-7-2026
V/v tranh chấp quyền về lối đi qua
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Giang
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Văn Cảnh
Ông Trương Văn Phúc
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Đình Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân khu
vực 7 - Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long tham gia phiên
tòa: Bà Võ Thị Minh Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 – Vĩnh
Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 176/2025/TLST-DS ngày 22 tháng
4 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền về lối đi qua” theo Quyết định đưa vụ án
ra xét xử số: 144/2026/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 5 năm 2026; Quyết định hoãn
phiên tòa số 122/2026/QĐST-DS ngày 22 tháng 6 năm 2026, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Lê Út G, sinh năm 1984
Địa chỉ: Ấp D, xã G, tỉnh Vĩnh Long
Người đại diện theo ủy quyền của ông G là ông Lê Thanh V, sinh năm 1983.
Địa chỉ: Ấp D, xã G, tỉnh Vĩnh Long theo văn bản ủy quyền ngày 16/6/2025.
Bị đơn: Bà Trần Thị Kim L, sinh năm 1973
Địa chỉ: Ấp D, xã G, tỉnh Vĩnh Long
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1965
- Ông Hồ Văn P, sinh năm 1973
- Bà Hồ Kim L1, sinh năm 1996
- Ông Hồ Hữu L2, sinh năm 2003
Cùng địa chỉ: Ấp D, xã G, tỉnh Vĩnh Long
2
- Ông Lê Văn K, sinh năm 1950
- Bà Lê Thị Hồng N, sinh năm 1985
Cùng địa chỉ: Ấp D, xã G, tỉnh Vĩnh Long
Ông V có mặt. Ông K, bà N có đơn yêu cầu vắng mặt.
Bà L, ông S, ông P, bà L2, ông L1 vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện sửa đổi, bổ sung, bản tự khai, trong quá
trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa nười đại diện theo ủy quyền của
nguyên đơn ông Lê Út G là ông Lê Thanh V trình bày:
Ông G là chủ sử dụng thửa đất số 35, tờ bản đồ số 10, diện tích 6.615,5m
2
,
tọa lạc tại xã B, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là xã G, tỉnh Vĩnh Long). Nguồn gốc
đất của ông Lê Văn K tặng cho ông G vào năm 2023. Năm 2010, khi ông S còn
đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 272, được sự đồng ý của ông
S, gia đình ông G đã làm đường đi ra lộ công cộng qua một phần đất của ông S.
Gia đình ông G đã sử dụng lối đi này đến nay đã hơn 10 năm, không có ai ngăn
cản hay tranh chấp gì.
Năm 2022, ông S chuyển nhượng thửa đất số 272 cho em ông S là bà Trần
Thị Kim L. Ngày 23/4/2023, do phát sinh trong việc tranh chấp đất nên ông S tự ý
rào lối đi. Ông S đã chửi bới, xúc phạm đến uy tín và danh dự của gia đình ông G.
Ngày 05/6/2024, ông S dùng hung khí đánh cha ông G là ông K gây thương tích.
Từ đó đến nay, bà L không cho gia đình ông G sử dụng lối đi qua đất của bà để đi
ra đường công cộng nên ông G phải đi bằng đường thủy. Các chủ đất giáp ranh
không đồng ý cho gia đình ông G mở lối đi qua đất của họ. Ngoài lối đi này, hiện
nay gia đình ông G không còn lối đi nào khác để ra đường công cộng.
Nay ông G yêu cầu bà L có nghĩa mở cho gia đình ông một lối đi ra đường
công cộng có diện tích theo đo đạc thực tế là 31,9m
2
, thuộc thửa đất số 272-1, tờ
bản đồ số 91, tọa lạc tại xã G, tỉnh Vĩnh Long. Ông G đồng ý hoàn trả giá trị đất
cho bà L theo giá Hội đồng định giá đã định.
Ông G đồng ý với kết quả đo đạc, định giá, biên bản xem xét thẩm định tại
chỗ để làm căn cứ cho việc giải quyết vụ án không yêu cầu đo đạc, định giá lại.
Bị đơn bà Trần Thị Kim L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông
Nguyễn Văn S, ông Hồ Văn P, bà Hồ Kim L1, ông Hồ Hữu L2 đã được Tòa án
tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng mời đến tòa tham dự phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ
án nhưng các ông bà vắng mặt không có lý do nên không có lời khai cũng như
không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Kiểm sát viên Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
3
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư
ký: Thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Việc chấp hành pháp
luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ
theo quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn và người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 70, 72, 73 của
Bộ luật Tố tụng Dân sự.
- Về nội dung: Căn cứ vào Điều 254 của Bộ luật Dân sự; Điều 29 của Luật
đất đai năm 2024; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận một phần
yêu cầu khởi kiện của ông Lê Út G về việc tranh chấp quyền về lối đi qua với bà
Trần Thị Kim L.
Buộc bà Trần Thị Kim L mở lối đi tại vị trí 272-3, diện tích 20,9m
2
, thuộc
thửa đất số 272, tờ bản đố số 11 (tờ mới 91), tọa lạc tại xã G, tỉnh Vĩnh Long
(trước đây là xã B, huyện G, tỉnh Bến Tre) do bà Trần Thị Kim L đứng tên Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất.
Buộc ông Lê Út Giàu C nghĩa vụ hoàn trả cho bà Trần Thị Kim L giá trị
quyền sử dụng đất với số tiền là 8.360.000 đồng.
Chi phí tố tụng: Ông G tự nguyện chịu.
Án phí: Bà L phải chịu án phí không có giá ngạch với số tiền là 300.000
đồng. Ông G phải chịu án phí có gia ngạch với số tiền là 418.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm
tra tại phiên tòa; ý kiến của đương sự và Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát, Hội
đồng xét xử nhận định:
[1] Ông Lê Út G yêu cầu mở lối đi qua một phần thửa đất số 272, tờ bản đồ
số 91 (tờ 11 cũ), tọa lạc tại xã B, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là xã G, tỉnh Vĩnh
Long) do bà Trần Thị Kim L đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Căn
cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39
của Bộ luật Tố tụng Dân sự, đây là vụ án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của
Tòa án nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long. Bị đơn bà L và người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan ông S, ông P, bà L1, ông L2 đã được triệu tập hơp lệ nhưng vắng mặt
nên Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt những người nêu trên là phù hợp với
quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[2] Ông S, ông P, bà L1, ông L2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng
mặt tại tòa không có lý do thì xem như đã tự tước bỏ quyền được chứng minh,
trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và phải chịu
4
hậu quả pháp lý của việc vắng mặt đó. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận lời khai
và tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp cũng như tài liệu, chứng cứ Tòa án
đã thu thập được để làm căn cứ cho việc giải quyết vụ án là phù hợp.
[3] Phần đất ông G yêu cầu mở lối đi có diện tích theo đo đạc thực tế là
31,9m
2
, thuộc thửa đất số 272-1, tờ bản đồ số 91, tọa lạc tại xã G, tỉnh Vĩnh Long.
Đất do bà L đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo ông G trình bày,
gia đình ông đã sử dụng lối đi này từ năm 2010 đến khi phát sinh tranh chấp. Năm
2023, do phát sinh mâu thuẫn trong việc tranh chấp đất, ông S đã có lời lẽ chửi
bới, xúc phạm, dùng hung khí hành hung người thân trong gia đình ông G và
không cho gia đình ông G đi qua đất của bà L để ra đường công cộng nên phát
sinh tranh chấp. Đây là lối đi thuận tiện nhất, ngoài lối đi này, gia đình ông G
không còn lối đi nào khác để đi ra đường công cộng.
[4] Xét yêu cầu mở lối đi của ông G thấy rằng: Ông G là chủ sử dụng đất và
căn nhà gắn liền với đất thuộc thửa số 35, diện tích 6.615,5m
2
, tọa lạc tại xã G,
tỉnh Vĩnh Long (trước đây là xã B, huyện G, tỉnh Bến Tre). Phần đất của ông G bị
vây bọc bởi các thửa đất liền kề số 12, 272, 273, 41, 168, 169, 34 và rạch không có
lối đi ra đường công cộng. Ông G sử dụng lối đi qua liền kề với thửa đất số 272
của bà L để đi ra đường công cộng. Tại Biên bản hòa giải ngày 02/4/2025 của Ủy
ban nhân dân xã B, ông S, bà L có ý kiến đã rào đường, không đồng ý mở lối đi
theo hiện trạng cũ cho ông G. Ngoài lối đi qua đất bà L thì ông G không còn lối đi
nào khác. Các chủ đất liền kề khác không đồng ý cho ông G mở lối đi qua phần
đất của họ. Tại khoản 1 Điều 254 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định “Chủ sở
hữu có bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ sở hữu khác mà
không có hoặc không đủ lối đi ra đường công cộng, có quyền yêu cầu chủ sở hữu
bất động sản vây bọc dành cho mình một lối đi hợp lý trên phần đất của họ. Lối đi
được mở trên bất động sản liền kề nào mà được coi là thuận tiện và hợp lý nhất, có
tính đến đặc điểm cụ thể của địa điểm, lợi ích của bất động sản bị vây bọc và thiệt
hại gây ra là ít nhất cho bất động sản có mở lối đi”. Theo quy định trên, ông G
không có lối đi ra đường công cộng và không còn lối đi nào khác nên ông yêu cầu
được mở lối đi là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
[5] Lối đi ông G yêu cầu được mở có diện tích theo đo đạc thực tế là 31,9m
2
,
thuộc thửa đất số 272-1, trên đất có 01 cây dừa của bà L. Xét thấy, lối đi ông G yêu
cầu được mở qua thửa đất số 272 của bà L tại điểm số 3 – 4 giáp đất ông G dài
4,21m và điểm số 1 – 2 giáp lộ dài 3,27m là không phù hợp. Bởi lẻ, người đại diện
theo ủy quyền của ông G trình bày, phương tiện gia đình ông G sử dụng để đi vào
nhà, đất là xe máy. Từ lối đi trên đất của bà L giáp với đất của ông G thì ông G đã
5
đỗ đan làm đường đi vào nhà trên phần đất của ông có chiều rộng mặt đường
khoảng 01 mét. Như vậy, việc ông G yêu cầu mở lối đi rộng 4,21m là lớn hơn rất
nhiều so với hiện trạng lối đi có trên phần đất của ông G nên không được Hội đồng
xét xử chấp nhận. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu mở lối đi qua
cho ông G tại thửa đất số 272, có diện tích theo đo đạc thực tế là 20,9m
2
, thuộc thửa
đất số 272-3, tại điểm số 3 – 4 giáp đất ông G dài 2,85m, tại điểm số 1 – 2 giáp
đường dài là 2,44m là phù hợp nhất, thuận tiện nhất cho việc đi lại, vận chuyển hàng
hóa của ông G và không gây thiệt hại về tài sản cho đất của bà L.
[6] Theo biên bản định giá tài sản và biên bản xem xét thẩm định tại chỗ,
phần đất thửa 272-3 (20,9m
2
), có giá trị là 20,9m
2
x 400.000 đồng/m
2
= 8.360.000
đồng (giá trên bao gồm hoa màu trên đất). Xét thấy, việc mở lối đi đã làm thiệt hại
đến quyền sử dụng đất của bà L. Tại phiên tòa, ông G đồng ý hoàn trả giá trị đất
cho bà L. Đây là sự tự nguyện của ông G phù hợp với quy định của pháp luật nên
được Hội đồng xét xử chấp nhận. Buộc ông Giàu có nghĩa vụ hoàn trả giá trị đất
cho bà L số tiền là 8.360.000 đồng.
Như phân tích nêu trên thì yêu cầu khởi kiện của ông G là có căn cứ nên
được chấp nhận một phần.
[7] Về chi phí tố tụng: Chi phí thu thập chứng cứ tổng cộng là 3.638.960đ
(Ba triệu sáu trăm ba mươi tám nghìn chín trăm sáu mươi đồng). Ông G tự nguyện
chịu số tiền nêu trên nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[8] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu khởi kiện của ông G được chấp nhận một phần nên bà L phải
chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch với số tiền là 300.000 đồng. Ông G
phải chịu án phí sơ thẩm có giá ngạch đối với số tiền phải trả cho bà L là
8.360.000 đồng x 5% = 418.000 đồng.
[9] Ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 –
Vĩnh Long phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39;
Các Điều 147, 157, 165, 227, 228, 271, 273, 278 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm
2015; Điều 254 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Các Điều 29, 133 của Luật đất đai
năm 2024; Điều 26 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản
lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
6
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lê Út G về việc tranh
chấp quyền về lối đi qua với bà Trần Thị Kim L.
Buộc bà Trần Thị Kim L có nghĩa vụ mở cho ông Lê Út G một lối đi ra
đường công cộng có diện tích theo đo đạc thực tế là 20,9m
2
, thuộc thửa đất số 272-
3, tờ bản đồ số 91 (tờ 11 cũ), tọa lạc tại xã G, tỉnh Vĩnh Long (trước đây là xã B,
huyện G, tỉnh Bến Tre) do bà Trần Thị Kim L đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất.
(Có phiếu đo đạc hiện trạng thửa đất kèm theo)
Ông Lê Út G được quyền cải tạo, nâng cấp, đổ đá, đổ đan trên phần đất
được mở lối đi để thuận tiện cho việc đi lại.
Buộc bà Trần Thị Kim L sử dụng hạn chế diện tích đất mà ông Lê Út G sử
dụng làm lối đi và được quyền đăng ký biến động hạn chế quyền đối với thửa đất
số 272-3 theo quy định tại Điều 29 và Điều 133 của Luật đất đai.
Buộc ông Lê Út G có nghĩa vụ hoàn trả giá trị đất cho bà Trần Thị Kim L số
tiền là 8.360.000đ (Tám triệu ba trăm sáu mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan
thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn
yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả
cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án
còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy
định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật
có quy định khác.
2. Về chi phí tố tụng: Ông Lê Út G phải chịu chi phí thu thập chứng cứ với
số tiền là 3.638.960đ (Ba triệu sáu trăm ba mươi tám nghìn chín trăm sáu mươi
đồng) và đã nộp xong.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Trần Thị Kim L phải chịu án phí số tiền là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).
Ông Lê Út G phải chịu án phí số tiền là 418.000đ (Bốn trăm mười tám
nghìn đồng) nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng an phí đã nộp tổng cộng là
600.000đ (Sáu trăm nghìn đồng) theo các biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án
số 0010603 ngày 18/4/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre (nay là Thi hành
án dân sự tỉnh Vĩnh Long) và số 0006307 ngày 17/4/2026 của Thi hành án dân sự
tỉnh Vĩnh Long. Ông G được hòa lại số tiền 182.000đ (Một trăm tám mươi hai
nghìn đồng) theo biên lai nêu trên.
Quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự có quyền kháng cáo, Viện
kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ
7
ngày Tòa án tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án
này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án
được thông báo, niêm yết.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều
2 của Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 8, 34,
36, 71, 72 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo
quy định của Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Các đương sự; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND khu vực 7 – Vĩnh Long; (Đã ký)
- THADS tỉnh Vĩnh Long;
- TAND tỉnh Vĩnh Long;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Nguyễn Khắc Giang
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 71/2026/DS-ST Bản án số 71/2026/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 71/2026/DS-ST Bản án số 71/2026/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất