Bản án số 17/2026/HS-PT ngày 01/06/2026 của TAND tỉnh Tuyên Quang

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 17/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 17/2026/HS-PT ngày 01/06/2026 của TAND tỉnh Tuyên Quang
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tuyên Quang
Số hiệu: 17/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 01/06/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Bị cáo phạm tội Đánh bạc
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 17/2026/HS-PT Bản án số 17/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 17/2026/HS-PT Bản án số 17/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Anh Tuấn.
Các Thẩm phán: Ông Bàn Văn Thế và bà Ma Thị Tuyết Mai.
- Thư ký phiên tòa: Nguyễn Phương Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên toà:
Phạm Thị Quý - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 6 năm 2026, tại Hội trường xét xử của trụ sở Toà án nhân dân
tỉnh Tuyên Quang, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ số:
31/2026/TLPT-HS, ngày 23 tháng 4 năm 2026, đối với các bị cáo Bàn Văn T,
Trương Văn S và Lý Văn Q, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự
thẩm số: 18/2026/HS-ST, ngày 10 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu
vực 2 - Tuyên Quang.
- Bị cáo có kháng cáo:
1. Họ và tên: Bàn Văn T, sinh ngày 19/02/1982, tại xã H, tỉnh Tuyên Quang.
CCCD số: ************; Cấp ngày 14/6/2021; Nơi cấp: Cục Cảnh sát quản
hành chính về trật tự xã hội - Bộ C2.
Nơi đăng ký HKTT, chỗ ở: Thôn B M, xã H, tỉnh Tuyên Quang.
Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không; Nghề
nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 9/12.
Con ông Bàn Văn T1 và bà Nguyễn Thị N (đều đã chết).
Anh chị em ruột:06 người, bị cáo là thứ sáu.
Vợ: Lý Thị M, sinh năm 1981.
Con: Có 02 người con; con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2005.
Tiền sự: Quyết định số: 263/QĐ-XPHS, ngày 12/12/2024 của Công an huyện
H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép (chấp hành xong ngày
13/12/2024).
Tiền án: Không.
Nhân thân: - Bản án số: 21/2010/HSST, ngày 28/4/2010 của Tòa án nhân dân
huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang (nay là Tòa án nhân dân khu vực 2 - Tuyên
Quang) xử phạt tiền 3.000.000 đồng về tội Đánh bạc (chấp hành xong ngày
25/01/2011), đã được xóa án tích.
- Bản án số: 15/2018/HSST, Ngày 14/5/2018 Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên
Quang, xử phạt 06 tháng cho hưởng án treo, thử thách 01 năm vtội Đánh bạc
(chấp hành xong ngày 14/5/2019), đã được xóa án tích.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TUYÊN QUANG
Bản án số: 17/2026/HS-PT
Ngày 01-6-2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
Bị cáo hiện đang áp dng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi trú - Có mặt.
2. Họ tên: Trương Văn S, sinh ngày 08/7/1987, tại H, tỉnh Tuyên Quang.
CCCD số: ************; Cấp ngày 18/4/2024; Nơi cấp: Cục Cảnh sát quản
hành chính về trật tự xã hội - Bộ C2.
Nơi đăng ký HKTT, chỗ ở: Thôn B M, xã H, tỉnh Tuyên Quang.
Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không; Nghề
nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 12/12.
Con ông Trương Văn C (đã chết) và bà Tướng Thị T2, sinh năm 1962.
Anh, chị em ruột: Có 04 người, bị cáo là thứ ba.
Vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1980.
Con: Có 02 người con; con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2014.
Tiền án: Năm 2017, Tòa án nhân dân thành phố Đông Hưng, tỉnh Quảng Tây,
Trung Quốc, xử phạt 07 năm tù về tội Tổ chức cho người khác vượt biên trái phép.
Ngày 29/02/2024 chấp hành xong hình phạt Công an T8 đưa về khu vực Phòng
T3 - Trung Quốc để làm thủ tục trao trả cho Việt Nam vào tháng 4/2024, chưa được
xóa án tích.
Tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 09/QĐ-XPHC, ngày
16/01/2025 Công an huyện H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc trái
phép (chấp hành xong ngày 22/01/2025).
Bị cáo hiện đang áp dng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi trú - Có mặt.
3. Họ tên: Văn Q (tên gọi khác: Bố Han) sinh ngày 16/10/1966, tại
H, tỉnh Tuyên Quang.
CCCD số: ************; Cấp ngày 23/4/2021; Nơi cấp: Cục Cảnh sát quản
hành chính về trật tự xã hội - Bộ C2.
Nơi đăng ký HKTT, chỗ ở: Thôn D V, xã H, tỉnh Tuyên Quang
Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không; Nghề
nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 0/12.
Con ông Lý Văn H1 và bà Nguyễn Thị T4 (đều đã chết).
Anh, chị em ruột: Có 09 người, bị cáo là thứ tám.
Vợ: Lê Thị P, sinh năm 1967.
Con: Có 04 người con; con lớn sinh năm 1988, con nhỏ sinh năm 2004.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 12/QĐ-XPHC, ngày
16/01/2025 của Công an huyện H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc
trái phép (chấp hành xong ngày 22/01/2025).
Nhân thân: - Bản án số: 15/2012/HSST, ngày 24/4/2012 của Tòa án nhân dân
huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang (nay Tòa án nhân dân khu vực 2 - Tuyên
Quang), xử phạt 30 (ba mươi) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (chấp
hành xong ngày 11/01/2014), đã được xoá án tích.
- Bản án số: 36/2018/HSST, ngày 12/9/2018 của Tòa án nhân dân huyện Hàm
Yên, tỉnh Tuyên Quang (nay là Tòa án nhân dân khu vực 2 - Tuyên Quang), xử phạt
01 (một) năm 06 (sáu) tháng về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (chấp hành
xong ngày 13/9/2019), đã được xoá án tích.
- Bản án số: 56/2021/HSST, ngày 31/8/2021 Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên,
tỉnh Tuyên Quang (nay Tòa án nhân dân khu vực 2 - Tuyên Quang), xử phạt 01
3
(một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (chấp hành xong
ngày 13/12/2022), đã được xoá án tích.
Ngày 15/5/2020 Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang (nay là xã
H, tỉnh Tuyên Quang) ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại trong thời
hạn 03 (ba) tháng, kể từ ngày 15/5/2020.
- Ngày 31/10/2023, Ủy ban nhân n xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang (nay là
H, tỉnh Tuyên Quang), ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi
Đánh bạc trái phép (chấp hành xong ngày 02/11/2023).
Bị cáo hiện đang áp dng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi trú - Có mặt.
Trong vụ án còn có 07 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng
cáo, không có kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liu trong h vụ án din biến ti phiên tòa, ni dung v
án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ, ngày 30/9/2025, Đặng Văn Đ, trú tại thôn B Làng B, H,
tỉnh Tuyên Quang; Lý Văn Q (đã có 01 tiền sự về hành vi Đánh bạc); Văn T5 -
cùng trú tại thôn D V, H, tỉnh Tuyên Quang; Bàn Văn T (đã 01 tiền sự vhành
vi Đánh bạc), Trương Văn S (đã 01 tiền sự về hành vi Đánh bạc), Tướng Văn Đ1,
Trương Văn Q1, Triệu Văn C1, Tướng Văn N1, Văn L - ng trú tại thôn B M,
xã H, tỉnh Tuyên Quang sau khi ăn cưới tại nhà Tướng Văn T6 (thuộc thôn B M,
H) mọi người cùng đi đến nhà của Tướng Văn Đ1 chơi. Trong lúc ngồi chơi Q1 rủ
mọi người đánh bạc bằng hình thức đánh liêng sát phạt nhau bằng tiền thì được mọi
người đồng ý. Sau đó Đ, T5, Q, Đ1, Q1, C1, N1, L, T, S cùng ngồi thành vòng tròn
trên chiếu tại phòng khách và dùng bộ bài tú lơ khơ (52 quân) có sẵn tại nĐ1 để
làm công cụ đánh bạc.
Khi bắt đầu cho một ván bạc những người chơi đều được chia 03 quân bài đ
tính điểm chỉ sdụng các quân bài từ (A (Át) đến 10) để cộng điểm, điểm 10
(mười) được tính điểm cao nhất; nếu người chơi tổng số điểm bằng nhau thì
tính theo chất (rô, cơ, tép, bích) để phân biệt thắng, thua; còn nếu người chơi được
chia 03 quân bài bất kỳ gồm J, Q, K không liền nhau (điển hình như 02
quân J 01 quân K) thì gọi “hình hoặc Đĩ”, hình được tính lớn hơn điểm; nếu
03 quân bài được chia liền nhau (điển hình như quân 1(át),2,3 hoặc J, Q, K thì gọi
là liêng, liêng được tính lớn hơn hình và điểm; liêng 1, 2, 3 là nhỏ nhất, liêng Q, K,
A lớn nhất (nếu bài liêng các quân bài giống nhau thì tính theo chất để phân
biệt thắng, thua); nếu có 03 quân bài được chia trùng nhau thì gọi là sáp (điển hình
như 03 quân 2 hoặc 03 quân K) “sáp” lớn hơn Hình (Đ2), L1 Đ3. Mỗi ván bạc
người chơi phải đặt cược số tiền thấp nhất 10.000đ (gọi là T7 hoặc Gà), sau đó
người chia bài sẽ hô “tố” những người còn lại nếu ai không tiếp tục tham gia thì úp
bài bị thua mất số tiền đã đặt cược, nếu ai tiếp tục tham gia thì “theo”
quyền tố thêm số tiền nhất định, nhưng tối đa không quá 100.000đ (tố lần lượt theo
vòng). Người thắng bạc người số điểm, H2 (Đĩ), liêng hoặc sáp cao nhất.
Quy trình này được các đối tượng thực hiện lặp đi, lặp lại nhiều lần sau mỗi khi kết
thúc một ván bạc và cá cược một ván mới.
4
Khoảng 13 giờ 10 phút cùng ngày, tCông tác Công an H kiểm tra phát
hiện, lập biên hành chính tạm giữ tại chiếu bạc vật chứng gồm: 01 bộ bài
khơ 52 lá bài và số tiền 3.720.000đ.
Tại Cơ quan điều tra bị can Bàn Văn T, Trương Văn S, Văn Q và các đối
tượng khai nhận sử dụng số tiền vào mục đích đánh bạc cụ thể như sau: Đặng Văn
Đ 235.000 đồng; Văn T5 90.000 đồng; Tướng Văn Đ1 40.000 đồng; Trương n
Q1 1.725.000 đồng; Triệu Văn C1 300.000 đồng, Tướng Văn N1 300.000 đồng,
Văn L 370.000 đồng; Bàn Văn T 50.000 đồng; Trương Văn S 600.000 đồng, Văn
Q 100.000 đồng. Tổng số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc 3.810.000 đồng
(Ba triệu tám trăm mười nghìn đồng).
Tại Bản án hình sự thẩm số: 18/2026/HS-ST, ngày 10 tháng 3 năm 2026
của Toà án nhân dân khu vực 2 - Tuyên Quang, đã quyết định:
1. Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; đoạn 1 điểm h
khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Trương Văn S phạm tội Đánh bạc.
Xử phạt: Bị cáo Trương Văn S 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo
đi thi hành án.
Phạt tiền: 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
- Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều
58; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Bàn Văn T phạm tội Đánh bạc.
Xử phạt: Bị cáo Bàn Văn T 07 (Bẩy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi
hành án.
Phạt tiền: 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
- Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều
58; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Lý Văn Q phạm tội Đánh bạc.
Xử phạt: Bị cáo Lý Văn Q 07 (Bẩy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi
hành án.
Phạt tiền: 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định xử vật chứng, án ptuyên quyền
kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 18/3/2026, bị cáo Bàn Văn T đơn kháng cáo với nội dung: Đề nghị
Tòa án cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo.
Ngày 23/3/2026, bị cáo Trương Văn S và bị cáo Lý Văn Q có đơn kháng cáo
với nội dung: Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt cho hưởng án
treo.
Ti cp phúc thm, b cáo Bàn Văn T cung cp chng c mới là 01 Đơn có xác
nhn ngày 11/02/2026 ca UBND H, tnh Tuyên Quang, v vic xác nhn b cáo
Bàn Văn T hiện đang thờ cúng v Lit s tái giá; 01 Thư cảm ơn đề ngày 20/5/2026
ca Ban vận đng qu “Vì người nghèo” xã H, tnh Tuyên Quang, v vic b cáo Bàn
Văn T đã ng h tin qu vì người nghèo; 01 Biên lai thu tin phạt 10.000.000 đồng
và 200.000 đng tin án phí hình s sơ thẩm ngày 28/5/2026 ca Thi hành án dân
5
s tỉnh Tuyên Quang, đ chng minh cho ni dung kháng cáo ca mình. B cáo S và
b cáo Q không cung cp tài liu, chng cmi. Cp phúc thm không b sung tài
liu, chng c gì mới đối vi các b cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo S rút toàn bộ kháng cáo. Bị cáo T và bị cáo Q
vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang phát biểu quan điểm:
- V th tc t tng đm bo đúng quy định pháp lut; đơn kháng cáo ca các
b cáo hp l trong hn lut định; th tc gii quyết v án đúng trình t t tng.
Về nội dung kháng cáo: Xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào nội dung,
tính chất vụ án; căn cứ nhân thân và áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệmnh sự
của từng bị cáo để xử phạt bị cáo Trương Văn S 09 (Chín) tháng tù; xử phạt bị cáo
Bàn Văn T 07 (Bẩy) tháng tù; xử phạt bị cáo Lý Văn Q 07 (Bẩy) tháng và phạt bổ
sung mỗi bị cáo 10.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” là đúng người, đúng tội, đúng
pháp luật và phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi của từng bị cáo.
Tại cấp phúc thẩm bị cáo T cung cấp được chứng cứ mới để chứng minh cho
nội dung kháng cáo của mình. Bị cáo S bcáo Q không cung cấp thêm tài liệu,
chứng cứ mới. Cấp phúc thẩm không bổ sung tài liệu, chứng cứ mới đối với
các bị báo.
Xét thấy tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo S đã tự nguyện rút toàn bộ kháng cáo,
do vậy đề nghị Hội đồng xét xử Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo S theo quy
định. Bị o Q nhân thân xấu, không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới,
nên không căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo theo quy định. Bị cáo T xuất
trình thêm các chứng cứ mới tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều
51 của Bộ luật hình sự để xem xét áp dụng cho bị cáo T theo quy định và bị cáo có
nơi cư trú rõ ràng, nên cho bị cáo T được cải tạo, giáo dục tại địa phương là có căn
cứ. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ Điều 342, Điều 348; điểm đ khoản 1 Điều 355 của Bộ luật tố tụng
hình sự, Đình chỉ xét xphúc thẩm đối với bị cáo Trương Văn S phạm tội “Đánh
bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự,
không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị cáo bị cáo Lý Văn Q, ginguyên bản án
hình sự thẩm số: 18/2026/HS-ST, ngày 10 tháng 3 năm 2026 của Toà án nhân
dân khu vực 2 - Tuyên Quang, về phần hình phạt tù đối với bị cáo Q về tội “Đánh
bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố
tụng hình sự, chấp nhận một phần nội dung kháng cáo của bị cáo Bàn Văn T sửa bản
án hình sự sơ thẩm số: 18/2026/HS-ST, ngày 10 tháng 3 năm 2026 của Toà án nhân
dân khu vực 2 - Tuyên Quang, về phần hình phạt 07 (Bẩy) tháng tù, nhưng cho
hưởng án treo; thời gian thử thách là 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng, kể từ ngày tuyên
án phúc thẩm ngày 01/6/2026, về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ
luật hình sự.
+ Ghi nhận bị cáo Bàn Văn T đã nộp 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) tiền
phạt bổ sung 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự thẩm
6
theo Bản án hình sự thẩm số: 18/2026/HS-ST, ngày 10 tháng 3 năm 2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 2 - Tuyên Quang.
- Về án phí: Bị cáo Q phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo S và bị
cáo T không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, không kháng
nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bị cáo T bị cáo Q không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên. Bị cáo S
không có ý kiến gì.
Bị cáo T bị cáo Q nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm
nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo. Bị cáo S không nói gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung ván, căn cứ vào các tài liệu trong hván đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về thủ tục kháng cáo của các bị cáo là hợp lệ, đúng pháp luật; trình tự, thủ
tục giải quyết vụ án của người tiến hành tố tụng là đúng quy định.
[2]. Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo tiếp tục thành
khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị cáo
tại quan điều tra, lời khai tại phiên tòa thẩm các tài liệu chứng cứ khác trong
hồ vụ án, Hội đồng xét xử đủ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ khoảng
12 giờ đến 13 giờ 10 phút, ngày 30/9/2025 tại nhà ở của Tướng Văn Đ1, thuộc thôn
B M, xã H, tỉnh Tuyên Quang. Bàn Văn T, Trương Văn S Lý Văn Q (đều đã có
tiền sự về hành vi Đánh bạc) tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc trái phép bằng hình
thức đánh Liêng” sát phạt nhau bằng tiền cùng các đối tượng: Đặng Văn Đ; Văn
T5; Tướng V; Trương Văn Q1; Triệu Văn C1, Tướng Văn N1, Văn L. Tổng số
tiền sử dụng để đánh bạc 3.810.000 đồng, (trong đó: Bàn Văn T sử dụng 50.000
đồng; Trương Văn S sử dụng 600.000 đồng, Văn Q sử dụng 100.000 đồng vào
mục đích đánh bạc). Hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức sử dụng bài
khơ để đánh “Liêng” được thua bằng tiền mà các bị cáo thực hiện đã phạm vào tội
“Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật
hình sự.
[3]. Về nội dung kháng cáo: Hội đồng xét xthấy rằng hành vi phạm tội của
các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự
xã hội tại địa phương. Hành vi phạm tội của các bị cáo T, S và Q thuộc trường hợp
ít nghiêm trọng do lỗi cố ý. Các bị cáo đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận
thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật; các bị cáo đã bị cơ quan chức năng
xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép cho đến ngày phạm tội
lần này các bị cáo là người đã bị xử hành chính về hành vi đánh bạc trái phép. Tòa
án cấp thẩm đã xem xét nội dung, tính chất của vụ án các tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của từng bị cáo thấy rằng cần phải cách ly
các bị cáo ra khỏi hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo cũng như phục
vụ công tác phòng chống tội phạm chung, nên đã xử phạt bị cáo Trương Văn S 09
(Chín) tháng tù, bcáo Bàn Văn T 07 (Bẩy) tháng tù và bị cáo Văn Q 07 (Bẩy)
tháng tù; phạt tiền mỗi bị cáo 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), vtội “Đánh
7
bạc” theo khoản 1, khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người,
đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Tại cấp phúc thẩm bị cáo T cung cấp được chứng cứ mới để chứng minh cho
nội dung kháng cáo của mình. Bị cáo S bị cáo Q không cung cấp thêm tài liệu,
chứng cứ mới. Cấp phúc thẩm không bổ sung tài liệu, chứng cứ mới đối với
các bị báo.
Xét thấy tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo S đã tự nguyện rút toàn bộ kháng cáo,
do vậy Hội đồng xét xử Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo S theo quy định.
Đối với bị cáo Q không có tài liệu, chứng cứ gì mới là tình tiết giảm nhẹ. Cấp phúc
thẩm cũng không bổ sung được thêm tài liệu, chứng cứ mới về tình tiết giảm nhẹ
cho bị báo. Do vậy, không có căn cứ chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị cáo Q như
đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát tỉnh Tuyên Quang. Bị cáo T xuất
trình thêm các chứng cứ mới tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều
51 của Bộ luật hình sự để xem xét áp dụng cho bị cáo T theo quy định; b cáo T có
nhiu tình tiết gim nh theo quy định ti khon 1, khon 2 Điu 51 ca B lut hình
s; b cáo là đồng phạm vai trò không đáng kể trong vụ án; s tin b cáo tham
gia đánh bc ít (50.000 đồng) và b cáo T có nơi cư trú rõ ràng; do vy căn cứ chp
nhn mt phn kháng cáo ca b cáo Bàn Văn T, sa bn án hình s sơ thm về phần
hình phạt cho hưởng án treo vtội “Đánh bạc” như đề ngh của Kiểm sát viên
đại diện Viện kiểm sát tỉnh Tuyên Quang là có căn cứ pháp luật và phù hợp với tính
chất nội dung vụ án.
[4]. Quá trình giải quyết phúc thẩm, bị cáo Bàn Văn T đã tự nguyện nộp tiền
phạt bổ sung, tiền án phí hình sự sơ thẩm tại Thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang,
theo bản án sơ thẩm đã quyết định, nên ghi nhận cho bị cáo theo quy định của pháp
luật.
[5]. Đi với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan của bản án hình sự
thẩm số: 18/2026/HS-ST, ngày 10/3/2026 của Toà án nhân dân khu vực 2 - Tuyên
Quang, không có kháng cáo, không có kháng nghị, nên không xem xét giải quyết.
[6]. Về án phí: Bị cáo S tự nguyện rút toàn bộ kháng cáo; bị cáo T do được
chấp nhận một phần nội dung kháng cáo, nên bị cáo S bị cáo T không phải chịu
tiền án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo Q không được chấp nhận toàn bộ kháng cáo
nên phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
[7]. Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, không
kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: Điều 342; 348; điểm đ khoản 1 Điều 355 của Bộ luật tố tụng hình
sự, Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Trương Văn S phạm tội “Đánh bạc”
theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
2. Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị cáo Lý Văn Q, giữ nguyên Bản án hình
sự sơ thẩm số: 18/2026/HS-ST, ngày 10 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu
vực 2 - Tuyên Quang, về phần hình phạt tù đối với bị cáo như sau:
8
* Căn cứ: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17;
Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
* Xphạt: Bị cáo Văn Q 07 (Bẩy) tháng tù về tội “Đánh bạc. Thời hạn tù
tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
Phạt tiền: 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
3. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố
tụng hình sự, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Bàn Văn T, sửa Bản án hình
sự sơ thẩm số: 18/2026/HS-ST, ngày 10 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu
vực 2 - Tuyên Quang, về hình phạt tù đối với bị cáo như sau:
* Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58;
38; 65 của Bộ luật hình sự.
* Xử phạt: Bị cáo Bàn Văn T 07 (Bẩy) tháng về tội “Đánh bạc” cho hưởng
án treo, thời gian thử thách 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng, kể từ ngày tuyên án
phúc thẩm ngày 01/6/2026.
Giao bị cáo Bàn Văn T cho Ủy ban nhân dân H, tỉnh Tuyên Quang giám
sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình bị cáo trách nhiệm
phối hợp với quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục
bị cáo.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của
Luật Thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án thể quyết định buộc bị
cáo phải chấp hành hình phạt của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị
cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và Điều 92 của Luật
Thi hành án hình sự.
4. Ghi nhận bị cáo Bàn Văn T đã nộp 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) tiền
phạt bổ sung 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự thẩm
theo Bản án hình sự thẩm số: 18/2026/HS-ST, ngày 10 tháng 3 năm 2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 2 - Tuyên Quang, theo Biên lai thu tiền, hiệu BLTT/26L;
Số: 0000315, ngày 28/5/2026 ca Thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang.
5. Về án phí: - Bị cáo Văn Q phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn
đồng) tiền án phí hình sự phúc thẩm.
- Bị cáo Trương Văn S và bị cáo Bàn Văn T không phải chịu tiền án phí hình
sự phúc thẩm.
6. Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, không
kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án ngày 01/6/2026.
Nơi nhận:
- TAND tối cao tại Hà Nội;
- VKSND tối cao tại Hà Nội;
- VKSND tỉnh Tuyên Quang;
- Công an tỉnh Tuyên Quang;
- Phòng HSNV CA tỉnh TQ;
- TAND khu vực 2 - Tuyên Quang;
- VKSND khu vực 2 - Tuyên Quang;
- THADS tỉnh Tuyên Quang;
- Bị cáo Sơn, Tuấn, Quyển;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Trần Anh Tuấn
9
- UBND xã Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang;
- Văn phòng TAND tỉnh Tuyên Quang;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 17/2026/HS-PT Bản án số 17/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 17/2026/HS-PT Bản án số 17/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất