Bản án số 70/2026/DS-PT ngày 02/02/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 70/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 70/2026/DS-PT ngày 02/02/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 70/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 02/02/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự; Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn P1 và bà Nguyễn Thị N; Sửa một phần quyết định của Bản án dân sự sơ thẩm số
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Danh Đại;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Duy Thuấn, ông Lê Ngọc Minh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Đức Anh - Thư ký TAND tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa:
Thị Bích Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét x
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 395/2025/TLPT-DS, ngày 27 tháng 10
năm 2025, về việc Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. Do
Bản án dân sự thẩm số: 47/2025/DS-ST ngày 02/6/2025 của Toà án nhân n
thành phố Tuy Hòa, tỉnh Đắk Lắk (nay là Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đắk Lắk) b
kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 506/2025/QĐXX-PT
ngày 19 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 09/2026/QĐ-PT ngày
06 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Vợ chồng bà Đào Thị L, sinh năm 1972 và ông Phan Văn K,
sinh năm 1971; Địa chỉ: Thôn L, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên (nay là phường B,
tỉnh Đắk Lắk).
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Phan Hồng P, sinh năm
1994; Địa chỉ: Thôn L, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên (nay là phường B, tỉnh Đắk
Lắk) - Có mặt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Ngọc Q -
Luật Văn phòng L1 thuộc Đoàn luật tỉnh P; Địa chỉ: Số B khu K, tổ A, khu phố
N, phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên (nay là phường B, tỉnh Đắk Lắk) - Có mặt.
2. Các bị đơn:
2.1 Vợ chồng ông Nguyễn P1, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm
1963; Địa chỉ: Thôn L, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên (nay là phường B, tỉnh Đắk
Lắk); Ông P1 có mặt, bà Nguyễn Thị N vắng mặt, có văn bản ủy quyền cho ông P1
tham gia tố tụng.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ngô Minh T - Luật sư Văn
phòng L2 thuộc Đoàn Luật tỉnh P. Địa chỉ: B N, phường E, thành phố T, tỉnh Phú
Yên (nay là phường T, tỉnh Phú Yên) - Có mặt.
+ Bà Nguyễn Thị Nguyệt Q1, sinh năm 1989; Địa chỉ: Khu phố N, phường I,
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 70/2026/DS-PT
Ngày 02/02/2026
“V/v: Tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
thành phố T, tỉnh Phú Yên (nay phường B, tỉnh Đắk Lắk) - Vắng mặt, Q1
văn bản ủy quyền cho ông Nguyễn P1 tham gia tố tụng.
+ Ông Nguyễn Phương H, sinh năm 1993; Địa chỉ: Thôn L, B, thành phố
T, tỉnh Phú Yên (nay là phường B, tỉnh Đắk Lắk) - Vắng mặt, ông H có văn bản ủy
quyền cho ông Nguyễn P1 tham gia tố tụng.
3. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1 Nguyễn Thị Kim H1, sinh năm 1976; Địa chỉ: Thôn L, xã B, thành phố
T, tỉnh Phú Yên (nay là phường B, tỉnh Đắk Lắk) - Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của H1 đồng thời người quyền lợi
và nghĩa vụ liên quan trong vụ án: Ông Lê Thành C, sinh năm 1985; Thôn L, xã B,
thành phố T, tỉnh Phú Yên (nay là phường B, tỉnh Đắk Lắk) - Vắng mặt.
3.2 Bà Phạm Thị Đ, sinh năm 1923; Địa chỉ: Thôn L, xã B, thành phố T, tỉnh
Phú Yên (nay là phường B, tỉnh Đắk Lắk) Vắng mặt.
+ Uỷ ban nhân dân (UBND) xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên;
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng: UBND xã B, tỉnh Đắk Lắk Vắng
mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
+ Ông Văn T1, sinh năm 1955; Địa chỉ: Thôn L, B, thành phố T, tỉnh
Phú Yên (nay là phường B, tỉnh Đắk Lắk) - Vắng mặt.
+ Văn phòng C1; Địa chỉ: B H, phường E, thành phố T, tỉnh Phú Yên (nay là
phường T, tỉnh Đắk Lắk).
Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn T2 - Trưởng Văn phòng C1 Vắng
mặt.
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn P1 và bà Nguyễn Thị N.
NỘI DUNG VỤ ÁN
1. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của
nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích của nguyên đơn cùng trình bày:
Vợ chồng bà Đào Thị L, ông Phan Văn K với ông Nguyễn P1 là hàng xóm nên
biết ông P1 được quyền sdụng thửa đất số 349, tờ bản đồ 230-D diện tích 515m²
tại thôn L, B, thành phố T, tỉnh Phú Yên (theo Giấy chứng nhận quyền sdụng
đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số 811903 cấp ngày
23/10/2013) và diện tích đất khoảng 300m² chưa được công nhận quyền sử dụng đất
nằm gần thửa đất trên.
Ngày 18/12/2016, vợ chồng ông P1, N Nguyễn Thị Kim H1 lập giấy
thoả thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, theo đó vợ chồng ông P1 đã chuyển
nhượng cho bà H1 324m² (thoả thuận 250m² đất nằm trong thửa 349, còn lại 74m² là
đất khai hoang) giá trị chuyển nhượng 265.000.000 đồng giới cận: Tây giáp đất
thổ mộ nhà ông Hồ Văn T3, Bắc giáp đất ông Lê Văn T1, Nam giáp đường bê tông,
Đông giáp đất ông P1 còn lại (nằm ở vị trí phía Tây thửa đất 349) nhưng thực tế ông
P1 giao diện tích 324m² thuộc thửa 349 cho bà H1.
Ngày 02/3/2020, giữa vợ chồng ông P1, N 02 con Nguyễn Thị Nguyệt
Q1, Nguyễn Phương H với vợ chồng L, ông K lập giấy thoả thuận chuyển
nhượng quyền sử dụng đất khoảng 500m² (trong đó thoả thuận diện tích 265m² năm
trong thửa 349, diện tích 235m² đất khai hoang), tổng giá trị chuyển nhượng
3
1.100.000.000 đồng, đã giao đủ tiền cho vợ chồng ông P1, N giới cận: Đông
giáp tường rào ông Phan Văn H2; Tây giáp ranh đất Nguyễn Thị Kim H1, Nam
giáp đường tông Bắc giáp đất (ngay bđã xây) ông Văn T1 (nằm vị
trí phía Đông thửa đất 349).
Sau khi giao tiền xong, vợ chồng ông tiến hành kiềng móng, nâng nền cao
03m, rào lưới B40 đối với diện tích đất nhận chuyển nhượng. Để làm thủ tục tách
thửa theo các giấy thoả thuận chuyển nhượng trên nên ngày 09/6/2021, vchồng ông
P1, N lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất chuyển nhượng cho L
H1 thửa đất 349 diện tích 515m
2
tại thôn L, B, thành phố T, tỉnh Phú Yên
theo Giấy chứng nhận quyền sdụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn
liền với đất số 811903 do UBND thành phố T cấp ngày 23/10/2013 cho ông
Nguyễn P1 với giá chuyển nhượng 1.300.000.000 đồng (trong đó phần vợ chồng bà
L 1.100.000.000 đồng, phần bà H1 200.000.000 đồng), hợp đồng được công
chứng theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, khi tiến hành làm thủ tục tách thửa đo đạc
lại, thửa 349 chỉ còn 469,1m² phần diện tích đất phía Đông vợ chồng ông sử
dụng có 01 phần đất thuộc thửa 550 do UBND xã B quản lý.
Ngày 07/11/2023, Toà án xem xét thẩm định tại chỗ đo đạc, xác định thửa đất
349, tờ bản đồ 230-D của ông P1 diện tích 469,1m² (giảm 45,9m² = 515m² - 469,1m²),
vợ chồng L sử dụng 437,88m² (trong đó chỉ 95,5m² thuộc thừa 349, 339m²
thuộc thửa 550 do UBND B quản 3,38m² thuộc thửa 251 của ông Lê Văn
T1); còn H1 thì sử dụng diện tích 361,83m² thuộc thửa 349. Như vậy, ông P1 chỉ
mới giao cho vợ chồng L 95,5m²/265m² ất thuộc thửa 349) còn thiếu 169,5m²
theo giấy thoả thuận chuyển nhượng ngày 02/3/2020 hợp đồng chuyển nhượng
ngày 09/6/2021; còn giao cho H1 361.83m²/250m² là 111,83m². Do diện tích
đất đo đạc bị giảm nên vợ chồng bà L thống nhất diện tích đất nhận chuyển nhượng
cũng giảm theo cho phù hợp.
Vì vậy, vợ chồng bà L đề nghị Toà án tiến hành đo đạc, phân chia lại thửa 349
thành 02 phần: phần L 241m² (nằm vtrí phía Đông thửa 349), phần H1
228,1m² (nằm ở vị trí phía Tây thửa 349) theo như bản vẽ mặt bằng hiện trạng ngày
26/6/2024. Căn cứ khoản 1 Điều 209 Bộ luật Dân sự, khoản 2 Điều 135 Luật đất đai
và khoản 5 Điều 32 Thông tư số 10/2024/TT-BTNMT ngày 31/7/2024, nguyên đơn
khởi kiện yêu cầu Toà án công nhận hiệu lực hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất ngày 09/6/2021, L H1 được nhận sử dụng diện tích đất theo đo đạc
thực tế 469,1m² tương ứng bà L 241m², H1 228,1m² theo như bản vẽ hiện trạng
Toà án đo đạc ngày 26/6/2024; Yêu cầu vợ chồng ông P1, bà N hoàn trả giá trị diện
tích đất 235m² do đất thuộc UBND B theo Giấy thoả thuận chuyển nhượng quyền
sử dụng đất ngày 02/3/2020 450.000.000 đồng; Xin rút yêu cầu phần bồi thường
thiệt hại chi phí nâng nền, xây dựng hàng rào 45.000.000 đồng.
2. Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Nguyễn P1 người bảo vệ quyền
lợi ích hợp pháp ông Ngô Minh T cùng trình bày như sau:
Nguồn gốc diện tích đất 515m² thuộc thửa đất số 349, tờ bản đồ 230-D được
UBND thị xã T cấp cho hộ bà Phạm Thị Đ (mẹ ruột ông P1) theo Nghị định 64/CP,
loại đất sản xuất nông nghiệp, thời điểm cấp gồm 3 khẩu Đ, 02 con Quế, H; vợ
chồng ông P1, bà N là giáo viên nên không được cấp. Năm 2013, ông P1 được bà Đ
làm hợp đồng tặng cho và được UBND thành phố T cấp Giấy chứng nhận quyền sử
4
dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số 811903 ngày
23/10/2013 cho cá nhân ông Nguyễn P1 diện tích 515m².
Thực tế, ngoài diện tích đất 515m² nêu trên thì ông P1 còn khai hoang thêm nên
tổng diện tích đất ông P1 quản lý, sử dụng khoảng 824m². Năm 2016, vợ chồng ông
P1 chuyển nhượng cho H1 324m² trong đó hai bên thoả thuận chuyển nhượng
diện tích 250m² là đất thuộc thửa 349, còn lại 74m² là đất khai hoang không có giấy
tờ ông P1 giao cho H1 diện tích đất theo như hiện trạng hiện nay H1 sử
dụng. H1 trình bày với ông Lê Thành C hùn tiền mua thửa đất trên thì đó là
nhân của với ông C, ông P1 chỉ biết giao dịch chuyển nhượng với H1. Tiếp đó,
ngày 02/3/2020, ông P1 chuyển nhượng cho bà L diện tích đất khoảng 500m², trong
đó 265m² đất thuộc thửa 349 còn lại là đất ông P1 khai hoang không có giấy tờ
giao diện tích đất như hiện trạng hiện nay L sử dụng.
Năm 2023, ông P1 làm thủ tục cấp đổi sổ của thửa 349 thành sổ mới để làm thủ
tục sang tên cho H1 L thì UBND xã B tiến hành đo đạc xác định diện tích
đất giảm chỉ còn 469,1m². Ngày 01/3/2023, ông Nguyễn P1 được Sở Tài nguyên và
môi trường tỉnh P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
tài sản khác gắn liền với đất số DI 707585 đối với thửa đất số 349, tờ bản đồ số 230-
D diện tích 469,1m². Lúc này, ông P1 mới biết thửa đất nằm gần thửa 349 vợ
chồng ông P1 bán cho bà L đang sử dụng là thửa đất số 550 do UBND xã B quản lý.
diện tích đất giảm không phải do lỗi của ông P1 do đo đạc lại; hơn nữa lâu
nay ông P1 sử dụng thửa đất số 550 nhưng không bị UBND xã nhắc nhở hay thu hồi
và ông có giấy tờ chứng minh thửa đất trên là của cha ông Nguyễn Đay .
Vợ chồng ông P1 không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vợ chồng
L, ông K vợ chồng ông chuyển nhượng đất theo hiện trạng nên nay đo đạc lại thiếu
đất vợ chồng bà L không thể yêu cầu trả lại đất lấy tiền được; Nếu vợ chồng bà L có
khó khăn trong vấn đề làm thủ tục cấp giấy chứng nhận thì vchồng ông sẵn sàng
hỗ trợ.
Phạm Thị Đ hiện nay hơn 100 tuổi, già yếu, đang do vợ chồng ông chăm
sóc, không có khả năng đi lại và tinh thần không còn minh mẫn để trình bày sự việc.
2.1 Bị đơn Nguyễn Thị N thống nhất lời trình bày nêu trên của ông Nguyễn
P1.
2.2 Quá trình giải quyết vụ án bà Nguyễn Thị Nguyệt Q1 trình bày:
Thống nhất nội dung trình bày của ông Nguyễn P1 xin trình bày thêm:
Đ, ông H cùng được cấp thửa đất 349, nhưng bà Đ tặng cho ông P1 thửa đất
trên không ý kiến của ông H không đúng quy định pháp luật. Tuy
nhiên bà và ông H không tranh chấp, thống nhất tặng cho ông P1 và cũng không
ý kiến ông P1 chuyển nhượng thửa đất trên cho L bà H1. Do đất cấp cho hộ
gia đình nên với ông H giấy thoả thuận chuyển nhượng theo yêu cầu của vợ
chồng L, ông K, nhưng thực tế ông P1, N nhận tiền còn ông H không
nhận bất cứ khoản tiền nào. Do đó, bà không đồng ý trả lại số tiền theo yêu cầu của
vợ chồng bà L, ông K.
2.3 Bị đơn ông Nguyễn Phương H: Đại diện theo uỷ quyền là ông Nguyễn P1
thống nhất lời trình bày nêu trên của bà Nguyễn Thị Nguyệt Q1.
3. Quá trình giải quyết vụ án những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
5
trong vụ án trình bày như sau:
3.1 Nguyễn Thị Kim H1 trình bày: H1 cháu của ông Nguyễn P1,
chị vợ của ông Lê Thành C. Bà và ông C biết ông P1 được quyền sử dụng diện tích
đất 515m² thuộc thửa 349, tờ bản đồ 230-D, đất trồng cây hàng năm khác tại thôn L,
xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
Ngoài diện tích đất nêu trên, ông P1 còn khai hoang khoảng hơn 300m² đất k
bên. Do đó năm 2016, H1 ông C hùn tiền mua diện tích đất 324m² (chiều dài
27m, chiều rộng 12m) trong tổng diện tích đất 515m² thuộc thửa 349, tờ bản đồ 230-
D nhưng để bà H1 đại diện đứng trên giấy tờ (thoả thuận 250m² đất thuộc thửa 349,
còn 74m² đất ông P1 khai hoang chưa giấy tờ) với giá 265.000.000 đồng,
giới cận: Tây giáp đất thổ mộ ông HVăn T3, Đông giáp đất ông Nguyễn P1 còn
lại, B giáp ranh đất ông Văn T1, Nam giáp đường tông. Khi nhận đất, H1
và ông C không đo đạc lại và tiến hành rào chắn như hiện trạng hiện nay Toà án đo
đạc.
Năm 2020, ông P1 mới chuyển nhượng tiếp phần đất còn lại cho bà Đào Thị L.
Để hai bên thuận tiện trong việc tách thửa đất nên ngày 09/6/2021 giữa vợ chồng bà
N, ông P1 với H1 L lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối
với thưả đất số 349, tờ bản đồ 230-D diện tích 515m² theo Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 811903 ngày
23/10/2013 do UBND thành phố T cấp cho ông Nguyễn P1 với giá chuyển nhượng
1.300.000.000 đồng (trong đó phần bà L, ông K là 1.100.000.000đ, còn phần bà H1
200.000.000đ nhưng thực tế H1 đưa cho ông P1 265.000.000₫), hợp đồng
được công chứng theo quy định pháp luật. H1 ông C đều không yêu cầu
khởi kiện độc lập trong vụ án này; tuy nhiên đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn vợ chồng L, ông K thì H1 ông C không đồng ý. Đối với hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông P1 thì không có tranh chấp hay
yêu cầu gì, quá trình sử dụng nếu có tranh chấp thì H1 và ông C sẽ khởi kiện vụ
án khác để giải quyết.
2.2 Ông Thành C trình bày: Thống nhất lời trình bày nêu trên của
Nguyễn Thị Kim H1.
2.3 Văn phòng C1 trình bày: Ngày 09/6/2021, Văn phòng C2 hsơ chuyển
nhượng quyền sử dụng đất giữa bên chuyển nhượng ông Nguyễn P1, bà Nguyễn Thị
N, bên nhận chuyển nhượng Đào Thị L và Nguyễn Thị Kim H1 theo Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 02846, quyển số 02/2021 TP/CC-SCC/HĐGD
do Văn phòng C1 chứng nhận ngày 09/6/2021. Tại hồ sơ công chứng, ông P1, bà N
người quyền sử dụng đất trong thời kỳ hôn nhân đối với thửa đất chuyển nhượng
thửa đất số 349, tờ bản đồ 230-D diện tích 515m² (đất trồng cây hàng năm khác), tại
xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 811903 do UBND thành phố T cấp
ngày 23/10/2013 cho cá nhân ông Nguyễn P1. Tại thời điểm chuyển nhượng quyền
sử dụng đất, Văn phòng C1 không nhận bất cứ văn bản nào tranh chấp đối với thửa
đất trên và cũng không có văn bản ngăn chặn hay phong toả không cho chuyển dịch
tài sản từ quan thi hành án. Ông P1, N đã được Nhà nước chứng nhận quyền
sử dụng đất không bị tranh chấp, thi hành án nên đđiều kiện chuyển nhượng
quyền sửdụng đất theo quy định pháp luật. Đồng thời tại thời điểm chuyển dịch, ông
6
P1, N, L bà H1 người đủ năng lực hành vi dân sự tmình thực hiện
mọi vấn đtrong giao dịch về tài sản. Việc giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất này tự nguyện, không bị lừa dối hoặc ép buộc. Do đó, căn cứ Điều 40
Luật công chứng 2014, Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, khoản 1 Điều 168
Luật đất đai 2013 Điều 20 Bộ luật Dân sự 2015 Văn phòng C1 đã công chứng
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 02846, quyển s02/2021 TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 09/6/2021 đúng theo quy định pháp luật. Văn phòng công chứng
xin vắng mặt tại phiên toà.
2.4 Ông Lê Văn T1 trình bày: Ông chủ sử dụng thửa đất 251, tờ bản đồ 230-
D tại thôn L, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên; phía Bắc thửa đất bà Đào Thị L đang
sử dụng giáp với thửa đất 251 của ông T1. Sau khi xem bản vẽ đo đạc ngày 26/6/2024,
L đang sử dụng diện tích đất 3,38m² của ông. phần diện tích đất này khá nhỏ
nên đồng ý để L sử dụng, không ý kiến hay yêu cầu gì. Ông già yếu nên xin
vắng mặt trong quá trình Toà án xét xử vụ án.
2.5 UBND xã B: Quá trình giải quyết vụ án đều vắng mặt nên không có ý trình
bày.
2.6 Bà Phạm Thị Đ: Quá trình giải quyết vụ án đều vắng mặt nên không trình
bày.
Tại bản án Dân sự sơ thẩm số: số: 47/2025/DS-ST ngày 02/6/2025 của Toà án
nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Đắk Lắk (nay Tòa án nhân dân khu vực 11 -
Đắk Lắk) đã quyết định:
Tuyên xử:
[1] Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vợ chồng ông Phan Văn
K, bà Đào Thị L về việc yêu cầu bđơn vợ chồng ông Nguyễn P1, bà Nguyễn Thị N
bồi thường thiệt hại chi phí nâng nền, xây tường rào số tiền 45.000.000 đồng (Bốn
mươi lăm triệu đồng).
[2] Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vợ chồng Đào Thị
L ông Phan Văn K về việc yêu cầu Toà án công nhận hiệu lực hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ngày 09/6/2021, bà Đào Thị L Nguyễn Thị Kim H1
được nhận sử dụng diện tích đất theo đo đạc thực tế 469,1m² tương ứng bà L 241m²,
H1 228,1m² theo như bản vẽ hiện trạng Toà án đo đạc ngày 26/6/2024; yêu cầu
vợ chồng ông P1, bà N hoàn trả giá trị diện tích đất 235m² do đất thuộc UBND xã B
theo Giấy thoả thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 02/3/2020 là
450.000.000 đồng (Bốn trăm năm mươi triệu đồng).
[3] Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo Giấy thoả thuận chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ngày 02/3/2020 giữa ông Nguyễn P1, bà Nguyễn Thị N,
ông Nguyễn Phương H, bà Nguyễn Thị Nguyệt Q1 với vợ chồng bà Đào Thị L, ông
Phan Văn K Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 09/6/2021
giữa vợ chồng ông Nguyễn P1, Nguyễn Thị N với Đào Thị L, Nguyễn Thị Kim
H1 đã được công chứng s02846 tại Văn phòng C1 đều hiệu do vi phạm điều
cấm của pháp luật.
[4] Buộc vợ chồng ông Nguyễn P1, bà Nguyễn Thị N có nghĩa vụ trả lại cho vợ
chồng Đào Thị L, ông Phan Văn K số tiền đã nhận 1.100.000.000 đồng (Một tỷ
một trăm triệu đồng).
7
[5] Khi bản án hiệu lực pháp luật kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án
của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn
phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định
tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
[6] Buộc vợ chồng bà Đào Thị L, ông Phan Văn K tháo dỡ toàn bộ công trình,
vật kiến trúc, cây trồng trên đất để trả lại nguyên hiện trạng cho:
+ UBND B, thành phố T diện tích 339m² thuộc thửa đất 550 (nay thửa
714), tờ bản đồ 231-C, địa chỉ: thôn L, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên;
+ Ông Văn T1 diện tích 3,38m² thuộc thửa đất 251, tờ bản đồ 230-D, địa chỉ:
thôn L, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên;
+ Ông Nguyễn P1 diện tích 95,5m² thuộc thửa đất 349, tờ bản đồ số 230-D, địa
chỉ: thôn L, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
(Đều theo bản vẽ mặt bằng hiện trạng do Công ty TNHH Đ1 thực hiện ngày
07/11/2023).
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí quyền kháng
cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 16/06/2025, bị đơn ông Nguyễn P1Nguyễn Thị N kháng cáo toàn
bộ bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm xét xử lại theo hướng công nhận các hợp
đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ
nguyên yêu cầu khởi kiện; Bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư phiên toà đương sự đã chấp
hành đúng các quy định của pháp luật.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xét kháng
cáo của bị đơn ông Nguyễn P1 Nguyễn Thị N đề nghị công nhận hợp đồng
chuyển nhượng đất quyền sử dụng đất ngày 02/3/2020 và hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất ngày 09/6/2021 không căn cứ. Tuy nhiên, việc Tòa án cấp
sơ thẩm tuyên buộc nguyên đơn trả lại đất cho UBND xã B, ông T1 ảnh hưởng tới
quyền lợi của bị đơn, nên cần sửa án sơ thẩm về nội dung này để đảm bảo quyền lợi
của các đương sự trong vụ án, cần tuyên buộc nguyên đơn trả lại toàn bộ diện tích
đất đang sử dụng (theo hợp đồng chuyển nhượng) cho bị đơn theo quy định. Do đó,
căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị chấp nhận một
phần kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn P1 Nguyễn Thị N; Sửa một phần quyết
định tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 47/2025/DS-ST ngày 02/6/2025 của Toà án nhân
dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Đắk Lắk (nay Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đắk
Lắk).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu thu thập được trong hồ vụ án, được
thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên sxem
xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên các đương sự.
Hội đồng xét xử nhận định như sau:
8
[1] Về tố tụng: Bị đơn nộp đơn kháng cáo trong thời hạn luật định nên được
xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa vắng mặt những người quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, tuy
nhiên phiên tòa được mở lại lần thứ 2 và đương sự đã được tống đạt giấy báo phiên
tòa hợp lệ, nên Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều
296 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn P1
Nguyễn Thị N, thấy rằng:
[2.1] Xét hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 02/3/2020, thấy
rằng: Nguyên đơn thừa nhận biết nguồn gốc đất của bị đơn biết bị đơn đã
chuyển nhượng 1 phần diện tích cho H1, tại giấy thỏa thuận chuyển nhượng quyền
sử dụng đất ngày 02/3/2020 thể hiện rõ nội dung này. Vì vậy, diện tích nguyên đơn
nhận chuyển nhượng tại thửa đất 349 là 265 m² và một phần diện tích đất chưa được
cấp GCN bị đơn sử dụng. Qua đo đạc thực tế thì diện tích nguyên đơn sdụng
nằm trong GCN là 95,5m², ngoài là 342,8 m².
Xét thửa đất 349 có diện tích đo đạc thực tế 469,1 m
2
loại đất nông nghiệp độc
lập không nằm trong khu dân cư. Đối với diện tích trong giấy chứng nhận các bên
thỏa thuận tại hợp đồng 265m
2
(hiện trạng sử dụng 95.5m
2
).
Xét tại thời điểm các bên kết hợp đồng chuyển nhượng diện tích đất trồng
cây hàng năm khác thì diện tích tối thiểu tách thửa được thực hiện theo Khoản 2 Điều
7 Quyết định số 38/2018/QĐ-UBND ngày 10/9/2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh P
quy định “Diện tích của thửa đất được hình thành từ việc tách thửa và thửa đất còn
lại sau khi tách thửa có diện tích lớn hơn hoặc bằng diện tích 500m²”, theo khoản 1
Điều 7 Quyết định số 46/2024/QĐ-UBND ngày 10/6/2024 của Ủy ban nhân dân tỉnh
P “Các thửa đất được hình thành sau khi tách thửa phải diện tích tối thiểu
1000m²”. Tại biên bản xác minh ngày 14/3/2025 UBND B cung cấp: thửa đất 349
diện tích 469,1m², loại đất trồng cây hàng năm khác nằm độc lập, không nằm trong
khu dân cư, không đủ điều kiện để tách thửa.
Do đó, xét hợp đồng chuyển nhượng đất chưa được công chứng chứng thực,
diện tích để tách thửa chưa đảm bảo quy định pháp luật, hơn nữa ngoài phần đất
đã được cấp giấy chứng nhận thì các bên còn thỏa thuận chuyển nhượng diện tích
chưa được cấp giấp chứng nhận là không đảm bảo điều kiện để hợp đồng hiệu lực.
Tòa án cấp thẩm xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
02/3/2020 giữa nguyên đơn bị đơn hiệu do vi phạm điều cấm của luật căn
cứ.
[2.2] Xét hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 09/6/2021: Thấy
rằng, mặc hợp đồng này được công chứng, chứng thực theo đúng quy định, tuy
nhiên các đương sự đều thừa nhận hợp đồng kết nhằm mục đích thực hợp đồng
ngày 02/3/2020. Quá trình giải quyết vụ kiện, người quyền lợi nghĩa vụ liên
quan bà H1 không đồng ý việc cùng sử dụng diện tích đất như nguyên yêu cầu xác
định theo như nội dung đo đạc. Như đã nhận định tại mục [2.1] xét hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ngày 02/3/2020 giữa nguyên đơn bị đơn hiệu. Do
đó, hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất ngày 09/6/2021 mục đích để thực
hiện giao dịch hiệu trước đó nên giao dịch dân sự bhiệu do giả tạo. Tòa án
cấp thẩm xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 09/6/2021
9
vô hiệu là có căn cứ.
[2.3] Về giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, xác định thiệt hại phát sinh:
Do xác định các hợp đồng vô hiệu, Tòa án cấp thẩm tuyên buộc các bên phải
nghĩa vụ hoàn trả cho nhau những gì đã nhận là đúng quy định của pháp luật. Tuy
nhiên, đối với nội dung Tòa án cấp thẩm tuyên buộc nguyên đơn ông Phan Văn
K, bà Đào Thị L tháo dỡ tài sản trên đất trả lại diện tích 339m
2
đất cho UBND xã B;
Trả cho ông Văn T1 diện tích 3,38 không phù hợp; Bởi, trong vụ án này
những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là UBND xã B, ông T1 cũng không
yêu cầu độc lập, nên việc tuyên án như vậy vượt quá phạm vi yêu cầu giải quyết
của đương sự. Ngoài ra, phía gia đình bị đơn ông Nguyễn P1 đã sử dụng phần đất
chưa được cấp giấy chứng nhận này ổn định từ trước đến nay không bị xử vi phạm
hành chính chưa bị thu hồi từ các quan thẩm quyền, tương tự đối với diện
tích 3,38 m² xác định trong thửa đất của ông T1, thì ông T1 cũng xác nhận từ trước
tới nay hai bên sử dụng đất ổn định, không xảy ra tranh chấp ông không ý kiến,
yêu cầu trong vụ án.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc nguyên đơn trả lại đất cho UBND xã B,
ông T1 là ảnh hưởng tới quyền lợi của bị đơn (bị đơn có thể mất quyền khởi kiện vụ
án hành chính trong trường hợp có phát sinh quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến đất
đai của bị đơn). Do đó, cần sửa án thẩm về nội dung này để đảm bảo quyền lợi
của các đương sự trong vụ án, cần tuyên buộc nguyên đơn trả lại toàn bộ diện tích
đất đang sử dụng (theo hợp đồng chuyển nhượng) cho bị đơn theo quy định.
[3] Từ những phân tích nhận định như trên, xét kháng cáo của bị đơn đề nghị
công nhận hiệu lực các hợp đồng chuyển nhượng đất giữa nguyên đơn bị đơn
không có căn cứ để chấp nhận. Tuy nhiên, như đã phân tích tại mục [3] nêu trên, để
đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp của các đương sự trong vụ án, cần chấp nhận một
phần kháng cáo của bị đơn sửa một phần quyết định của bản án thẩm như đã phân
tích nhận định trên.
[4] Án phí dân sự phúc thẩm: Do bị đơn đơn ông ông Nguyễn P1 và bà Nguyễn
Thị N thuộc trường hợp người cao tuổi nên miễn án phí dân sự phúc thẩm theo quy
định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn P1 Nguyễn Thị
N; Sửa một phần quyết định của Bản án dân sự thẩm số: 47/2025/DS-ST ngày
02/6/2025 của Toà án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Đắk Lắk (nay Tòa án
nhân dân khu vực 11 - Đắk Lắk)
Áp dụng Điều 116, 117, 122, 123, 124, 408, 502 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH12 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vợ chồng bà Đào Thị L
và ông Phan Văn K về việc: Yêu cầu công nhận hiệu lực hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất ngày 09/6/2021 giữa vợ chồng ông Nguyễn P1, Nguyễn Thị N
10
với Đào Thị L, Nguyễn Thị Kim H1 được công chứng số 02846 tại Văn phòng
C1; Đào Thị L bà NguyễnThị Kim H3 được nhận sử dụng diện tích đất theo
đo đạc thực tế là 469,1m² tương ứng bà L là 241m², bà H3 228,1m² theo như bản
vẽ hiện trạng đo đạc ngày 26/6/2024; Yêu cầu vợ chồng ông Nguyễn P1, bà Nguyễn
Thị N hoàn trả giá trị diện tích đất 235m² do đất thuộc UBND B theo Giấy thoả
thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 02/3/2020 là 450.000.000 đồng (Bốn
trăm năm mươi triệu đồng).
2. Xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo Giấy thoả thuận
chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 02/3/2020 giữa ông Nguyễn P1, bà Nguyễn
Thị N, ông Nguyễn Phương H, bà Nguyễn Thị Nguyệt Q1 với vợ chồng bà Đào Th
L, ông Phan Văn K Hợp đồng chuyển nhượng quyền s dụng đất lập ngày
09/6/2021 giữa vợ chồng ông Nguyễn P1, bà Nguyễn Thị N với Đào Thị L,
Nguyễn Thị Kim H1 đã được công chứng số 02846 tại Văn phòng C1 vô hiệu do
vi phạm điều cấm của pháp luật.
3. Buộc vợ chồng ông Nguyễn P1, bà Nguyễn Thị N có nghĩa vụ trả lại cho vợ
chồng Đào Thị L, ông Phan Văn K số tiền đã nhận 1.100.000.000 đồng (Một tỷ
một trăm triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi
thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn
phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm
2015.
4. Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vợ chồng ông Phan Văn
K, bà Đào Thị L về việc yêu cầu bđơn vợ chồng ông Nguyễn P1, bà Nguyễn Thị N
bồi thường thiệt hại chi phí nâng nền, xây tường rào số tiền 45.000.000 đồng (Bốn
mươi lăm triệu đồng).
5. Buộc nguyên đơn Đào Thị L ông Phan Văn K tháo dỡ toàn bộ công
trình, vật kiến trúc, cây trồng trên đất để trả lại cho bị đơn ông ông Nguyễn P1,
Nguyễn Thị N phần diện tích đất theo Giấy thoả thuận chuyển nhượng quyền sử dụng
đất ngày 02/3/2020 giữa ông Nguyễn P1, bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Phương H,
Nguyễn Thị Nguyệt Q1 với vợ chồng Đào Thị L 437,88m² (Theo kết quả
xem xét thẩm định tại chỗ đo đạc ngày 07/11/2023 của Tòa án sơ thẩm, tại bản vẽ
mặt bằng hiện trạng do Công ty TNHH Đ1 thực hiện ngày 07/11/2023).
6. Về chi phí đo vẽ, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Nguyên đơn
vợ chồng bà Đào Thị L, ông Phan Văn K phải chịu 10.692.000 đồng (Mười triệu sáu
trăm chín mươi hai nghìn đồng). Nguyên đơn đã nộp đủ chi phí xong tại tòa án
cấp sơ thẩm.
7. Về án phí:
7.1 Án phí dân sự sơ thẩm:
Miễn án phí dân sự thẩm cho vợ chồng ông Nguyễn P1, Nguyễn Thị N do
là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn vợ chồng Đào Thị L ông Phan Văn K phải chịu 300.000 đồng
(Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sthẩm, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí
dân sự thẩm đã nộp 23.850.000 đồng (Hai mươi ba triệu tám trăm năm mươi nghìn
đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lphí Toà án số 0008246 ngày 05 tháng 6
11
năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuy Hoà (nay Phòng thi hành
án dân sự khu vực 11 – Đắk Lắk). H4 lại cho nguyên đơn vợ chồng bà Đào Thị L
ông Phan Văn K stiền 23.550.000 đồng (Hai mươi ba triệu năm trăm năm mươi
nghìn đồng) còn lại.
7.2 Án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa án thẩm nên nguyên đơn và bị đơn
không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
8. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi
hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a Điều
9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Tòa PT TANDTC tại Đà Nẵng;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk;
- TAND khu vực 11;
- Phòng THADS khu vực 11;
- Các đương sự;
- Lưu HS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Bùi Danh Đại
12
Tải về
Bản án số 70/2026/DS-PT Bản án số 70/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 70/2026/DS-PT Bản án số 70/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất