Bản án số 31/2026/DS-PT ngày 02/02/2026 của TAND tỉnh Ninh Bình về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 31/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 31/2026/DS-PT ngày 02/02/2026 của TAND tỉnh Ninh Bình về tranh chấp về thừa kế tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Ninh Bình
Số hiệu: 31/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 02/02/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Cụ Trần Văn L1 và cụ Hà Thị T3 là hai vợ chồng, trước khi chết 02 cụ có để lại di chúc và diện tích 1.780,4m2 đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 256227 của Ủy ban nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định ngày 29/12/2005 đứng tên cụ Trần Văn L1 và Hà Thị T3; tuy nhiên khi thẩm định tại chỗ và đo đạc ngày 06/5/2025 thì diện tích thực tế là 1.743,9m2. Trị giá 8.649.600.000 đồng; trong đó
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NINH BÌNH
Bản án số: 31/2026/DS-PT
Ngày 02 - 02 - 2026
V/v “Tranh chấp về thừa kế tài sản”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thủy;
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Phượng và bà Trần Thị Sâm.
- Thư phiên tòa: Bà Vũ Ngọc Diệp - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh nh: i Thị Thuý
Hằng - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 02 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét
xử phúc thẩm ng khai vụ án thụ lý số 145/2025/TLPT-DS ngày 10 tháng 11
năm 2025 về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản”.
Do bản án dân sự thẩm số 16/2023/DS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét x phúc thẩm số 148/2025/QĐ-PT ngày
24 tháng 12 năm 2025 của Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình và Quyết định hoãn
phiên toà số 09/2026/QĐ-PT ngày 13 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Thị Thêu, sinh năm 1957; địa chỉ: Số nhà 11, ngõ
273, đường Tô Hiến Thành, phường Thành Nam, tỉnh Ninh Bình; có mặt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Thị Sao
Mai - Luật của Văn phòng luật Thiên Trường, thuộc Đoàn luật tỉnh
Ninh Bình; có mặt.
2. B đơn: Trần Thị Tuyết, sinh năm 1956; địa chỉ: Số nhà 09, ngõ 273,
đường Tô Hiến Thành, phường Thành Nam, tỉnh Ninh Bình; có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Trn Th Nhung, sinh năm 1952; địa ch: S 37, ngõ 10, đưng
Hùng Du Vương, phường Hng Bàng, thành ph Hi Phòng; mt.
3.2. Trần Thanh Lan, sinh năm 1958; đa ch: Thôn Hòa Bình, Bàu
Cn, tnh Gia Lai; vng mt.
2
3.3. Trn Th Bích, sinh năm 1961; địa ch: S nhà 64, ngõ 340, đưng
Tô Hiến Thành, phường Thành Nam, tnh Ninh Bình; có mt.
Người đại din theo y quyn ca Nhung Lan: Trn Th Bích,
sinh năm 1961; đa ch: S nhà 64, ngõ 340, đưng Hiến Thành, phường
Thành Nam, tnh Ninh Bình; có mt bà Bích, vng mt bà Lan.
3.4. Trn Th Ngọc, sinh năm 1966; địa ch: S nhà 47, ngõ 340, đưng
Tô Hiến Thành, phường Thành Nam, tnh Ninh Bình; có mt.
3.5. Anh Trần Quang Huy, sinh năm 1979; địa ch: S nhà 11, ngõ 273,
đưng Tô Hiến Thành, phường Thành Nam, tnh Ninh Bình; vng mt.
Người đại din theo y quyn ca anh Huy: Thị Thêu, sinh năm
1957; địa chỉ: Số nhà 11, ngõ 273, đường Hiến Thành, phường Thành Nam,
tỉnh Ninh Bình; có mặt bà Thêu, vắng mặt anh Huy.
3.6. Ch Trn Th Tiến, sinh năm 1981; đa ch: Xóm Giáo Phòng, xã
Giao Hòa, tnh Ninh Bình; mt.
4. Những người kháng cáo: Trần Thị Tuyết (bị đơn) Trần Thị
Bích (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ
án được xác định như sau:
Cụ Trần Văn Lượng cụ Thị Thụ hai vợ chồng sinh được 06
người con chung gồm: Trần Thị Nhung, sinh năm 1952; ông Trần Hưng
Long, sinh năm 1952; Trần Thị Tuyết, sinh năm 1956; Trần Thanh Lan,
sinh năm 1958; bà Trần Thị Bích, sinh năm 1961; Trần Thị Ngọc, sinh năm
1966. Ngoài 06 người con này cụ Lượng cụ Thụ không con riêng hay con
nuôi, không có bố mẹ nuôi. Bố mẹ đẻ của cụ Trần Văn Lượng và cụ Hà Thị Thụ
đều đã chết từ lâu, chết trước cụ Trần Văn Lượng và cụ Hà Thị Thụ.
CTrần Văn Lượng, sinh năm 1925, chết ngày 06/8/2010 cụ Thị
Thụ, sinh năm 1926, chết ngày 11/11/2006. Trước khi chết, hai cụ để lại di
chúc không để lại nghĩa vụ về tài sản. Tiền mai táng phí của hai cụ được trả
bằng tiền phúng viếng. Các chi phí về công chăm sóc người để lại di chúc, bảo
qun tài sn, thờ cúng c ng và c Th, ngun đơn không yêu cầu giải quyết.
Ông Trần Hưng Long, sinh năm 1952 (chồng Thêu) chết ngày
06/12/2015; ông Long và bà Thêu có 02 con chung là anh Trần Quang Huy, sinh
năm 1979, chị Trần Thị Tiến, sinh năm 1981, ông Long không con nuôi, con
riêng, không bố mẹ nuôi. Ông Trần Hưng Long chết không đlại di chúc,
không để lại nghĩa vụ tài sản.
Thời điểm còn sống, cụ Trần Văn Lượng và cụ Hà Thị Thụ đã tạo lập được
khối tài sản chung gồm: Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 13+33, tờ bản đồ số
22.1; địa chỉ tại phường Mỹ Xá, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định (nay là
3
phường Thành Nam, tỉnh Ninh Bình), diện tích theo Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất 1.780,4m
2
,
thửa đất đã được Ủy ban nhân dân thành phố Nam Định,
tỉnh Nam Định cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 256227 ngày
29/12/2005 đứng tên cụ Trần Văn Lượng cụ Thị Thụ. Thửa đất các
cạnh tiếp giáp như sau: Phía Bắc giáp nhà ông Dần, ông Trung; phía Nam giáp
nhà ông Bảo, nhà ông Tuấn; phía Đông giáp nhà ông Chính, ngõ vào nhà ông
Chính, nhà ông Tuệ; phía Tây trước đây của nhà ông Chiến (hiện tại đã bán).
Theo nguyên đơn (bà Thêu) xác định: Nguồn gốc thửa đất do cụ Trần
Văn Lượng cụ Thị Thụ mua vào khoảng năm 1977 của ông Trần Dương
Huy. Về các công trình trên thửa đất từ khi Thêu về làm dâu năm 1978 có 03
gian nhà cấp 4 + 01 căn bếp diện ch khoảng 70m
2
, sân, vườn chè 01 ao to,
01 ao bé. Khoảng năm 1988 - 1990, vợ chồng Thêu cùng cụ Lượng, cụ Thụ
sửa sang lại 03 gian nhà cấp 4, xây thêm khoảng 30m
2
nhà mái bằng công
trình phụ khoảng 20m
2
; toàn bộ tiền xây dựng, sửa chữa phần lớn của vợ
chồng bà, cụ Lượng, cụ Thụ chỉ góp một phần sửa sang lại mái ncấp 4. Năm
2002, do hoàn cảnh bà Tuyết chỉ một mẹ một con nên cụ Lượng, cụ Thụ cho
Tuyết một mảnh đất khoảng hơn 50m
2
, Tuyết về xây căn nmái bằng,
công trình phụ sân (hiện nay căn nhà đó Tuyết đã sửa thành nhà 02 tầng,
lợp mái tôn); toàn bộ tiền xây, sửa là do bà Tuyết bỏ ra, hiện bà Tuyết đang quản
lý, sử dụng. Phần đất còn lại sau khi cụ Lượng mất giao cho gia đình bà quản lý,
duy trì đóng thuế (bao gồm cả phần nhà đất của Tuyết) từ thời điểm đó
cho đến nay. Năm 2013 gia đình xây nhà trên phần đất vườn trồng chè
trước đây (nbê tông 02 tầng, diện tích khoảng gần 200m
2
). Tiền xây nhà
của vợ chồng ; còn phần ao to ao bé, gia đình đã san lấp cho phù hợp
với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cụ Lượng đã chuyển đổi mục đích
trước đó. Hiện tại trên thửa đất Thêu gia đình anh Huy, gia đình
Tuyết, còn chị Tiến đã đi xây dựng gia đình.
Về di chúc: Trước khi chết, theo bà Thêu được biết, cụ Trần Văn Lượng và
cụ Thị Thụ đã 02 lần lập di chúc, cụ thể: Di chúc đầu tiên cụ Trần Văn
Lượng Thị Thụ lập ngày 02/3/2006, với nội dung: “Hiện nay gia đình tôi
đang sinh sống trên thửa đất s 13+33 trong tờ bản đồ 22.1 diện tích
1.780,4m
2
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ256227 UBND
thành phố Nam Định cấp ngày 29 tháng 12 năm 2005. Nay chúng tôi lập di chúc
để lại quyền sử dụng đất cho con trai tôiông Trần Hưng Long, cháu tôi
ông Trần Quang Huy được toàn quyền sử dụng thửa đất này. Ngoài ra phía tây
bắc của thửa đất này một gian nhà mái bằng tôi để lại cho con gái tôi
Trần Thị Tuyết, diện tích 50m
2
ngõ đi chung”; bản di chúc này 03
người làm chứng: Ông Trần Hữu Cách, ông Trần Hữu Lạp (tổ trưởng nhân dân),
ông Trần Thanh Thực (em trai cụ Lượng).
Di chúc thứ hai lập ngày 06/3/2006 với nội dung: Hiện nay vợ chồng tôi
đang sống trên thửa đất số 13+33, tờ bản đồ số 22.1 được Ủy ban nhân dân
thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số 256227 ngày 29-12-2005 đứng tên Trần Văn Lượng Hà Thị Thụ. Với
4
tổng diện tích đất 1.780,4m
2
. Nay chúng tôi lập di chúc để lại quyền sử dụng
cho con gái là bà Trần Thị Tuyết, sinh năm 1957, được hưởng một ngôi nhà mái
bằng 39m
2
nằm trên diện tích đất 53,3m
2
. Số diện tích đất còn lại và tài sản nằm
trên đất chúng tôi để lại cho con trai là ông Trần Hưng Long, sinh năm 1952, số
CMND: 160099623 được toàn quyền sử dụng”. Bản di chúc được Ủy ban nhân
dân Mỹ Xá, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định (nay phường Thành
Nam, tỉnh Ninh Bình) chứng thực vào ngày 13/3/2006, di chúc gồm 03 trang
đánh máy bằng khổ giấy A4, đóng dấu giáp lai. Hai bản di chúc toàn bộ
giấy tờ nhà đất trước khi chết cụ Lượng đã giao cho chồng bà ông Trần Hưng
Long. Năm 2013-2014, ông Long đã photo di chúc và phát cho các chị em trong
gia đình mỗi người một bản. Sau khi nhận được bản di chúc, Nhung,
Tuyết, Lan, Bích, Ngọc đều tỏ thái độ không đồng ý, nhưng cũng
không ai quan điểm cụ thể với vợ chồng với bản di chúc. Đến tháng
10/2016, Nhung về yêu cầu họp gia đình, gồm (Thêu), Nhung,
Bích, Tuyết, bà Ngọc, anh Huy (thời điểm đó ông Long đã chết). Tại cuộc
họp, sau khi thống nhất, bà Nhung phát biểu: “Đồng ý cho ông Trần Quang Huy
bà Trần Thị Tuyết thực hiện di chúc của cụ Lượng cụ Thụ với điều kiện:
Ông Huy phải cắt ra khoảng 120m
2
phần đất giáp danh với nhà Tuyết để
bán; số tiền thu được giao cho Nhung trách nhiệm chia cho Nhung,
Lan, Bích, Ngọc, sau khi trừ các chi phí. Phần đất còn lại do ông Huy
toàn quyền sử dụng. Phần đất của bà Tuyết sẽ do địa chính đến đo, chi phí tặng
cho sẽ do Tuyết chịu trách nhiệm”. Các thành viên trong cuộc họp đều đồng
ý nhất ttên vào biên bản. Ngoài các nội dung trên thì không bàn bạc thêm
nội dung nào khác. Sau đó, mọi người đã ra Uỷ ban nhân dân thành phố Nam
Định, tỉnh Nam Định để làm thủ tục tách thửa nhưng bà Ngọc không đồng ý
vào hồ sơ nên việc tách thửa không thực hiện được.
Nay Thêu khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận bản di chúc của cụ Trần
Văn Lượng cụ Thị Thụ lập ngày 06/3/2006, chứng thực của Ủy ban
nhân Mỹ Xá, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định vào ngày 13/3/2006
hợp pháp và đề nghị Tòa án công nhận thừa kế tài sản theo di chúc. Ngoài ra, bà
đề nghị chia di sản thừa kế của ông Long theo pháp luật. Do chị Trần Thị Tiến
anh Trần Quang Huy từ chối nhận di sản thừa kế của ông Trần Hưng Long
n toàn bdi sn thừa kế của ông Trần Hưng Long đề nghị giao lại cho Thêu.
Quan điểm của Trần Thị Tuyết xác định: Khi cụ Trần Văn Lượng cụ
Thị Thụ chết không để lại nghĩa vụ về tài sản. Chi phí mai táng lấy từ tiền
phúng viếng để chi trả. Các chi phí về công chăm sóc người để lại di chúc, bảo
quản tài sản, thờ cúng cụ Lượng và cụ Thụ bà Tuyết không yêu cầu.
Đối với bản di chúc của cụ Trần Văn Lượng cụ Thị Thụ thì khi các
cụ còn sống, cụ Trần Văn Lượng, cụ Hà Thị Thụ nói cho 1/3 đất, từ nhà
đang kéo thẳng đến ao to; ông Trần Hưng Long 2/3 đất từ nhà ông Long đang
kéo thẳng đến ao to. Còn phần ao (là 01 ao to, 01 ao hiện đã lấp thành đất
ở), thì cụ Lượng, cụ Thụ nói chia làm 6 phần cho 6 anh chị em nên theo quan
điểm của bản di chúc lập ngày 06/3/2006, chứng thực ngày 13/3/2006 của cụ
5
Lượng, cụ Thụ lập là không hợp pháp. do, phần chứng thực của bản di chúc
nằm 01 trang riêng không nằm trong bản di chúc, chcủa cụ Lượng
chữ giả dấu lăn tay của cụ Thụ trong bản di chúc cũng không phù hợp
cụ Thụ biết chữ. Năm 2006, cụ Thụ không còn minh mẫn sáng suốt.
Về nguồn gốc thửa đất tranh chấp (di sản thừa kế), năm 1977 cụ Trần Văn
Lượng cụ Thị Thmua của ông Trần Dương Huy, tiền mua đất hoàn
toàn của cụ Lượng cụ Thụ, Tuyết không công sức đóng góp vào tiền
mua thửa đất. Thửa đất này đã được Ủy ban nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh
Nam Định cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 256227 ngày
29/12/2005, đứng tên cụ Trần Văn Lượng và cụ Hà Thị Thụ.
Về công trình xây dựng trên đất, khi mua thửa đất đã 03 gian nhà cấp 4,
sân, vườn ao; năm 1978, ông Long lấy Thêu về xây căn nhà mái bằng 01
tầng công trình phụ diện tích khoảng 70m
2
. Tiền xây nhà do vợ chồng ông
Long bỏ ra; cụ Lượng cụ Thụ cùng gia đình ông Long gồm Thêu và 02
cháu Trần Quang Huy, Trần Thị Tiến sinh sống, quản lý, sử dụng. Khoảng năm
2002, do nhà cấp 4 khi cụ Lượng cụ Thụ mua không công trình phụ nên
Thêu về xây 01 căn nhà mái bằng 1 tầng công trình phụ khoảng 40m
2
(nay bà
đã sửa thành nhà 02 tầng) cho cụ Lượng cụ Thụ ở. Toàn bộ tiền sửa nhà
của bà, cụ Lượng và cụ Thụ không đóng góp gì. Năm 2013, sau khi cụ Lượng và
cụ Thụ mất, gia đình ông Long, bà Thêu xây nhà trên phần đất là vườn trồng chè
trước đây; nhà bê tông 02 tầng và ở từ thời điểm đó cho đến nay.
Tại phiên toà thẩm, bị đơn đề nghị: Căn cứ vào Điều 630, Điều 653,
Điều 654 Bộ luật Dân sự năm 2005, di chúc chỉ giá trị pháp khi người lập
di chúc minh mẫn, sáng suốt, nội dung hình thức đúng luật chký, điểm
chỉ hợp pháp. Bản di chúc này không hợp pháp vì cụ Lượng hai lần, cụ Thụ
điểm chỉ trong khi cụ biết chữ; như vậy, cụ Lượng cụ Thụ không còn minh
mẫn, di chúc phải được công bố trước khi bố mẹ bà chết. Nên bà đề nghị Tòa án
không công nhận. Việc bà được hưởng có 53m
2
là không phù hợp so với số diện
tích ông Long được hưởng. Bà đề nghị chia di sản của cụ Lượng và cụ Thụ theo
pháp luật.
Quan điểm của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (Trần Thị Bích)
xác định: Sau khi cụ Thụ và cụ Lượng mất, năm 2015 bà mới biết có bản di chúc
của cụ Lượng, cụ Thụ lập ngày 06/3/2006 chứng thực ngày 13/3/2006 nên
những người con gái của cụ đều không đồng ý; khoảng tháng 10/2016,
Nhung (chị cả) về chủ trì cuộc họp gồm Tuyết, bà Bích, Ngọc, Lan,
Nhung, Thêu, anh Huy với nội dung thống nhất: Đồng ý cho ông Trần
Quang Huy và bà Trần Thị Tuyết thực hiện di chúc của ông Lượng và bà Thụ để
lại với điều kiện: Ông Huy phải cắt ra khoảng 120m
2
phần đất giáp danh với
nhà Tuyết đbán; số tiền thu được giao cho Nhung trách nhiệm chia
cho mọi người sau khi trừ các chi phí. Phần đất còn lại do ông Huy toàn quyền
sử dụng. Phần đất của Tuyết sẽ do địa chính đến đo, chi phí tặng cho sẽ do
Tuyết chiụ trách nhiệm…, tất cả các thành viên trong cuộc họp đều nhất trí
6
tên. Còn phần ao (chỉ nói miệng với nhau 01 ao to, 01 ao bé thì sau này
bán được sẽ chia cho các Tuyết, Bích, Ngọc, Lan, Nhung).
Sau đó, tất cả mọi người ra Văn phòng một cửa Ủy ban nhân dân thành phố để
làm thủ tục tách thửa nhưng Ngọc không nhất trí vào hnên không
tách thửa và chia đất được.
Căn cứ Điều 635, Điều 676, Điều 677; Điều 654, Điều 652, Điều 657 Bộ
luật Dân sự 2005 thì bản di chúc ngày 06/3/2006 của cụ Lượng, cụ Thụ lập
không hợp pháp, di chúc chỉ giá trị pháp khi người lập di chúc minh mẫn,
nội dung hình thức đúng luật chữ ký, điểm chỉ hợp pháp. Bản di chúc này
không hợp pháp cụ Lượng hai lần, cụ Thụ điểm chỉ trong khi cụ Thụ biết
chữ, di chúc không công bố khi cụ Lượng, cụ Thụ chết. Nên Bích đề nghị
Tòa án không công nhận di chúc. Đề nghị chia di sản của cụ Lượng và cụ Thụ
theo pháp luật.
Quan điểm của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (Trần Thị Ngọc)
xác định: Năm 2015, trước thời điểm ông Long chết, mới được biết cụ
Lượng, cụ Thụ để lại di chúc; thời điểm đó do anh em trong gia đình mâu
thuẫn, Nhung về yêu cầu ông Long chia cái ao theo nguyện vọng của cụ
Lượng, cụ Thụ khi còn sống là chia đều cả hai cái ao to cho 06 anh, chị em. Ông
Long không đồng ý vì thế giữa bà Nhung và ông Long đã xảy ra xát; dẫn đến,
ông Long mới photo copy cho mọi người bản di chúc chữ của cụ Lượng
lăn tay điểm chỉ của cụ Thụ. Sau khi nhận được bản di chúc photo copy,
Ngọc, Bích, Tuyết, Nhung, Lan đều không đồng ý với bản di chúc
nên đã làm đơn đưa ra Ủy ban nhân dân Mỹ để hòa giải nhưng không
kết quả. Sau khi ông Long chết, gia đình gồm đầy đủ các thành viên họp
thống nhất vào tháng 10/2016: tạm thời không nói đến di chúc đề ngh
chia cho 04 (là Bích, Ngọc, Lan, Nhung) phần đất còn lại diện
tích khoảng 120m
2
, cạnh nhà Tuyết hiện nay sau nhà ông Long đã xây
dựng, xin được hưởng 01 phần trong đó. Còn phần ao (là 01 ao to, 01 ao
hiện đã lấp thành đất ở), sẽ chia làm 6 phần cho 6 anh chị em.
Nay Ngọc xác định bản di chúc ngày 06/3/2006 của cụ Lượng, cụ Thụ
lập không hợp pháp do trong bản di chúc ghi “chúng tôi hoàn toàn minh
mẫn” không đúng thời điểm lập di chúc, cụ Thụ đang đau ốm nằm liệt
giường chứ không mạnh khỏe minh mẫn; ngoài ra, phần chứng thực của bản
di chúc nằm 01 trang riêng không nằm trong bản di chúc. Di chúc không
được công bố khi cụ Lượng chết nên bà không chấp nhận bản di chúc này. Bà đề
nghị Tòa án không công nhận bản di chúc của cụ Trần Văn Lượng, cụ Thị
Thụ lập ngày 06/3/2006 yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế của cụ Trần Văn
Lượng, cụ Hà Thị Thụ theo pháp luật.
Quan điểm của Trần Thị Nhung, v nguồn gốc thửa đất thửa đất số
13+33, tờ bản đồ số 22.1 địa chỉ tại phường Mỹ Xá, thành phố Nam Định, tỉnh
Nam Định (nay phường Thành Nam, tỉnh Ninh Bình) do bố mẹ cụ
Trần Văn Lượng và cụ Thị Thụ mua vào khoảng năm 1977. Thửa đất này
khi mua về 03 gian nhà cấp 4, sân, vườn ao. Khoảng năm 2004, Tuyết
7
về xây nhà mái bằng, 1 tầng diện tích khoảng 40m
2
công trình phụ để cho cụ
Lượng, cụ Thụ sinh sống. Toàn bộ tiền xây dựng của bà Tuyết. Năm 2005, cụ
Thụ ốm nặng nên bà Tuyết phải xin nghỉ để ở nhà chăm sóc. Quá trình bà Tuyết
nhà thì cụ Lượng, cụ Thụ nói: do hoàn cảnh Tuyết chỉ một mẹ một
con nên cụ Lượng, cụ Thụ cho bà Tuyết toàn bộ căn nhà mái bằng nằm trên diện
tích đất khoảng 53m
2
. Đến năm 2016, chị em mới được biết cụ Lượng, cụ
Thụ trước khi chết có để lại di chúc lập ngày 06/3/2006. Gia đình anh, chị em đã
họp lại đphân chia tài sản của cụ Lượng, cụ Thụ cũng đã thỏa thuận được
nhưng chưa làm các thủ tục theo quy định. Theo quan điểm của thì bản di
chúc ngày 06/3/2006 của cụ Lượng, cụ Thụ lập là bản di chúc giả, chtrong
bản di chúc không phải chữ của cụ Lượng. xác định không đóng góp
vào khối tài sản của cụ Lượng, cụ Thụ.
Quan điểm của bà Trần Thanh Lan, về nguồn gốc đất quá trình sử dụng
đúng như các chị của đã trình bày; tuy nhiên, đến năm 2016 chị em mới
được biết cụ Lượng, cụ Thụ trước khi chết có để lại di chúc lập ngày 06/3/2006.
Gia đình anh, chị em đã họp lại để phân chia tài sản của cụ Lượng, cụ Thụ
cũng đã thỏa thuận được nhưng chưa làm các thủ tục theo quy định. Theo quan
điểm của , bản di chúc ngày 06/3/2006 của cụ Lượng, cụ Thụ lập bản di
chúc giả, chữ trong bản di chúc không phải chữ ký của cụ Lượng. xác
định không đóng góp gì vào khối tài sản của cụ Lượng, cụ Thụ.
Quan điểm của chị Trần Thị Tiến: Chị con của ông Trần Hưng Long
Thị Thêu; ông Long Thêu 02 người con chung là chị Trần Thị
Tiến và anh Trần Quang Huy. Ông Long, bà Thêu không có con riêng, con nuôi;
không bố mẹ nuôi. Ông Long chết ngày 06/12/2015 không để lại di chúc
không để lại các nghĩa vụ về tài sản. Chi phí mai táng lấy từ tiền phúng viếng để
chi trả; các chi phí về công chăm sóc ông Long trước khi chết, bảo quản tài sản,
thờ cúng ông Long chị Tiến không yêu cầu.
Về nguồn gốc thửa đất số 13+33, tờ bản đồ số 22.1 của cụ Lượng, cụ
Thụ, diện tích theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 1.780,4m
2
. Từ nhỏ
chị đã sinh sống cùng bố mẹ anh Trần Quang Huy (anh trai) trên thửa đất
này cho đến khi đi lấy chồng. Trên thửa đất hiện nay Trần Thị Tuyết,
Thị Thêu gia đình anh Trần Quang Huy sinh sống. Chị xác định không
đóng góp gì vào khối tài sản của cụ Lượng, cụ Thụ cũng như khối tài sản của bà
Thêu, ông Long.
Về bản di chúc của cụ Lượng, cụ Thụ lập ngày 06/3/2006, thời điểm này
chị đã đi xây dựng gia đình. Nội dung bản di chúc cụ thể như thế nào, chị không
biết, cho đến thời điểm gần đây khi mẹ chị là bà Thêu khởi kiện thì chị mới biết.
Đối với việc mẹ chị bà Thị Thêu yêu cầu Tòa án công nhận bản di chúc
của cụ Trần Văn Lượng, cụ Thị Thụ lập ngày 06/3/2006, chứng thực của
Ủy ban nhân xã Mỹ Xá, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định vào ngày
13/3/2006 là hợp pháp và đề nghị Tòa án công nhận thừa kế tài sản theo di chúc;
đồng thời chia di sản thừa kế của ông Trần Hưng Long theo pháp luật thì chị
hoàn toàn đồng ý. Do chị anh Trần Quang Huy từ chối nhận di sản thừa kế
8
của ông Trần Hưng Long nên toàn bộ di sản thừa kế của ông Trần Hưng Long
chị đề nghị giao cho bà Vũ Thị Thêu.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định tại
chỗ định giá tài sản tranh chấp cụ thể: Thửa đất số 13+33, tờ bản đồ số 22.1
địa chỉ tại phường Mỹ Xá, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định (nay là phường
Thành Nam, tỉnh Ninh Bình) đã được Ủy ban nhân dân thành phố Nam Định,
tỉnh Nam Định cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 256227 ngày
29/12/2005 đứng tên cụ Trần Văn Lượng cụ Thị Thụ các cạnh tiếp
giáp theo sơ đồ đo đạc hiện trạng thửa đất. Tổng diện tích đất theo hiện trạng
1.743,9m
2
; diện tích thửa đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
1.780,4m
2
. Như vậy, hiện trạng sử dụng đất ít hơn so với Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất 36,5m
2
. Hiện tại, các đương sự nhất trí và không có ý kiến
gì với kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc ngày 06/5/2025.
Về kết quả xem xét thẩm định và định giá tài sản tranh chấp thì giá đất chia
làm 02 vị trí, cụ thể: Giá đất (vị trí 3) trị giá 7.000.000đ/m
2
x 558m
2
=
3.906.000.000 đồng; giá đất ở (vị trí 4) trị giá 4.000.000đ/m
2
x 1.185,9 =
4.743.600.000 đồng. Tổng giá trị quyền sử dụng đất 3.906.000.000 đồng +
4.743.600.000 = 8.649.600.000 đồng (tám tsáu trăm bốn mươi chín triệu sáu
trăm nghìn đồng).
Về tài sản trên đất gồm có:
Cổng thứ nhất, 02 trụ gạch x 2 kích thước 0,4m x 0,4m x 2m trị giá
1.214.000 đồng; 02 cánh cổng kích thước 1,5m x 1,6m trị giá 331.200 đồng.
Cổng thứ hai, 02 trụ gạch, ốp gạch Ceramic màu đỏ, kích thước 0,5m x
0,5m x 2,5m trị giá 1.966.000 đồng; 02 cánh cổng kích thước 1,8m x 0,8m trị
giá 3.312.000 đồng.
01 căn nhà mái bằng, 02 tầng + công trình phụ xây năm 2002; trị g
318.012.890 đồng. 01 căn nhà ngói đã cũ, xây khoảng năm 1972 không còn giá
trị sdụng. 01 nhà mái bằng 01 tầng, xây năm 1992 trị giá 74.735.976 đồng.
Khu công trình phụ đã cũ mái bằng gồm nhà kho, nhà bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh,
có bể nước trị giá 62.676.528 đồng.
Nhà 02 tầng khung cột tông chịu lực xây dựng năm 2013 trị giá
816.779.998 đồng. Nhà kho xây dựng năm 2017 trị giá 108.740.426 đồng.
Tổng g trị tài sản trên đất các đương sự yêu cầu định giá là:
1.387.769.018 đồng (một tỷ ba trăm tám mươi bẩy triệu bẩy trăm sáu mươi chín
nghìn không trăm mười tám đồng).
Tổng giá trị quyền sử dụng đất tài sản trên đất 10.037.369.018 đồng
(mười tỷ không trăm ba mươi bẩy triệu ba trăm sáu mươi chín nghìn không trăm
mười tám đồng).
Ngoài ra, còn một số tài sản khác các đương sự không yêu cầu định g
nên giá trị xác định bằng không.
9
Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc định giá tài sản, nguyên
đơn tự nguyện nộp toàn bộ và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Bản Kết luận giám định số 70/KL-KTHS ngày 13-6-2025 của Phòng
Kthuật hình sCông an tỉnh Nam Định xác định: Chữ ký, chữ viết đứng tên
Trần Văn Lượng dưới mục “Chữ của chồng” trên bản di chúc cụ Trần Văn
Lượng, cụ Hà Thị Thụ lập ngày 06/3/2006, đã được Ủy ban nhân dân xã Mỹ Xá,
thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định (nay phường Thành Nam, tỉnh Ninh
Bình) chứng thực vào ngày 13/3/2006 so sánh với các mẫu gửi giám định do
cùng một người ký, viết ra.
Về chi phí giám định chữ ký, chữ viết của ông Trần Văn Lượng, bà Trần
Thị Bích, Trần Thị Ngọc đã thanh toán xong và tự nguyện nộp toàn bộ;
không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Bản án dân s sơ thẩm số 16/2025/DS-ST ngày 23/9/2025 của Toà án
nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình đã Quyết định: Căn cứ vào các Điều 633, Điều
635, Điều 646, Điều 647, Điều 648, Điều 649, Điều 652, Điều 653, Điều 657,
Điều 667, Điều 669, Điều 674, Điều 676 Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 620,
Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 220 Luật Đất đai 2024; khoản 5 Điều
26; khoản 1 Điều 35 điểm c khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147 Bộ luật T
tụng dân sự; Điều 2 Luật người cao tuổi Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị Thêu.
ng nhận bản di chúc của cụ Trần Văn Lượng cụ Thị Thụ lập ngày
06/3/2006, chứng thực của Ủy ban nhân xã Mỹ Xá, thành phố Nam Định,
tỉnh Nam Định vào ngày 13/3/2006 là di chúc hợp pháp.
Giao bà Trần Thị Tuyết được toàn quyền sở hữu, sử dụng: Nhà và đất ở tại
thửa đất số 13+33, tờ bản đồ số 22.1, địa chỉ s nhà 9/273 đường Hiến
Thành, phường Mỹ Xá, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định (nay s nhà
9/273 đường Hiến Thành, phường Thành Nam, tỉnh Ninh Bình), diện tích
53,3m
2
đất, trị giá 373.100.000 đồng (ba trăm bẩy mươi ba triệu một trăm nghìn
đồng); được giới hạn bởi các điểm 54, 55, 56, 57, 59, 60, 61, 62 về 54. Tài sản
gắn liền với đất: Căn nhà mái bằng 02 tầng diện tích 40,1m
2
, trị giá 318.012.890
đồng (ba trăm mười tám triệu không trăm mười hai nghìn tám trăm chín mươi
đồng). Tổng trị giá quyền sdụng đất tài sản gắn liền với đất là 691.113.000
đồng (đã làm tròn).
Chấp nhận stự nguyện của anh Trần Quang Huy chị Trần Thị Tiến về
việc tchối kỷ phần thừa kế được hưởng từ di sản của ông Trần Hưng Long.
Giao bà Thị Thêu được quyền sở hữu, sử dụng: Diện tích 1679,4m
2
đất, tại
thửa đất số 13+33, tờ bản đồ số 22.1, địa chỉ: Số nhà 11/273 đường Hiến
Thành, phường Mỹ Xá, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định (nay s nhà
11/273 đường Tô Hiến Thành, phường Thành Nam, tỉnh Ninh Bình), trị giá
8.198.100.000 đồng, được giới hạn bởi các điểm 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11,
10
12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32,
33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 62, 61, 60,
59, 57, 58 về 1. Các tài sản gắn liền với đất gồm: 01 căn nhà mái ngói đã cũ, xây
năm 1972 không còn giá trị sử dụng; 01 nhà mái bằng 01 tầng xây năm 1992, trị
giá 74.735.976 đồng; khu công trình phụ đã cũ, mái bằng gồm nhà kho, nhà bếp,
nhà tắm, nhà vệ sinh, bể nước trị g 62.676.528 đồng; cổng thứ 2 trị giá
5.278.000 đồng; nhà 02 tầng xây năm 2013, trị giá 816.779.998 đồng; nhà kho
xây dựng năm 2017 trị giá 108.740.426 đồng. Tổng trị giá quyền sử dụng đất
tài sản gắn liền với đất là 9.266.310.000 đồng (đã làm tròn).
Về ngõ đi chung vào thửa đất: Xác định phần diện tích đất 11,2m
2
trị g
78.400.000 đồng, được giới hạn bởi các điểm 50, 51 ,52, 53, 54, 62 về 50 là ngõ
đi chung giữa hộ bà Vũ Thị Thêu và hộ bà Trần Thị Tuyết.
Có sơ đồ phân chia quyền sử dụng đất kèm theo bản án.
Ngoài ra, Tòa án cấp thẩm còn buộc đương s liên hvới quan Nhà
nước thẩm quyền để làm th tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
theo quy định và miễn toàn bán phí cho c đương s, cũng như tuyên quyền
kháng cáo choc đương sự theo luật định.
Ngày 26 tháng 9 năm 2025, bị đơn Trần Thị Tuyết người quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Bích đều kháng cáo không đồng ý với bản án
sơ thẩm và đề nghị huỷ toàn bộ Bản án sơ thẩm số 16/2025/DS-ST ngày
23/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình hoặc tuyên di chúc ngày
02/3/2006 ngày 06/3/2006 hiệu; đồng thời, chia di sản của cụ Trần Văn
Lượng và cụ Hà Văn Thụ theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm, những người kháng cáo thay đổi nội dung kháng
cáo; đồng thời, thống nhất thoả thuận với nguyên đơn những người quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan, như sau:
Các đương sự đều thừa nhn bản di chúc của cụ Trần Văn Lượng cụ
Thị Thụ lập ngày 06/3/2006, chứng thực của Ủy ban nhân Mỹ Xá, thành
phố Nam Định, tỉnh Nam Định vào ngày 13/3/2006 là di chúc hợp pháp.
Giao bà Thị Thêu được quyền sử dụng 1.478,1m
2
đất toàn bộ tài
sản nằm trên diện tích đất được giao. Giao bà Trần Thị Tuyết được quyền sử
dụng 53,3m
2
đất ở và tài sản nằm trên diện tích đất được giao. Giao bà Trần Thị
Tuyết, Trần Thị Bích, Trần Thị Ngọc, Trần Thị Nhung và Trần
Thanh Lan cùng sử dụng chung diện tích 195,8m
2
đất một số tài sản, cây
cối không đáng giá nằm trên diện tích đất được giao, giáp với phần đất giao cho
bà Tuyết ở phía Đông.
Để lại diện tích 16,5m
2
đất làm ngõ đi chung cho các đồng thừa kế.
Đương sự được hưởng di sản thừa kế không phải trả chênh lệch tài sản cho các
đồng thừa kế khác. Đối với án phí các đương sự đều đề nghị miễn án phí theo
quy định; riêng chi phí thẩm định, định giá và giám định các đương sự đã tự giải
quyết, không yêu cầu Toà án giải quyết.
11
Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa xác định: Quá trình thụ lý, giải
quyết xét xử, Thẩm phán; Hội đồng xét xử; Thư Tòa án các đương sự đã
tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Hướng giải quyết vụ
án đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 300; khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố
tụng dân sự. Sửa bản án thẩm theo hướng công nhận sthoả thuận của các
đương sự tại phiên toà; cụ thể: ng nhận bản di chúc của cụ Trần Văn Lượng và
cụ Thị Thụ lập ngày 06/3/2006, chứng thực của Ủy ban nhân Mỹ Xá,
thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định vào ngày 13/3/2006 là di chúc hợp pháp.
Giao Thị Thêu được quyền sử dụng 1.478,1m
2
đất toàn bộ tài
sản nằm trên diện tích đất được giao. Giao Trần Thị Tuyết được quyền sử
dụng 53,3m
2
đất ở và tài sản nằm trên diện tích đất được giao. Giao bà Trần Thị
Tuyết, Trần Thị Bích, Trần Thị Ngọc, Trần Thị Nhung Trần
Thanh Lan cùng sử dụng chung diện tích 195,8m
2
đất một số tài sản, cây
cối không đáng giá nằm trên diện tích đất được giao, giáp với phần đất giao cho
Tuyết phía Đông. Đlại diện tích 16,5m
2
đất làm ngõ đi chung cho các
đồng thừa kế. Đương sự được hưởng di sản thừa kế không phải trả chênh lệch
tài sản cho các đồng thừa kế khác.
Ván phí, buộc Trần Thị Ngọc phải chịu án phí dân sự thẩm tương
ứng với số tiền Ngọc được hưởng theo quy định của pháp luật; miễn án phí
dân sự thẩm cho các Vũ Thị Thêu, Trần Thị Tuyết, Trần Thị Nhung, Trần
Thị Bích, Trần Thanh Lan miễn án phí dân sự phúc thẩm cho Trần Thị
Tuyết, bà Trần Thị Bích.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
toà căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, nghe Kiểm sát viên phát biểu
ý kiến, sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Vụ án dân sự tranh chấp về thừa kế tài sản thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1
Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Tòa án nhân dân
khu vực 7 - Ninh nh thụ lý giải quyết theo trình tự thẩm đúng thẩm quyền.
[2] Về nội dung vụ án: Cụ Trần Văn Lượng cụ Thị Thụ hai vợ
chồng, trước khi chết 02 cụ để lại di chúc diện tích 1.780,4m
2
đất theo
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 256227 của Uỷ ban nhân dân thành
phố Nam Định, tỉnh Nam Định ngày 29/12/2005 đứng tên cụ Trần Văn Lượng
Thị Thụ; tuy nhiên khi thẩm định tại chỗ đo đạc ngày 06/5/2025 thì
diện tích thực tế 1.743,9m
2
. Trị giá 8.649.600.000 đồng; trong đó: Đất gồm
2 vị trí (vị trí 3 trị giá 7.000.000 đồng/m
2
x 558m
2
= 3.906.000.000 đồng; vị trí 4
trị giá 4.000.000đồng/m
2
x 1.185,9m
2
= 4.743.600.000 đồng). Ngoài ra, cụ
Lượng cụ Thụ còn để lại 01 căn nmái ngói đã cũ, xây năm 1972 không
còn giá trị sử dụng.
12
Tài sản trên đất gồm có: 01 nmái bằng 01 tầng xây năm 1992, trị giá
74.735.976 đồng; khu công trình phụ đã cũ, mái bằng gồm nhà kho, nhà bếp,
nhà tắm, nhà vệ sinh, bể nước trị g 62.676.528 đồng; cổng thứ 2 trị giá
5.278.000 đồng, nhà 02 tầng xây năm 2013 trị giá 816.779.998 đồng, nhà kho
xây dựng năm 2017 trị giá 108.740.426 đồng, căn nhà mái bằng 02 tầng trị giá
318.012.890 đồng. Tổng trị giá tài sản trên đất là 1.386.223.818 đồng.
[3] Xác định cụ Trần Văn Lượng, cụ Hà Thị Thụ không con nuôi, con
riêng, không bố mẹ nuôi sinh được 06 người con gồm: Trần Thị
Nhung, ông Trần Hưng Long, Trần Thị Tuyết, Trần Thanh Lan, Trần
Thị Bích, bà Trần Thị Ngọc.
[4] Xét kháng cáo của Trần Thị Tuyết Trần Thị Bích, Hội đồng
xét xử thấy: Tại phiên tòa phúc thẩm, những người kháng cáo thay đổi nội dung
kháng cáo; đồng thời, thống nhất thoả thuận với nguyên đơn những người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, như sau:
Các đương sự đều tha nhận bản di chúc của cụ Trần Văn Lượng và cụ
Thị Thụ lập ngày 06/3/2006, chứng thực của Ủy ban nhân Mỹ Xá, thành
phố Nam Định, tỉnh Nam Định vào ngày 13/3/2006 là di chúc hợp pháp.
Giao Thị Thêu được quyền sử dụng 1.478,1m
2
đất toàn bộ tài
sản nằm trên diện tích đất được giao. Giao Trần Thị Tuyết được quyền sử
dụng 53,3m
2
đất ở và tài sản nằm trên diện tích đất được giao. Giao bà Trần Thị
Tuyết, Trần Thị Bích, Trần Thị Ngọc, Trần Thị Nhung Trần
Thanh Lan cùng sử dụng chung diện tích 195,8m
2
đất một số tài sản, cây
cối không đáng giá nằm trên diện tích đất được giao, giáp với phần đất giao cho
bà Tuyết ở phía Đông.
Để lại diện tích 16,5m
2
đất làm ngõ đi chung cho các đồng thừa kế.
Đương sự được hưởng di sản thừa kế không phải trả chênh lệch tài sản cho các
đồng thừa kế khác. Đối với án phí các đương sự đều đề nghị miễn án phí theo
quy định; riêng chi phí thẩm định, định giá và giám định các đương sự đã tự giải
quyết, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Xét việc thoả thuận của các đương sự tại phiên toà tự nguyện, không bị
ép buộc nên Hội đồng xét xử công nhận sự thoả thuận của các đương sphù
hợp với Điều 300 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[5] Về án phí dân sự: Do các Thị Thêu, Trần Thị Tuyết, Trần Thị
Nhung, Trần Thị Bích, Trần Thanh Lan là những người cao tui (trên 60 tuổi)
đều đnghmiễn án phí nên Hội đồng xét xmiễn toàn bộ án phí n sự
thẩm và pc thm theo quy định. Đối với bà Trn ThNgọc, không phải
là người cao tuổi (dưới 60 tuổi) nên buộc Trần Thị Ngọc phải chịu án phí
dân sự sơ thẩm tương ứng với số tiền bà Ngọc được hưởng theo kỷ phần thừa kế
1.370.600.000 đồng : 5 = 274.120.000 đồng x 5% = 13.706.000 đồng là hoàn
hoàn phù hợp với Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm
2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
13
Các quyết định khác của bản án thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 300; khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; sửa Bản
án dân sự sơ thẩm số 16/2025/DS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2025 của Toà án
nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình.
Căn cứ vào các Điều 633, 635, 646, 647, 648, 649, 652, 653, 657, 667,
Điều 669, 674 Điều 676 của Bộ luật Dân sự năm 2005; các Điều 620 623
của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 220 Luật Đất đai 2024; khoản 5 Điều 26,
khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 khoản 1 Điều 147 của Bộ luật T
tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016
của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị Thêu.
1.1. Công nhận bản di chúc của cụ Trần Văn Lượng và cụ Thị Thụ lập
ngày 06/3/2006, chứng thực của Ủy ban nhân Mỹ Xá, thành phố Nam
Định, tỉnh Nam Định vào ngày 13/3/2006 là di chúc hợp pháp.
1.2. Chấp nhận sự tự nguyện của anh Trần Quang Huy và chị Trần Thị Tiến
về việc từ chối kỷ phần thừa kế được hưởng từ di sản của ông Trần Hưng Long.
Giao Thị Thêu được quyền sử dụng 1.478,1m
2
đất toàn bộ tài sản
nằm trên diện tích đất được giao, tại thửa đất số 13+33, tờ bản đồ số 22.1, s
nhà 11, ngõ 273, đường Hiến Thành, phường Mỹ Xá, thành phố Nam Định,
tỉnh Nam Định (nay phường Thành Nam, tỉnh Ninh Bình) được giới hạn bởi
các điểm 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26,
27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47,
48, 49, 50, 51, 52, 65, 64 về 8.
1.3. Giao Trần Thị Tuyết được quyền sử dụng 53,3m
2
đất tài sản
nằm trên diện tích đất được giao, tại thửa đất số 13+33, tờ bản đồ số 22.1, s
nhà 9, ngõ 273, đường Hiến Thành, phường Mỹ Xá, thành phố Nam Định,
tỉnh Nam Định (nay phường Thành Nam, tỉnh Ninh Bình) được giới hạn bởi
các điểm 58, 59, 60, 61, 66, 63 về 58.
1.4. GiaoTrần Thị Tuyết, bà Trần Thị Bích, Trần Thị Ngọc, bà Trần
Thị Nhung Trần Thanh Lan cùng sử dụng chung diện tích 195,8m
2
đất
một số tài sản, cây cối không đáng giá nằm trên diện tích đất được giao, giáp
với phần đất giao cho Tuyết ở phía Đông, tại thửa đất số 13+33, tờ bản đồ số
22.1, ngõ 273, đường Hiến Thành, phường Mỹ Xá, thành phố Nam Định,
tỉnh Nam Định (nay phường Thành Nam, tỉnh Ninh Bình) được giới hạn bởi
các điểm 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 64, 63, 66, 61, 62 về 1.
14
2. Về ngõ đi chung: Xác định phần diện tích 16,5m
2
đất được giới hạn
bởi các điểm 53, 54, 55, 56, 57, 58, 63, 64, 65 về 53 ngõ đi chung cho các
đồng thừa kế.
3. Đương sđược hưởng di sản thừa kế không phải trả chênh lệch tài sản
cho các đồng thừa kế khác.
Có sơ đồ phân chia quyền sử dụng đất kèm theo bản án.
4. Bản án có hiệu lực pháp luật, các đương sự phải có trách nhiệm bàn giao
tài sản theo đúng bản án quyền liên hệ với quan Nnước thẩm
quyền để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định.
5. Ván phí: Buộc Trần Thị Ngọc phải nộp 13.706.000 đồng (mười ba
triệu bẩy trăm linh sáu nghìn đồng) án phí dân sự thẩm. Miễn án phí dân s
thẩm cho Thị Thêu, Trần Thị Tuyết, Trần Thị Bích, Trần Th
Nhung, Trần Thanh Lan miễn án phí dân sự phúc thẩm cho Trần Thị
Tuyết, bà Trần Thị Bích.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân s
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành
án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật
Thi hành án dân sự.
Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Toà Phúc thẩm TANDTC tại Hà Nội;
- VKSND tỉnh Ninh Bình;
- Phòng KTTT&THA Tòa án tỉnh;
- TAND khu vực 7 - Ninh Bình;
- VKSND khu vực 7 - Ninh Bình;
- THADS tỉnh Ninh Bình;
- Các đương sự;
- Tòa Dân sự;
- Bộ phận HCTP;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
(đã ký)
Nguyễn Đức Thủy
Tải về
Bản án số 31/2026/DS-PT Bản án số 31/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 31/2026/DS-PT Bản án số 31/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất