Bản án số 70/2025/DS-ST ngày 28/04/2025 của TAND huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang về tranh chấp về hứa thưởng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 70/2025/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 70/2025/DS-ST ngày 28/04/2025 của TAND huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang về tranh chấp về hứa thưởng
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về Hứa thưởng
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Chợ Mới (TAND tỉnh An Giang)
Số hiệu: 70/2025/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/04/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Huy Phong
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hồng và bà Phạm Xuân Đào.
- Thư phiên toà: Huỳnh Tiểu Ngọc, Thư Toà án nhân dân huyện
Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia
phiên tòa:
Đoàn Thụy Thùy Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chợ Mới xét
xử thẩm công khai vụ án thụ số 1164/2024/TLST- DS ngày 10 tháng 10 năm
2024 về tranh chấp“Hợp đồng dịch vụ, hứa thưởng” theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số 144/2025/QĐXX-ST ngày 21 tháng 3 năm 2025; Quyết định hoãn phiên
tòa số 175/2025/QĐST-ST ngày 14 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Thanh Trường G, sinh năm 1983; địa chỉ: số B, ấp
B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, (vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Trần Thanh H, sinh năm
1997; địa chỉ: ấp T, T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, người đại diện ủy quyền
theo Văn bản ủy quyền được Ủy ban nhân dân B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp
chứng nhận ngày 11/4/2024, (có đơn xin xử vắng mặt).
2. Bị đơn:
2.1 Ông Mai Văn Hùng C, sinh năm 1971; địa chỉ: ấp K, K, huyện C,
tỉnh An Giang, (vắng mặt).
2.2 Lâm Thị L, sinh năm: 1968; cùng ngụ tại: ấp K, xã K, huyện C, tỉnh
An Giang, (có mặt, tự ý bỏ về tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI
TỈNH AN GIANG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 66/2025/DS-ST
Ngày: 28/4/2025
V/v tranh chấp“hợp đồng dịch
vụ, hứa thưởng”.
2
Theo đơn khởi kiện, lời khai thu thập trong quá trình giải quyết vụ án lời
trình bày tại các phiên hòa giải, nguyên đơn, người đại diện hợp pháp cho nguyên
đơn Trần Thanh H trình bày:
Vào ngày 10/9/2023, ông Mai Văn Hùng C Lâm Thị L nhờ ông
Thanh Trường G vấn, hỗ trợ pháp lý, làm hồ sơ, thủ tục, thu thập tài liệu chứng
cứ cho ông C L để tham gia vụ kiện tranh chấp “hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất” giữa ông C, bà L với ông Võ Công D vào năm 2020. Ông C và
L làm hợp đồng hứa thưởng với ông G với nội dung là: “Sau khi kết thúc vụ
án ông Mai Văn Hùng C và bà Lâm Thị L được Tòa án tuyên bằng bản án hiệu
lực pháp luật cho ông Mai Văn Hùng C Lâm Thị L được tiếp tục thực hiện
hợp đồng chuyển nhượng hoặc tuyên bên mua đất mất tiền cọc thì ông Mai Văn
Hùng C Lâm Thị L nghĩa vthanh toán chi phí hỗ trợ tố tụng thưởng
cho ông G số tiền 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng)”. Ngày 29/9/2023, Tòa án
nhân dân huyện Chợ Mới xét xử với kết quả tuyên vợ chồng là ông Mai Văn Hùng
C Lâm Thị L thắng kiện. Đến ngày 14/10/2023, Bản án dân sự thẩm phát
sinh hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, sau khi kết quả giải quyết vụ án được thắng
kiện, ông G nhiều lần yêu cầu ông C, bà L thực hiện việc trả thưởng nhưng ông C,
L cứ hẹn lần này đến lần khác, đến nay ông Mai Văn Hùng C Lâm Thị L
vẫn chưa thanh toán số tiền là 30.000.000 đồng (Ba ơi triệu đồng) cho ông G
theo cam kết phát sinh từ hợp đồng.
vậy, ông G khởi kiện yêu cầu Tòa án: Buộc ông Mai Văn ng C
Lâm Thị L phải nghĩa vụ trả cho ông số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu
đồng) lãi suất chậm trả của số tiền 30.000.000 đồng theo mức lãi suất
0,83%/tháng tính từ ngày 14/10/2023 đến ngày 14/8/2024 (10 tháng) với số tiền
2.490.000 đồng (Hai triệu bốn trăm chín mươi nghìn đồng). Tổng gốc và lãi số tiền
32.490.000 đồng (Ba ơi hai triệu bốn trăm chín mươi nghìn đồng). Đồng
thời, tiếp tục tính lãi chậm trả của số tiền 30.000.000 đồng theo mức lãi suất
0.83%/tháng tính từ ngày 15/8/2024 đến khi giải quyết xong vụ án.
Tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là: 01
(một) hợp đồng hứa thưởng ngày 10/9/2023 (photo).
Quá trình giải quyết vụ án;
Ông Trần Thanh H đại diện hợp pháp cho nguyên đơn trình bày, t lại một
phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 2.000.000 đồng do ông C, L đã thanh
toán và không yêu cầu tính lãi; chỉ yêu cầu ông C, bà L nghĩa vụ trả số tiền hứa
thưởng 28.000.000 đồng.
Bị đơn Lâm Thị L khai, vào ngày 10/9/2023, ông Mai Văn Hùng C
(chồng bà) nhờ ông Thanh Trường G vấn, hỗ trợ pháp lý, làm hồ sơ, th
3
tục, thu thập tài liệu chứng cứ cho vợ chồng bà tham gia vụ kiện với ông Công
D, Đào Thị Ánh X. Vợ chồng bà làm hợp đồng hứa thưởng với ông G với
nội dung là: trường hợp, sau khi kết thúc vụ án vợ chồng được Tòa án tuyên
bằng bản án hiệu lực pháp luật cho vợ được tiếp tục thực hiện hợp đồng
chuyển nhượng hoặc tuyên bên mua đất mất tiền cọc thì vợ chồng nghĩa vụ
thanh toán chi phí hỗ trợ tố tụng thưởng cho ông G số tiền 30.000.000 đồng
(Ba mươi triệu đồng). Ngày 29/9/2023, Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới đã giải
quyết tuyên vợ chồng thắng kiện, bên mua đất mất tiền cọc. Đến ngày
14/10/2023, Bản án dân sự thẩm hiệu lực pháp luật. Với yêu cầu khởi kiện
của ông Thanh Trường G thì đồng ý trả số tiền hứa thưởng 30.000.000
đồng. xác định chữ trong hợp đồng hứa thưởng ngày 10/9/2023 chữ
của vchồng bà. Tuy nhiên, hiện nay do hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên
bà xin xem xét trả dần, đối với số tiền yêu cầu tính lãi thì bà xin ông G bỏ ra không
yêu cầu hiện nay hoàn cảnh khó khăn. Chồng Mai Văn Hùng C hiện nay đi
làm tại tỉnh Bình Dương thỉnh thoảng mới về nhà, vợ chồng còn vẫn còn tồn tại
hôn nhân, việc Tòa án tống đạt các văn bản, giấy triệu tập bà đều thông báo lại cho
ông C biết, ông C cũng thống nhất số tiền hứa thưởng nhưng xin trả dần.
Bị đơn Mai Văn Hùng C vắng mặt nên không thể ghi nhận được ý kiến,
không văn bản trình bày ý kiến, không cung cấp tài liệu, chứng cứ nên không
tiến hành hòa giải được. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định.
Tại phiên tòa,
Nguyên đơn vắng mặt, đại diện hợp pháp nguyên đơn đơn xin xử vắng
mặt, nội dung trình bày, giữ nguyên ý kiến, rút một phần yêu cầu khởi kiện đối
với số tiền 2.000.000 đồng và không yêu cầu tính lãi suất. u cầu ông C, L có
nghĩa vụ trả cho ông Võ Thanh Trường G số tiền 28.000.000 đồng.
Bị đơn Lâm Thị L, khi Hội đồng xét xử thực hiện thủ tục hỏi, bà Lũy thừa N
nợ tiền hứa thưởng, có ý kiến đề nghị Tòa án triệu tập ông G để thỏa thuận trả dần,
sau khi hội ý Hội đồng xét xử nhận thấy không cần thiết sự mặt của ông G
phía ông G ngay tkhi thụ đã ủy quyền cho ông H, ông H đã đơn xin xử
vắng mặt nên tiếp tục phiên tòa; tuy nhiên, đến phần đại diện Viện kiểm sát tham
gia hỏi thì bà L tự ý bỏ về.
Bị đơn Mai Văn Hùng C vắng mặt nên không thể ghi nhận được ý kiến,
không tiến hành hòa giải được.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ChMới phát biểu quan điểm về
tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán được phân công thụ
giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 195, 196, 197, 198 và
4
Điều 203; Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định
của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 về phiên tòa thẩm, bảo đảm các trình tự,
thủ tục và quyền tranh tụng tại phiên tòa.
- Việc chấp hành pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng đối với
nguyên đơn, từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định tại
các Điều 70, 71 Điều 234; bị đơn Lâm Thị L từ khi thụ vụ án thực hiện đúng
quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, tại phiên tòa L tự ý bỏ về
không chấp nh theo quy định tại Điều 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với ông
Mai n Hùng C đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt,
không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
chưa thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về giải quyết vụ án: xét thấy chứng cứ, chứng minh cho yêu cầu khởi kiện
của ông G Hợp đồng hứa thưởng ngày 10/9/2023 thì L xác định chữ ký trong
hợp đồng của ông C, L với nội dung cam kết sẽ thưởng 30.000.000 đồng cho
ông G sau khi kết thúc vụ án được tòa tuyên bằng một bản án hiệu lực pháp
luật. Phía L cũng thừa nhận hứa thưởng cho ông G 30.000.000 đồng, sau
khi kết thúc vụ án được tòa tuyên bằng bản án hiệu lực pháp luật. Việc giao
kết hợp đồng giữa ông G với ông C, bà L được xác lập trên cơ sở tự nguyện, không
trái đạo đức hội. Ông C, L đã vi phạm thỏa thuận, không thực hiện nghĩa v
như cam kết quá trình tố tụng, bà L vẫn thừa nhận sẽ trả cho ông G số tiền
30.000.000 đồng nhưng do hoàn cảnh khó khăn chưa thực hiện được nên ông G
khởi kiện yêu cầu ông C, L trả số tiền 28.000.000 đồng phù hợp Điều 513,
519, 570, 572 Bộ luật Dân sự. Đối với số tiền 2.000.000 đồng lãi suất theo quy
định pháp luật từ ngày 14/10/2023 đến khi giải quyết xong vụ án, do ông G rút lại
một phần yêu cầu khởi kiện nên cần đình chỉ theo Điều 217, 244 Bộ luật Tố tụng
dân sự.
Từ những phân tích nêu trên, đnghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 513,
519, 570, 572 Bộ luật Dân sự, Điều 217, 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề xuất:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Thanh Trường G.
- Buộc ông Mai Văn Hùng C, Lâm Thị L nghĩa vụ trả cho ông
Thanh Trường G số tiền 28.000.000 đồng.
- Đình chmột phần yêu cầu khởi kiện của ông Thanh Trường G đối với
số tiền 2.000.000 đồng và lãi suất từ ngày 14/10/2023 đến khi giải quyết xong vụ
án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
5
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại phiên
toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà ý kiến phát biểu của đại diện
Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp: Theo đơn khởi kiện nguyên đơn yêu cầu bị đơn
nghĩa vụ trả tiền vay lãi suất; căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự
xác định là tranh chấp“hợp đồng dịch vụ, hứa thưởng”.
[2] Về thẩm quyền: bị đơn địa chỉ trú tại huyện C nên vụ án thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang theo quy
định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật
Tố tụng Dân sự năm 2015.
[3] Về sự vắng mặt của các đương sự: bị đơn Mai Văn Hùng C vắng mặt tuy
được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Tại phiên tòa, bị đơn Lâm Thị L tự ý bỏ về
không chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Vì vậy, Hội đồng
xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự, vẫn tiến hành xét xử vụ
án.
[4] Về nội dung:
[4.1] Về việc xác lập thực hiện hợp đồng: Vào ngày 10/9/2023, ông Mai C
L nhờ ông G vấn, hỗ trợ pháp lý, làm hồ sơ, thủ tục, thu thập tài liệu
chứng cứ cho ông C L để tham gia vụ kiện tranh chấp “hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất” giữa ông C, L với ông Công D vào năm 2020.
Ông C L làm hợp đồng hứa thưởng với ông G với nội dung nếu Tòa án
giải quyết cho ông, bà được thắng kiện thì ông, sẽ thưởng cho ông G số tiền
30.000.000 đồng. Tuy nhiên, sau khi kết quả giải quyết vụ án được thắng kiện,
ông G nhiều lần yêu cầu ông C, L thực hiện việc trả thưởng nhưng ông C, bà L
cứ hẹn lần này đến lần khác, không thực hiện theo thỏa thuận. Vì vậy, ông G khởi
kiện yêu cầu ông Mai Văn Hùng C và bà Lâm Thị L thanh toán số tiền
30.000.000 đồng theo cam kết phát sinh từ hợp đồng.
[4.2] Về nhận định, đánh giá tài liệu, chứng cứ: Trên s Hợp đồng hứa
thưởng ngày 10/9/2023 được lập giữa các bên thể hiện dung “Sau khi kết thúc vụ
án ông Mai Văn Hùng C và bà Lâm Thị L được Tòa án tuyên bằng bản án hiệu
lực pháp luật cho ông Mai Văn Hùng C Lâm Thị L được tiếp tục thực hiện
hợp đồng chuyển nhượng hoặc tuyên bên mua đất mất tiền cọc thì ông Mai Văn
Hùng C Lâm Thị L nghĩa vthanh toán chi phí hỗ trợ tố tụng thưởng
cho ông G số tiền 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng)”. Ngày 29/9/2023, Tòa án
nhân dân huyện Chợ Mới xét xử với kết quả tuyên vợ chồng là ông Mai Văn Hùng
C Lâm Thị L thắng kiện. Đến ngày 14/10/2023, Bản án dân sự thẩm phát
sinh hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, sau khi kết quả giải quyết vụ án được thắng
6
kiện, ông G nhiều lần yêu cầu ông C, bà L thực hiện việc trả thưởng nhưng ông C,
L cứ hẹn lần này đến lần khác, đến nay ông Mai Văn Hùng C Lâm Thị L
vẫn chưa thanh toán số tiền 30.000.000 đồng cho ông G theo cam kết phát sinh
từ hợp đồng. Quá trình giải quyết vụ án, phía ông G cho rằng ông C, L đã thanh
toán số tiền 2.000.000 đồng nên chỉ còn yêu cầu ông C, bà L trả số tiền 28.000.000
đồng. Với phân tích trên, căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông G yêu
cầu ông C, bà L trả số tiền hứa thưởng là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[5] Về việc rút một phần yêu cầu khởi kiện: quá trình giải quyết vụ án tại
phiên tòa, phía đại diện hợp pháp cho nguyên đơn rút lại một phần yêu cầu đối với
số tiền 2.000.000 đồng và không yêu cầu tính lãi suất (rút lại yêu cầu tính lãi từ
ngày 14/10/2023 đến khi giải quyết xong vụ án). Đánh giá việc rút một phần yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp quy định pháp luật,
nên đình chỉ theo quy định tại Điều 217, 244 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[6] Về án phí: Căn cứ khoản 3 Điều 144; Khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng
Dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội;
Do yêu cầu được chấp nhận, nguyên đơn Võ Thanh Trường G được hoàn lại
số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh
An Giang.
Bị đơn Mai n Hùng C, Lâm Thị L phải chịu án phí giá ngạch theo quy
định là 5% trên stiền 28.000.000 đồng, tương ứng 1.400.000 đồng (một triệu bốn
trăm nghìn).
[7] Đánh giá quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên là căn cứ được Hội
đồng xét xử xem xét, chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn co khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39; Điều 147; khoản 2 Điều 227 khoản 1 Điều 273; Điều 217, 244 Bộ luật Tố
tụng Dân sự năm 2015; Căn cứ c 513, 519, 570, 572 Bluật Dân snăm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và
sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Thanh Trường G đối với ông Mai
Văn Hùng C, bà Lâm Thị L.
7
Buộc ông Mai Văn Hùng C, Lâm Thị L nghĩa vụ trả số tiền 28.000.000
đồng (hai mươi tám triệu) cho ông Thanh Trường G.
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với
các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong,
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án
theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự
năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Thanh Trường G đối với
số tiền 2.000.000 đồng yêu cầu tính lãi suất từ ngày 14/10/2023 đến khi giải
quyết xong vụ án.
3. Về án phí:
Ông Võ Thanh Trường G được hoàn lại số tiền 812.000 đồng (tám trăm mười
hai nghìn) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0023309 ngày
10/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Bị đơn Mai Văn Hùng C, Lâm Thị L phải chịu 1.400.000 đồng (một triệu
bốn trăm nghìn), án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn Thanh Trường G, bị đơn Mai Văn
Hùng C, Lâm Thị L được quyền kháng cáo bản án thẩm trong thời hạn 15 ngày
kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc được niêm yết bản án để yêu câu Tòa
án nhân dân tỉnh An Giang giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của
Luật thi hành án dân stngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tnguyện thi
hành án hoặc bị ỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 9 luật thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật
thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh An Giang;
- VKSND H. Chợ Mới;
- Chi cục THADS H. Chợ Mới;
- Các đương sự (để thi hành);
- Lưu: HSVA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Hà Huy Phong
Tải về
Bản án số 70/2025/DS-ST Bản án số 70/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 70/2025/DS-ST Bản án số 70/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất