Bản án số 67/2023/HS-ST ngày 12/12/2023 của TAND huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 67/2023/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 67/2023/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 67/2023/HS-ST ngày 12/12/2023 của TAND huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai |
|---|---|
| Tội danh: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Văn Bàn (TAND tỉnh Lào Cai) |
| Số hiệu: | 67/2023/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 12/12/2023 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: | Cố ý gây thương tích |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản
TÒA ÁNNHÂN DÂN HUYỆN VĂN BÀN
TỈNH LÀO CAI
–––––––––––––––
Bản án số: 67/2023/HS-ST
Ngày 12- 12 -2023
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VỆT NAM
Độc lập - Tự do - H phúc
–––––––––––––––––––––––––––––––
NHÂN DA
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN BÀN, TỈNH LÀO CAI.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Lựa.
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Bà Vi Thị Loan – chức vụ Phó chủ tịch hội liên hiệp phụ nữ huyện Văn
Bàn, tỉnh Lào Cai.
+ Bà Vũ Thị Hồng Hải – Giáo viên trường THCS thị trấn Khánh Yên
huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai.
- Thư ký phiên tòa: Ông Tráng Kháy Phìn - Thư ký tòa án nhân dân huyện
Văn Bàn, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai tham
gia phiên tòa.: Ông Vũ Văn Long - Kiểm sát Viên thực hành quyền công tố, kiểm
sát xét xử tại phiên tòa.
Ngày 12 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn,
tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 67/2023/TLST-HS
ngày 08/11/2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2023/QĐXXST-HS ngày
30/11 2023 đối với bị cáo:
1/Hoàng Mạnh T, sinh ngày 05/4/2005. Nơi sinh: Tại huyện VB, tỉnh L C;
Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Thôn BB, xã Th D, huyện VB, tỉnh L C; Nghề
nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 9/12; Dân tộc: Thái; G tính: Nam; Tôn
giáo: Không; Quốc tịch: Vệt Nam; con ông Hoàng Văn Tiện, sinh năm 1987 và
bà La Thị Vương, sinh năm 1987; Bị cáo chưa có vợ, chưa có con. Nhân thân:
Tốt. Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 27/6/2023. Hiện đang bị tạm giam tại nhà
Tạm giữ Công an huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai. Có mặt.
2/La Quốc A, sinh ngày 13/5/2007. Nơi sinh: Tại huyện VB, tỉnh L C; Nơi
thường trú và nơi ở hiện tại: Thôn BB, xã Th D, huyện VB, tỉnh L C; Nghề
nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: Lớp 9/12; Dân tộc: Thái; G tính: Nam; Tôn
giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông La Văn Thiết, sinh năm 1987 (đã
chết) và bà Hà Thị DA, sinh năm 1986; Bị cáo chưa có vợ chưa có con. Tiền án:
Không; Tiền sự: Không. Nhân thân: Tốt. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn
chặn “Giao người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi cho người đại diện giám sát”
từ ngày 16/10/2023. Có mặt.
3/ Hoàng Văn M, sinh ngày 10/12/2006. Nơi sinh: Tại huyện VB, tỉnh L C;
Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Thôn BB, xã Th D, huyện VB, tỉnh L C; Nghề
nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: Lớp 9/12; Dân tộc: Thái; G tính: Nam; Tôn
giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn Hùng, sinh năm 1981 và
bà Nguyễn Thị Thêm, sinh năm 1979; Bị cáo chưa có vợ con. Tiền án: Không;
Tiền sự: Không. Nhân thân: Tốt. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn
“Giao người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi cho người đại diện giám sát” từ
ngày 16/10/2023.
+) Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Mạnh T là: Bà Lương Thị Chuyến-
Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lào Cai –
Có mặt.
+) Người bào chữa cho bị cáo La Quốc A, Hoàng Văn M là: Ông Nguyễn
Xuân Tuyền- Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước
tỉnh Lào Cai – Có mặt.
+) Người bị hại: A Hoàng Đình Q, sinh ngày 30/6/2006 - Có mặt.
Địa chỉ tại: Thôn Kh Đ, DQ, huyện VB, tỉnh L C.
+) Người đại diện theo pháp luật - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
với bị cáo La Quốc A là: Bà Hà Thị DA, sinh năm 1986. Địa chỉ: Thôn BB, xã Th
D, huyện VB, tỉnh L C- Có mặt.
+) Người đại diện theo pháp luật - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
với bị cáo Hoàng Văn M là: A Hoàng Văn Hùng, sinh năm 1981. Địa chỉ: Thôn
BB, xã Th D, huyện VB, tỉnh L C- Có mặt.
+) Người đại diện cho người bị hại A Hoàng Đình Q là: A Hoàng Văn
Tâm, sinh năm 1990. Địa chỉ: Thôn Kh Đ, DQ, huyện VB, tỉnh L C- Có mặt.
+) Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: A Hoàng Văn Tiện, sinh năm
1987. Địa chỉ: Thôn BB, xã Th D, huyện VB, tỉnh L C- Có mặt.
+) Người làm chứng:
+ A Chu Văn G, sinh ngày 27/12/2004.
+ A La ThA Xuân, sinh ngày 07/11/2001.
Đều trú tại: Thôn BB, xã Th D, huyện VB, tỉnh L C. Đều vắng mặt không có
lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau: Ngày 26 tháng 6 năm 2023, Hoàng Mạnh T và Hoàng
Đình Q (sinh ngày 30 tháng 6 năm 2006, trú tại thôn Khuân Đo, xã Dương Quỳ)
cùng một số người đi gặt lúa giúp gia đình Chu Văn G (sinh ngày 27 tháng 12
năm 2004, trú tại thôn Bản Bô, xã Thẳm Dương, huyện Văn Bàn) sau đó mọi
người ở lại ăn cơm tối. Đến khoảng hơn 00 giờ ngày 27/6/2023, T điều khiển xe
mô tô 24V1 – 042.55 chở G đi chơi thì Q hỏi đi cùng nhưng T không đồng ý nên
Q giữ đuôi xe T lại. T nói “Mày có tin 05 phút nữa tao lên chém mày không”. Q
nói không tin và thách thức T, T nói “Mày đợi tao”rồi điều khiển xe chở G đi.
Trên đường đi, T nói với G “tý tao phải đánh thằng Q một trận” rồi chở G đến
nhà La Quốc A ở cùng thôn để lấy thA kiếm của T gửi ở đây từ trước. Khi đến
nơi, Quốc A đưa cho G 01 thA kiếm bằng kim loại đã han rỉ, loại kiếm một lưỡi
sắc, mũi nhọn, lưỡi kiếm dài 53,7cm dày 0,3cm, chuôi kiếm dài 18cm, đường
kính 03cm. T chở G cầm kiếm về khu vực ngã ba đường liên thôn Nậm Miện –
Bản Bô thì gặp Hoàng Văn M. T bảo M “Có thằng người Dương Quỳ đang uống
rượu ở nhà G, mày đi đánh nó cùng tao”. M đồng ý nói “ừ, đi” và nhìn thấy G
đang cầm thA kiếm. Trong lúc này, La ThA Xuân (sinh ngày 07/11/2001, trú tại
thôn Bản Bô, xã Thẳm Dương) đến nhà G uống rượu cùng Q và mọi người một
lúc rồi đi về đến khu vực ngã 3 đường thì gặp T, M và G. T nói với Xuân “có
người va em, A đi cùng em để tìm gặp đánh thằng đấy”, Xuân không nói gì và ở
lại. T tiếp tục điều khiển xe mô tô đi đón Quốc A, trên đường đi, T nói với Quốc
A “có thằng Dương Quỳ đang uống rượu nhà Thuận Tự, lên đánh nó cùng A,
Quốc A không nói gì đồng ý đi cùng T đến khu vực ngã ba đường M, G và Xuân
đang đợi. Tại đây khi có đủ 05 người, T kể lại việc có mâu thuẫn với Q người ở
Dương Quỳ đang ngồi uống rượu ở nhà G và rủ mọi người đi đánh Q cùng T thì
Quốc A và M đồng ý đi đánh Q cùng T. Còn G và Xuân không muốn đánh Q
nhưng không nói gì và muốn đi cùng đến nhà G trước để khuyên Q ở lại để không
xảy ra đánh nhau.
Sau đó T điều khiển xe máy chở G cầm theo kiếm, M điều khiển xe máy
chở theo Xuân và Quốc A đi theo đường liên thôn Nậm Miện – Bản Bô về nhà G
được một đoạn thì xe của T hết xăng. Xuân đi bộ lên nhà G trước còn mọi người
đi sau, khi cách nhà G 126,95 mét thì T bảo mọi người đứng đợi Q xuống để
đánh. Xuân lên nhà gặp Q khuyên say rượu rồi thì ở lại nhà G ngủ đến hôm sau
rồi về. T đợi thấy Q chưa xuống nên bảo G “lên xem thế nào bảo thằng Q xuống”
rồi bảo M, Quốc A nấp vào ven đường đợi Q xuống thì đánh và đặt thA kiếm
xuống đất. G đi bộ lên nhà gặp Q nói “bạn say rồi thì ở nhà tôi ngủ đi, mai tôi
đưa bạn về”, Q không đồng ý bảo phải về để mai đi làm thì G nói tiếp “Thôi bạn
cứ ngủ nhà tôi đi, có thằng đang chặn đánh bạn dưới kia”. Q liền đi nhA xuống
đường nói to thách thức “đâu, thằng nào đánh tao, từ lúc đi lên Thẳm Dương đến
giờ chưa thằng nào dám chặn đánh tao” còn Xuân và G đi theo sau Q. Khi Q đi
đến vị trí cách chỗ nhóm của T đang nấp đợi 17 mét thì T lao ra đấm vào vùng
đầu, mặt và ôm vật Q xuống đường, M và Quốc A lao đến dùng chân đá vào
người Q còn Xuân và G hô hào can ngăn. Q chống trả đấm lại T thì T bỏ Q ra
chạy về vị trí vừa nấp ở ven đường để lấy thA kiếm sắt còn Q bỏ chạy nấp vào
ven đường cách vị trí bị đánh 14,2 mét. M và Quốc A nhìn thấy T cầm kiếm ra sợ
bị T chém nhầm nên chạy về phía đường QL 279 cách vị trí đánh Q 24,8 mét
đứng nhìn và đợi T. G lúc này bật đèn điện thoại đi đến vị trí Q nấp nói “bạn cứ
ra đây, có tôi đây rồi, về nhà tôi ngủ, tôi nói mà không nghe” thì Q cầm theo 01
đoạn gậy đi ra đường cách vị trí đang nấp 5,4 mét. T thấy Q bước ra thì cầm kiếm
bằng tay phải chạy đến cách Q 0,95 mét vung kiếm lên chém chếch chéo theo
hướng từ trên xuống dưới, từ phải qua trái 01 nhát về phía Q nhưng bị trượt. T
tiếp tục cầm kiếm bằng tay phải vung lên chém 01 nhát từ trên xuống dưới, từ
sau ra trước trúng vào vùng đầu, mặt Q rồi cầm kiếm bỏ chạy đến vị trí M, Quốc
A đang đợi cách đó 12,4 mét. G đưa Q về nhà mình để sơ cứu còn Xuân đi theo
T. Khi về đến nhà Xuân, T gửi lại thA kiếm ở đây rồi về nhà ngủ. Đến 11 giờ giờ
ngày 27/6/2023, T đến cơ quan công an đầu thú khai nhận hành vi của bản thân.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 109/KLTTCT - TTPY
ngày 04/7/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Lào Cai kết luận thương tích của
Hoàng Đình Q như sau:
- Tụ máu nhu mô thuỳ trán phải kích thước 45x23mm, phù não xung quA:
mức tổn thương cơ thể 23%;
- Vỡ xương trán phải: mức tổn thương cơ thể 09%;
- Vết thương vùng mặt hướng từ trên xuống dưới kéo dài từ trán xuống
rãnh mũi phải kích thước trung bình, 14x0,3cm: mức tổn thương cơ thể 6%;
- Bầm tím mi mắt phải, các vết sây xước da tại cằm, ngực trái và thắt lưng
trái không có quy định trong thông tư nên không xếp mức tổn thương cơ thể.
Tổng tỷ lệ % tổn thương cơ thể của Hoàng Đình Q tại thời điểm giám định
là 34%.
Cơ chế hình thành vết thương: Chấn thương trực tiếp;
Vật gây thương tích: vật sắc.
Cơ quan điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định xác định dấu vết Gen
bám dính trên thA kiếm của La ThA Xuân giao nộp. Tại bản kết luận giám định
số 5502/KL – KTHS ngày 22/8/2023 của Viện khoa học hình sự - Bộ công an kết
luận: Trên thA kiếm gửi giám định có bám dính máu người và là máu của Hoàng
Đình Q.
Tại bản cáo trạng số 68/CT-VKS ngày 07/11/2023 của Viện kiểm sát nhân
dân huyện Văn Bàn truy tố bị cáo Hoàng Mạnh T, La Quốc A, Hoàng Văn M ra
trước Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn để xét xử về tội “Cố ý gây thương tích”
theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Hoàng Mạnh T, La Quốc A, Hoàng Văn M đã khai nhận toàn
bộ hành vi phạm tội như đã tóm tắt phần trên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ
hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn trình bày lời luận tội, giữ
nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Hoàng Mạnh T, La Quốc A, Hoàng Văn
M, đề nghị hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hoàng Mạnh T, La Quốc A, Hoàng
Văn M phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134 điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều
17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Mạnh T từ 06 năm
đến 07 năm tù.
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134 điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều
58; Điều 91; Điều 98, khoản 1 Điều 101; Điều 38 Bộ luật hình sự.
+ Xử phạt bị cáo La Quốc A từ 03 năm 08 tháng đến 04 năm 06 tháng tù;
+ Xử phạt bị cáo Hoàng Văn M từ 03 năm 08 tháng đến 04 năm 06 tháng
tù.
Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật
tố tụng hình sự để xử lý vật chứng.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự;
Điều 288; Điều 584; khoản 1 Điều 585; khoản 2 Điều 586; Điều 587; khoản 1
Điều 590 Bộ luật dân sự để giải quyết theo pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử
tuyên bố bị cáo Hoàng Mạnh T phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại
điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17;

Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Mạnh T từ 05 năm 06 tháng đến
05 năm 09 tháng tù.
Tại phiên tòa hôm nay người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử
tuyên bố bị cáo La Quốc A, Hoàng Văn M phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo
quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58;
Điều 91; Điều 98, khoản 1 Điều 101Bộ luật hình sự.
+ Xử phạt bị cáo La Quốc A 03 năm tù;
+ Xử phạt bị cáo Hoàng Văn M 03 năm tù.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ
vào kết quả trA luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng
cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và lời khai của những người tham
gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được trA tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[ 1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện
Văn Bàn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn, Kiểm sát viên
trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục
quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo
không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của các bị cáo bị truy tố: Do mâu thuẫn cá nhân, nên rạng
sáng ngày 27/6/2023 bị cáo Hoàng Mạnh T dùng tay đấm vào vùng đầu, mặt và
ôm vật A Q xuống đường. La Quốc A, Hoàng Văn M lao đến dùng chân đá vào
người A Q. T tiếp tục cầm kiếm bằng tay phải chạy đến cách A Q 0,95 mét kiếm
lên chém chếch chéo theo hướng từ trên xuống dưới, từ phải qua trái 01 nhát về
phía A Q nhưng bị trượt. T tiếp tục cầm kiếm bằng tay phải vung lên chém 01
nhát từ trên xuống dưới, từ sau ra trước trúng vào vùng đầu, mặt A Q gây thương
tích 34% cho Hoàng Đình Q. Như vậy, lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên
tòa phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, kết quả khám nghiệm
hiện trường, kết quả thực nghiệm điều tra, phù hợp với Bản kết luận giám định
pháp y về thương tích số 109/KLTTCT - TTPY ngày 04/7/2023 của Trung tâm
pháp y tỉnh Lào Cai, phù hợp với kết luận điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra
và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được, có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ
sở xác định: Ngày 27/6/2023, các bị cáo T, A, M đã thực hiện hành vi cố ý gây
thương tích 34% cho Hoàng Đình Q. Do đó, hành vi của các bị cáo đã cấu thành
tội “ Cố ý gây thương tích”. Do vậy, Bản cáo trạng số 68/CT-VKS ngày
07/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn đã truy tố bị cáo Hoàng
Mạnh T, La Quốc A, Hoàng Văn M về tội “ Cố ý gây thương tích” quy định tại
điểm c, khoản 3, Điều 134 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội.
[3] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Xét hành vi
dùng hung khí nguy hiểm là kiếm xâm phạm đến 34% sức khỏe của người bị hại,
gây mất trật tự tại địa phương, các bị cáo có nhận thức và hiểu biết pháp luật
nhưng không tìm cách giải quyết mâu thuẫn bằng pháp luật mà các bị cáo coi
thường pháp luật dùng hung khí để giải quyết mâu thuẫn cá nhân, gây bất bình
trong quần chúng nhân dân, gây hậu quả nghiêm trọng đến thân thể A Q bị Tụ
máu nhu mô thuỳ trán phải kích thước 45x23mm, phù não xung quA mức tổn
thương cơ thể 23%; Vỡ xương trán phải: mức tổn thương cơ thể 09%; Vết thương
vùng mặt hướng từ trên xuống dưới kéo dài từ trán xuống rãnh mũi phải kích
thước trung bình, 14x0,3cm: mức tổn thương cơ thể 6%; Bầm tím mi mắt phải,
các vết sây xước da tại cằm, ngực trái và thắt lưng trái. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ
thể của Hoàng Đình Q tại thời điểm giám định là 34%. Do vậy, cÇn cã møc h×nh
ph¹t nghiªm kh¾c, tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo để giáo dục
các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
Vụ án có đồng phạm, tính chất đồng phạm giản đơn, bị cáo T, A, M cùng
thực hiện hành vi cố ý gây thương tích nên mức độ nguy hiểm và vai trò của từng
bị cáo như sau:
Đối với Hoàng Mạnh T là người khởi xướng, chuẩn bị công cụ phương
tiện, rủ rê, lôi kéo bị cáo A, M và trực tiếp đấm vào vùng đầu, mặt và ôm vật A Q
xuống đường, T tiếp tục cầm kiếm bằng tay phải chạy đến cách A Q 0,95 mét
vung kiếm lên chém chếch chéo theo hướng từ trên xuống dưới, từ phải qua trái
01 nhát về phía A Q nhưng bị trượt. T tiếp tục cầm kiếm bằng tay phải vung lên
chém 01 nhát từ trên xuống dưới, từ sau ra trước trúng vào vùng đầu, mặt A Q
gây thương tích 34% cho Hoàng Đình Q nên T phải chịu trách nhiệm chính với
vai trò là người thực hành.
Đối với La Quốc A và Hoàng Văn M sau khi bị cáo T rủ. Bị cáo Quốc A,
M đồng ý tiếp nhận ý trí cùng lao đến dùng chân đá vào người A Q, giúp sức tạo
điều kiện về mặt tinh thần cho bị cáo T để T đến vị trí lấy kiếm quay lại khoảng
01 đến 02 phút khi T cầm kiếm lao đến chém A Q thì Quốc A, M mới bắt đầu
chạy cách ra 12,4 mét để tránh T chém nhầm và đợ T đi về, không có ý thức can
ngăn để mặc cho T gây thương tích 34% cho Hoàng Đình Q. Vì vậy bị cáo Quốc
A, M phải chịu trách nhiệm đồng phạm là người thực hành.
Do đó, khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo Hội đồng xét xử xem xét
mức độ thực hiện hành vi phạm tội của từng bị cáo một mức hình phạt tương
xứng với hành vi phạm tội để giáo dục các bị cáo trở thành người công dân có ích
cho xã hội.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Hoàng Mạnh T, La
Quốc A, Hoàng Văn M không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại
Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và
tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, Riêng bị cáo T sau
khi phạm tôi đã ra đầu thú. Ngoài ra, tác động gia đình thăm hỏi bồi thường thiệt
hại về sức khỏe cho người hại số tiền 3.000.000đ. Tuy nhiên, số tiền bồi thường
này chưa đủ để được hưởng tình tiết giẻm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều
51 Bộ luật hình sự điểm. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt sẽ xem xét khách
quan toàn diện khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo T. Xét giảm nhẹ một
phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo M, A theo quy định tại điểm s khoản 1Điều
51 Bộ luật Hình sự; Bị cáo T theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật
Hình sự để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
Đối với đề nghị của người bào chữa cho bị cáo Hoàng Mạnh T, đề nghị Hội
đồng xét xử xem xét xử. Xử phạt bị cáo Hoàng Mạnh T 5 năm 06 tháng đến 5
năm 09 tháng tù. Xét thấy bị cáo T sử dụng hung khí nguy hiểm xâm phạm đến
sức khỏe của người bị hại, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hậu quả
nghiêm trọng và đến nay mới chỉ bồi thường cho người bị hại được số tiền
3.000.000đ nên việc đề nghị áp dụng đểm b khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự và
đề nghị mức hình phạt từ 5 năm 06 tháng đến 5 năm 09 tháng là chưa t-¬ng xøng
với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm nên không có căn cứ chấp nhận. Tuy
nhiên, Hội đồng xét xử xem xét tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội và
các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân đối với bị cáo một cách khách quan,
toàn diện khi quyết định hình phạt phù hợp với hành vi phạm tội mà bị cáo thực
hiện để thể hiện tính răn đe nhưng cũng có sự khoan hồng của pháp luật.
Đối với đề nghị của người bào chữa cho bị cáo Quốc A, M, đề nghị Hội
đồng xét xử xử phạt bị cáo La Quốc A, Hoàng Văn M mỗi bị cáo 03 năm tù. Xét
thấy bị cáo Quốc A, M tiếp nhận ý trí cùng lao đến dùng chân đá vào người A Q,
giúp sức tạo điều kiện về mặt tinh thần cho bị cáo T, không can ngăn, gây hậu
quả nghiêm trọng đến thân thể A Q nên việc người bào chữa cho bị cáo đề nghị
áp dụng mức hình phạt tù 03 năm là không có căn cứ chấp nhận. Tuy nhiên, Hội
đồng xét xử xem xét tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội và các tình tiết
tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân đối với bị cáo một cách khách quan, toàn diện khi
quyết định hình phạt phù hợp với hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện để thể
hiện tính răn đe nhưng cũng có sự khoan hồng của pháp luật.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên Tòa các bị cáo – người đại diện –
người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan với bị cáo Quốc A, bị cáo M và người bị
hại- đại diện của người bị hại cùng thống nhất tự nguyện liên đới mức bồi thường
thiệt hại sức khỏe cho người bị hại. Trong đó bị cáo Hoàng Mạnh T trả số tiền
30.000.000đ đã bồi thường 3.000.000đ còn phải tiếp tục bồi thường cho người bị
hại số tiền là 27.000.000đ; bị cáo - người đại diện theo pháp luật - người có quyền
lợi nghĩa vụ liên quan với bị cáo La Quốc A trả số tiền 20.000.000đ; bị cáo -
người đại diện theo pháp luật - người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan với bị cáo
Hoàng Văn M trả số tiền 20.000.000đ. Tổng số tiền 70.000.000đ.
[7] Đối với Chu Văn G và La ThA Xuân được Hoàng Mạnh T rủ đi đánh
nhau cùng, sau đó cùng T đi đến nơi xảy ra đánh nhau. Quá trình điều tra xác định
G và Xuân có ý thức không đồng ý cùng T tham gia đánh A Q, trước khi xảy ra
đánh nhau đã chủ động đến gặp, khuyên bảo Q ngủ lại để không xảy ra đánh nhau,
khi xảy ra đánh nhau đã hô hào, can ngăn nên không đồng phạm trong vụ án này.
Cơ quan điều tra không đề cập xem xét, xử lý là có căn cứ. Do vậy, Hội đồng xét
xử không đề cập vấn đề giải quyết.
[7] Về vật chứng: Đối với Mẫu tóc của Hoàng Đình Q hoàn lại sau giám định
và 01 thA kiếm bằng kim loại đã han rỉ, loại kiếm một lưỡi sắc, mũi nhọn, lưỡi
kiếm dài 53,7cm dày 0,3cm, chuôi kiếm dài 18cm, đường kính 03cm mà T sử
dụng để chém A Q đã qua sử dụng không còn giá trị, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với xe mô tô honda Wave biển kiểm soát 24V1 – 042.55 cùng giấy
đăng ký xe số 004605 mang tên Hoàng Văn Truyền thu giữ của Hoàng Mạnh T
xác định là tài sản của A Hoàng Văn Tiện (là bố đẻ của bị cá T). Quá trình điều
tra xác định A Tiện không biết T sử dụng xe để thực hiện hành vi phạm tội nên
Cơ quan điều tra đã trả lại cho A Tiện là có căn cứ. Do vậy, Hội đồng xét xử
không đề cập vấn đề giải quyết.
Đối với 01 căn cước công dân mang tên Hoàng Mạnh T, Cơ quan điều tra
đã trả lại cho T là có căn cứ. Do vậy, Hội đồng xét xử không đề cập vấn đề giải
quyết.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm c, Khoản 3, Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Hoàng Mạnh T, La Quốc A, Hoàng Văn M phạm tội “ Cố
ý gây thương tích”.
Áp dụng: Điểm c khoản 3 Điều 134, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự.
+ Xử phạt bị cáo Hoàng Mạnh T 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình
phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam là ngày 27/6/2023.
Áp dụng: Điểm c khoản 3 Điều 134, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17;
Điều 58; Điều 91, Điều 98 khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự.
+ Xử phạt bị cáo La Quốc A 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp
hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
+ Xử phạt bị cáo Hoàng Văn M 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn
chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
2.Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều
288; Điều 584; khoản 1 Điều 585; đoạn 2 khoản 2 Điều 586; Điều 587; khoản 1
Điều 590 Bộ luật dân sự.
+ Bị cáo Hoàng Mạnh T, Hoàng Văn M, La Quốc A, Người đại diện theo
pháp luật - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan với bị cáo Hoàng Văn M, La
Quốc A phải có nghĩa vụ liên đới mức bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho A
Hoàng Đình Q - Người đại diện cho người bị hại A Hoàng Đình Q số tiền là
67.000.000đ (sáu mươi bảy triệu đồng), cụ thể:
Bị cáo Hoàng Mạnh T phải có nghĩa vụ chịu liên đới bồi thường số tiền
27.000.000đ (hai mươi bảy triệu đồng) cho A Hoàng Đình Q - Người đại diện cho
người bị hại A Hoàng Đình Q.
Bị cáo Hoàng Văn M - Người đại diện theo pháp luật - Người có quyền lợi
nghĩa vụ liên quan với bị cáo Hoàng Văn M là: A Hoàng Văn Hùng phải có nghĩa
vụ chịu liên đới bồi thường số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) cho A
Hoàng Đình Q - Người đại diện cho người bị hại A Hoàng Đình Q.
Bị cáo La Quốc A - Người đại diện theo pháp luật - Người có quyền lợi
nghĩa vụ liên quan với bị cáo La Quốc A là: Bà Hà Thị DA phải có nghĩa vụ chịu

liên đới bồi thường số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) cho A Hoàng Đình
Q - Người đại diện cho người bị hại A Hoàng Đình Q.
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật và từ ngày người được thi hành
án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng
tháng bên phải thi hành án phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm thi hành án
tương ứng với thời gian chậm thi hành án theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân
sự.
3. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản
2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
+ Tịch thu tiêu hủy 01 Mẫu tóc của Hoàng Đình Q hoàn lại sau giám định và
01 thA kiếm bằng kim loại đã han rỉ, loại kiếm một lưỡi sắc, mũi nhọn, lưỡi kiếm
dài 53,7cm, dày 0,3cm, chuôi kiếm dài 18cm, đường kính 03cm (chi tiết vật
chứng như tại biên bản giao nhận vật chứng kho Chi cục Thi hành án dân sự
huyện Văn Bàn ngày 07/11/2023).
4.Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 3
Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30
tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án.
+ Bị cáo Hoàng Mạnh T phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm và
1.350.000 tiền án phí dân sự sơ thẩm. Tổng cộng là 1.550.000 đồng (Một triệu
năm trăm lăm mươi nghìn đồng).
+ Bị cáo La Quốc A, Hoàng Văn M, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án
phí hình sự sơ thẩm và 1.000.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm. Tổng cộng mỗi bị
cáo phải chịu 1.200.000đ ( một triệu hai trăm nghìn đồng).
5. Quyền kháng cáo Bản án: Bị cáo, người đại diện theo pháp luật- người
có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người bào chữa cho bị cáo La Quốc A, Hoàng
Văn M và người bị hại – đại diện người bị hại có mặt có quyền kháng cáo trong
hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các điều 6, điều 7, điều 7a và điều 9 Luật thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành
án dân sự
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Nơi nhận Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai ( 01 );
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai ( 01);
- Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn ( 01 );
- Công an huyện Văn Bàn ( 02 );
- Bị cáo ( 03 );
Người bị hại - NDD ( 02)
- Người ĐD theo pháp luật - Người có QLNVLQ (03);
- Sở tư pháp tỉnh Lào Cai (01 );
- THAHS, THADS huyện Văn Bàn ;
- V.Phòng, C.Án, T.Phán (03 ).
- Lưu H.sơ vụ án ( 02 ).
Đỗ Thị Lựa
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 10/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Bản án số 367/2026/DS-PT ngày 05/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Bản án số 80/2026/KDTM-PT ngày 05/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 04/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 04/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 02/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 02/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm