Bản án số 67/2022/DS-ST ngày 27/09/2022 của TAND TX. Bến Cát, tỉnh Bình Dương về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 67/2022/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 67/2022/DS-ST ngày 27/09/2022 của TAND TX. Bến Cát, tỉnh Bình Dương về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TX. Bến Cát (TAND tỉnh Bình Dương)
Số hiệu: 67/2022/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 27/09/2022
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BẾN CÁT
TỈNH BÌNH DƯƠNG
Bản án số: 67/2022/DS-ST
Ngày 27-9-2022
V/v: Tranh chấp hợp
đồng vay tài sản
CNG HÒA XÃ HI CHNGA VIT NAM
Đc lp - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huỳnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyn Th Thm.
2. Bà Nguyn Kim Lý.
- Thư phiên a: Thị Hiền - Thư Tòa án nhân dân thị Bến Cát,
tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham
gia phiên toà: Ông Trần Hoàng Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị Bến Cát, tỉnh
Bình Dương xét xử thẩm công khai vụ án thụ s 150/2022/TLST-DS ngày 01
tháng 6 năm 2022 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa
vụ án ra xét xử số: 60/2022/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 9 m 2022, giữa:
- Nguyên đơn: Nguyễn Thanh H, sinh năm 1985. Địa chỉ: T4, Khu ph
3A, phường T, thị xã B, tỉnh B; vắng mặt.
- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Thị Ngọc T, sinh năm
1999. Địa chỉ thường trú: Số nhà 38, Đường số 17, Khu 2, phường H, thành phT,
tỉnh B; địa chỉ liên hệ: Khu phố 2, phường M, thị B, tỉnh B; người đại diện
theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 02/6/2022), có mặt.
- Bị đơn: Thị L, sinh năm 1964. Địa chỉ: Tổ 17, Khu ph2, phường M,
thị xã B, tỉnh B; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Vi Quốc T, sinh m 1985. Địa
chỉ: Tổ 4, Khu phố 3A, phường T, thị B, tỉnh B; đơn yêu cầu giải quyết vắng
mặt.
- Người làm chứng: Ông Đào Văn M, sinh năm 1959. Địa chỉ: Khu phố 2,
phường M, thị xã B, tỉnh B; đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 26 tháng 5 năm 2022 quá trình giải quyết vụ án,
người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Nguyễn Thanh H trình bày:
2
Nguyn Thanh H Thị L mi quan h quen biết vi nhau t
trưc. Ngày 27/6/2021, L cn vốn m ăn nên hỏi H vay s tin
330.000.000 đồng. Sau khi hai bên tha thun, H đã đồng ý cho bà L vay s tin
330.000.000 đồng. L đã xác nhận đã nhận đủ s tiền trên, theo đó hai bên thỏa
thun không tính tin lãi sut, thi hn vay mt tháng, t ngày 27/6/2021 đến
ngày 27/7/2021, bà L s tr li s tiền đã vay cho bà H là 330.000.000 đồng.
Ngày 27/7/2021, bà L tr cho bà H được s tin 50.000.000 đng. S tin bà L
còn thiếu H 280.000.000 đồng. H yêu cu L biên nhn tin cho H
nên hai bên làm Biên nhn tin, tên xác nhận lăn tay. T sau ngày tr cho
H 50.000.000 đng thì H tiếp tc liên h vi L yêu cu tr s tin còn li.
Ngày 29/01/2022 (29 tết âm lch), L có tr cho H được thêm s tin
50.000.000 đồng. Sau đó, H đã nhiều ln liên h L yêu cu tr s tin còn li
nhưng Liên c tình tránh, không nghe điện thoi ca H. Hin ti, s tin
gc L chưa trả cho H 230.000.000 đồng. Người đại din hp pháp ca
nguyên đơn tha nhn nội dung: Hôm nay 27-12-2021 Thị L trả 50.000.000
(50.000.000 (năm mươi triệu đồng trong tổng số tiền 330.000.000 đồng (ba trăm ba
mươi triệu) đến 30 tết trả 50.000.000 đồng (năm mươi triệu nữa)” do H
viết nhưng không cho L ký tên xác nhận.
Nhn thy hành vi ca L xâm phạm đến quyn li ích hp pháp ca
H. Do đó, H yêu cu Tòa án gii quyết buc L nghĩa v tr cho H s
tin gốc 230.000.000 đồng tin lãi t ngày L chm thanh toán n (T ngày
29/12/2021) đến khi v án được xét x, tạm tính đến ngày 16/5/2022) vi mc lãi
sut là 10%/năm c th: 230.000.000 x 10%/năm x 5 tháng = 9.545.000 đồng.
Tng cng, bà H yêu cu Toà án buc bà L tr s tiền 239.545.000 đng.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà L phải chịu theo quy định của pháp luật.
- Tại biên bản lấy lời khai ngày 26 tháng 8 năm 2022 quá trình giải quyết
vụ án, bị đơn Vũ Thị L trình bày:
Bà Thị L Nguyễn Thanh H không quen biết nhau trước đó. Ngày
27/12/2021, L vay của H số tiền 230.000.000 đồng nhưng do H tính cả
tiền lãi nên ghi số tiền vay 330.000.000 đồng. Giấy biên nhận tiền do H đánh
máy sẵn và đưa cho L tên, họ tên điểm chỉ vào bên nhận tiền. Mục đích
L vay tiền của L để kinh doanh, việc vay mượn tiền của cá nhân H
L, không liên quan đến người khác. Biên nhận tiền giữa L bà H chỉ lập 01 bản
chính do H giữ. Sau khi biên nhận vay số tiền 330.000.000 đồng thì L đã
trả cho H được 100.000.000 đồng (Lần 1 vào ngày 27/11/2021 dương lịch, lần 2
vào ngày 30 tết âm lịch năm 2021, mỗi lần trả 50.000.000 đồng).
Hiện tại, H yêu cầu Tòa án buộc L trả số tiền gốc 230.000.000 đồng
số tiền lãi 9.545.000 đồng theo “Biên nhận tiền ngày 27/12/2021”. Tổng số tiền
H yêu cầu bà L phải trả là 239.545.000 đồng thì bà L có ý kiến:
Thực tế số tiền gốc H vay chỉ 230.000.000 đồng nhưng do H tính cả
tiền lãi nên H buộc L phải giấy nhận với số tiền 330.000.0000 đồng.
L đã trả được cho H được 100.000.000 đồng. Do đó, L chỉ đồng ý trả cho
H số tiền gốc còn lại là 130.000.000 đồng. Do L đang gặp khó khăn nên L
không đồng ý trả cho bà H tiền lãi. Bà L không cung cấp chứng cứ tài liệu nào khác,
không yêu cầu Tòa án hòa giải và đưa vụ án ra xét xử.
3
Tại bản tự khai ngày 13 tháng 9 năm 2022, người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan Vi Quốc T trình bày:
Ngày 27/6/2021, Thị L liên hệ v chồng ông Vi Quốc T
Nguyễn Thanh H để vay số tiền 330.000.000 đồng. Việc vay mượn tiền không thỏa
thuận lãi suất, thời hạn vay 01 tháng, đến ngày 27/7/2021 L phải nghĩa vụ trả
nợ cho bà H và ông T toàn bộ số tiền gốc đã vay.
Ngày 27/7/2021, L đã trả cho ông T H số tiền 50.000.000 đồng, số
tiền L còn thiếu 280.000.000 đồng. Ông T H yêu cầu bà L bên nhận
nên bà L ký, ghi họ tên và lăn tay. Sau khi L trả 50.000.000 đồng thì ông T
H tiếp tục liên hệ với L yêu cầu trả số tiền còn lại thì đến ngày 29/01/2022
(Ngày 29 tết âm lịch) L trả thêm được số tiền 50.000.000 đồng. Hiện tại, số tiền
L còn thiếu của ông T H 230.000.000 đồng. Ông T H nhiu ln
yêu cu tr s tin còn lại nhưng L c tình tránh, không nghe điện thoi. Ông
T đồng ý vi toàn b yêu cu khi kin ca bà H.
- Tại bản tự khai ngày 26 tháng 8 năm 2022, người làm chứng Đào Văn M
trình bày:
Bà Thị L Nguyễn Thanh H không quen biết nhau trước đó. Ngày
27/12/2021, L vay của H số tiền 230.000.000 đồng nhưng do H tính
tiền lãi nên ghi số tiền vay 330.000.000 đồng. Giấy biên nhận tiền do H đánh
máy sẵn và đưa cho L tên, họ tên điểm chỉ vào bên nhận tiền. Mục đích
L vay tiền của L để kinh doanh. Việc vay mượn tiền là của cá nhân H và bà L.
Biên nhận tiền giữa L H chỉ lập 01 bản chính do H giữ. Sau khi biên
nhận vay stiền 330.000.000 đồng thì L đã trả cho H được 100.000.000 đồng
(Lần 1 o ngày 27/11/2021 dương lịch, lần 2 vào ngày 30 tết âm lịch m 2021,
mỗi lần trả là 50.000.000 đồng).
Hiện tại, H yêu cầu Tòa án buộc L trả số tiền gốc 230.000.000 đồng
số tiền lãi 9.545.000 đồng theo “Biên nhận tiền ngày 27/12/2021”. Tổng số tiền
H yêu cầu L phải trả 239.545.000 đồng thì ông M xác định thực tế số tiền
gốc H cho vay chỉ 230.000.000 đồng nhưng do H tính cả tiền lãi nên H
buộc bà L phải ký giấy nhận với số tiền là 330.000.0000 đồng. L đã trả được cho
H 100.000.000 đồng. Do đó, L chỉ phải trả cho H số tiền gốc còn lại
130.000.000 đồng.
Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của H xác định H cho L
vay số tiền 330.000.000 đồng nhưng L đã trả 50.000.000 đồng nên ghi số tiền
còn lại là 280.000.000 đồng. Sau khi bà H và bà L cùng ký tên thì bà H ghi thêm nội
dung m nay 27-12-2021 Thị L trả 50.000.000 (50.000.000 (năm mươi
triệu đồng trong tổng số tiền 330.000.000 đồng (ba trăm ba mươi triệu) đến 30 tết
trả 50.000.000 đồng (năm mươi triệu nữa)” nhưng quên cho L tên xác
nhận. Do đó, nời đại diện hợp pháp củaH yêu cầu Tòa án buộc bà L trả số tiền
gốc 230.000.000 đồng tiền lãi tính từ ngày 01/02/2022 đến ngày xét xử thẩm
(ngày 27/9/2022) 07 tháng 27 ngày, mức lãi 10%/năm thành tiền lãi 15.141.666
đồng (230.000.000 đồng x 10%/năm x 07 tháng 27 ngày), tổng cộng số tiền
245.141.666 đồng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị Bến Cát, tỉnh Bình Dương phát biểu
ý kiến:
4
Về thủ tục tố tụng: Qtrình giải quyết vụ án tại phiên tòa, Thẩm phán,
Hội đồng xét xử, Thư phiên tòa những người tham gia tố tụng đã tuân thủ
đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các i liệu, chứng cứ trong hồ vụ án
quá trình tranh tụng tại phiên tòa sở xác định Thị L vay Nguyễn
Thanh H số tiền 280.000.000 đồng nhưng L đã trả được số tiền 100.000.000
đồng, còn nợ lại số tiền 180.000.000 đồng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp
nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà H. Đối với số tiền lãi, đề nghị Hội đồng xét
xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra, tranh
tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án:
[1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Toà án buộc bị đơn phải trả số tiền đã vay
nên quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Bị đơn địa ch tại
Tổ 17, Khu phố 2, phường M, thị B, tỉnh B nên vụ án thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương theo quy định tại khoản
3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng
dân sự.
Về nội dung vụ án:
[2] Quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn xác
định, ngày 27/6/2021 Nguyễn Thanh H cho Thị L vay số tiền
330.000.000 đồng nhưng không làm giấy tờ. Ngày 27/12/2021, L trả cho H
được số tiền 50.000.000 đồng, còn nợ lại số tiền 280.000.000 đồng nên mới m
giấy biên nhận tiền đề ngày 27/12/2021. Tuy nhiên, người đại diện hợp pháp của
nguyên đơn không đưa ra được chứng cứ để chứng minh việc H cho L vay s
tiền 330.000.000 đồng L không thừa nhận nên không căn cứ chấp nhận
việc bà H cho bà L vay số tiền 330.000.000 đồng.
[3] Tại “Biên nhận tiềnngày 27/12/2021 do H cung cấp thì L vay
của H số tiền 280.000.000 đồng, thời hạn trả ngày 28/12/2021, giữa các bên
không thỏa thuận lãi suất. Phía dưới chữ “Bên vay” chữ ký, chữ viết dấu lăn
tay của L, nội dung này được L thừa nhận, đây tình tiết không cần phải
chứng minh theo khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Như vậy, Hội đồng
xét xửđủ cơ sở khẳng định L vay của H số tiền 280.000.000 đồng. Hợp
đồng vay tài sản do các bên tự nguyện xác lập, không vi phạm quy định pháp luật
nên có hiệu lực ràng buộc trách nhiệm của các bên.
[4] Đối với nội dung: Hôm nay 27-12-2021 Thị L trả 50.000.000
(50.000.000 (năm mươi triệu đồng trong tổng số tiền 330.000.000 đồng (ba trăm ba
mươi triệu) đến 30 tết trả 50.000.000 đồng (năm mươi triệu nữa)”. Nội dung
này do H viết tay dưới chữ lăn tay của các bên trong giấy biên nhận tiền ngày
27/12/2021, không chữxác nhận của các bên, L không thừa nhận nội dung
này nên không căn cứ để xác định L trtiền vay cho H 50.000.000 đồng
trong tổng số tiền vay 330.000.000 đồng.
[5] Hội đồng xét xử chỉ căn cứ xác định L vay của H số tiền
280.000.000 đồng, đã trả được 50.000.000 đồng vào ngày 27/12/2021
5
50.000.000 đồng vào ngày 30 tết âm lịch theo sự thừa nhận của các bên. Do đó,
L chỉ n nợ bà H số tiền gốc là 180.000.000 đồng.
[6] L cho rằng stiền gốc L vay của H chỉ 230.000.000 đồng
L đã trả được 100.000.000 đồng, còn lại 130.000.000 đồng nhưng không cung
cấp được chứng cứ chứng minh nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.
[7] Về tiền lãi: Tại phiên tòa, người đại diện nguyên đơn hợp pháp của nguyên
đơn yêu cầu tính số tiền lãi của số tiền còn lại 10%/ năm, thời gian tính lãi từ
ngày 01/02/2022 đến ngày xét xử thẩm (ngày 27/9/2022). Tuy nhiên, ngày âm
lịch của của năm 2021 không ngày 30 nên chỉ căn cứ xác định ngày 29 âm
lịch ngày 31/01/2022. Do đó, L phải chịu tiền lãi tính tngày 01/02/2022 đến
ngày 27/9/2022 là 07 tháng 27 ngày với mức lãi suất 10%/năm. Bà L phải trả cho bà
H tiền lãi tính từ ngày 01/02/2022 đến ngày xét x thẩm (ngày 27/9/2022)
180.000.000 đồng x 10%/năm x 07 tháng 27 ngày = 11.850.000 đng.
[8] Quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần
yêu cầu khởi kiện của bà H và đề nghị tính lãi theo quy định là có căn cứ.
[9] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu khởi kiện của bà H được chấp nhận một phần nên bà H không phải
chịu án phí dân sự thẩm đối với yêu cầu được Hội đồng xét xử chấp nhận. Đối
với yêu cầu khởi kiện không được Hội đồng xét xử chấp nhận, H phải chịu án
phí theo quy định của pháp luật.
Bà L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
khoản 2 Điều 92, khoản 4 Điều 147, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật
Tố tụng dân sự.
- Căn cứ Điều 357, Điều 429, Điều 463, Điều 466 Điều 468 của Bộ luật
Dân sự năm 2015.
- Căn cứ Nghquyết s326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp
luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thanh H đối với
Vũ Thị L về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
2. Buộc Thị L nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thanh H số tiền vay
180.000.000 đồng (Một trăm tám mươi triệu đồng) tiền lãi 11.850.000 đồng
(Mưi mt triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng). Tng cng 191.850.000 đồng
(Một trăm chín mươi mt triu tám trăm năm mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật, người được thi hành án đơn yêu
cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu
6
khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều
357 Điều 468 Bộ luật Dân sự m 2015, trừ trường hợp pháp luật quy định
khác.
3. Không chấp nhận yêu cầu của Nguyễn Thanh H khởi kiện Thị L
về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với số tiền vay 50.000.000 đồng
(Năm mươi triệu đồng) tiền lãi 3.291.666 đồng (Ba triệu hai trăm chín mươi mốt
nghìn sáu trăm sáu mươi sáu đồng).
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Nguyễn Thanh H phải chịu 2.664.583 đồng (Hai triệu sáu trăm sáu mươi
bốn nghìn năm trăm m mươi ba đồng) án phí dân sự thẩm, được khấu trừ vào
số tiền 5.988.625 đồng (Năm triệu chín trăm tám mươi tám nghìn sáu trăm hai mươi
lăm đồng) đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số:
AA/2021/0005302 ngày 01 tháng 6 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã
Bến Cát, tỉnh Bình ơng. Trả lại cho Nguyễn Thanh H số tiền 3.324.042 đồng
(Ba triệu ba trăm hai mươi bốn nghìn không trăm bốn mươi hai đồng).
Thị L chịu số tiền 9.592.500 đồng (Chín triệu năm trăm chín mươi hai
nghìn năm trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Đương sự mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày,
kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật Thi hành án
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi
hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Bình Dương;
- VKSND thị xã Bến Cát;
- Chi cục THADS thị xã Bến Cát;
- Các đương sự;
- Lưu: VP, HSVA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Văn Huỳnh
7
8
Tải về
Bản án số 67/2022/DS-ST Bản án số 67/2022/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất