Bản án số 667/2024/HC-PT ngày 28/06/2024 của TAND cấp cao tại TP.HCM

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 667/2024/HC-PT

Tên Bản án: Bản án số 667/2024/HC-PT ngày 28/06/2024 của TAND cấp cao tại TP.HCM
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND cấp cao tại TP.HCM
Số hiệu: 667/2024/HC-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/06/2024
Lĩnh vực: Hành chính
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Ông Bùi Quang Đ kiện Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đ về Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 667/2024/HC-PT
Ngày 28 tháng 6 m 2024
V/v: Khiếu kin quyết định hành chính,
hành vi hành chính trong lĩnh vực thu
hồi đất, gii phóng mt bng, bi
thường, h tr, tái định cư.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Mạnh Cường
Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Công
Bà Đinh Ngọc Thu Hương
- Thư phiên toà: Nguyễn Thị Châu Loan - Thư Toà án nhân
dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên toà: Ông Hà Văn Hiến - Kiểm sát viên cao cấp.
Trong c ngày 25 28 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân
cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm ng khai vụ án hành
chính phúc thẩm thụ số 1140/2023/TLPT-HC ngày 26 tháng 12 năm 2023 về
Khiếu kiện quyết định nh chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực thu hồi
đất, giải phóng mặt bằng, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư”.
Do Bản án hành chính sơ thm s 1851/2023/HC-ST ngày 22 tháng 9
năm 2023 ca Tòa án nhân dân Thành ph H Chí Minh b kháng cáo kháng
ngh.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1777/2024/QĐ-PT
ngày 27 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Ông Bùi Quang Đ, sinh năm 1962; có mặt.
Địa chỉ thường trú: Số 69 Hồ Biểu Ch, P 12, quận Phú N, Thành phố Hồ
Chí Minh;
Địa chỉ liên lạc: B14 - 17A Chung Th - Tân T, số 117/80 Hồ Văn
L, phường Tân T, quận Bình T, Thành phố Hồ Chí Minh.
2
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Bùi Quang Đ:
1. Ông Dương Khánh L là Luật sư của Công ty Luật trách nhiệm hữu hạn
Khánh D và Cộng sự thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt;
Địa chỉ: Tầng 3, Tòa nWMC, số 102A-B-C Cống Q, phường Phạm
Ngũ L, Q 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Ông Đồng Hữu P là Luật sư của Văn phòng Luật sư Đồng Hữu P thuộc
Đoàn Luật sư tỉnh Thừa Thiên H; có mặt.
Địa chỉ: Lô B147 Khu đô thị mới Mỹ Th, phường Phú Tr, thành phố Huế,
tỉnh Thừa Thiên H.
- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đ, Thành phố Hồ Chí
Minh.
Người đại diện theo pháp luật của Người bị kiện: Ông Hoàng T - Ch
tịch Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đ, Thành phố Hồ Chí Minh; có đơn xin xét
xử vắng mặt.
Địa chỉ: Số 168 Trương Văn B, phường Thạnh Mỹ L, thành phố Thủ Đ,
Thành phố Hồ Chí Minh.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Ủy ban nhân dân thành phố
Thủ Đ:
1. Ông Trần Tuấn Kh- Phó Trưởng Ban bồi thường, giải phóng mặt bằng
thành phố Thủ Đ, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
2. Ông Phạm Hoàng Anh T - Phó Trưởng phòng tiếp dân Ban bồi thường,
giải phóng mặt bằng thành phố Thủ Đ, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
3. Nguyễn Thị Thanh H - Phó Trưởng Phòng Nghiệp v I Ban bồi
thường, giải phóng mặt bằng thành phố Thủ Đ, Thành phố Hồ Chí Minh;
mặt.
- Người kháng cáo: Bùi Quang Đ Người khởi kiện, Ủy ban nhân dân
thành phố Thủ Đức là Người bị kiện trong vụ án.
- Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H
Chí Minh.
NI DUNG V ÁN:
Theo Bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ông Bùi Quang Đ trình bày: Ngày 20/9/1990, ông Đ nhận chuyển
nhượng của ông Anh T một căn nhà cấp 4 trên diện tích 40m
2
đất (4m x
10m) thuộc thửa số 506, tờ bản đồ số 56 tại địa chỉ số 01 đường số 54, Khu phố
4, phường Thảo Đ, Q 2 (nay là thành phố Thủ Đ), Thành phố Hồ Chí Minh (bên
hông nhà khoảng đất trống để trồng rau). Ngày 04/8/1999, ông Đ khai
diện tích 40m
2
theo Quyết định 3376/QĐ-UBND của y ban nhân dân Thành
3
phố Hồ Chí Minh. Năm 2003, ông Đ tiến hành xây dựng, sửa chữa lại nhà
nhưng bị Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đ xử vi phạm hành chính do xây
dựng không phép. Sau khi tiến hành kê khai được Văn phòng đăng quyền
sử dụng đất đo, vẽ kiểm tra nội nghiệp, đến ngày 31/3/2008 bà Phạm Thị G (mẹ
của ông Đ) được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu căn
nhà cấp 4 tại địa chỉ trên với diện tích là 90,6m
2
(đứng tên hộ ông Đạt).
Vào các ngày 25/3/2017 và ngày 04/8/2017, Ủy ban nhân dân thành phố
Thủ Đ lần lượt ban hành Quyết định số 1313/QĐ-UBND Quyết định
số
4581/QĐ-UBND nội dung thu hồi một phần diện tích đất bồi thường, hỗ
trợ, tái định để xây dựng Dự án đường nối tđường Nguyễn Văn H đến Xa
lộ Nội trên địa bàn thành phố Thủ Đ (gọi tắt Dự án) đối với ông Bùi
Quang Đ ông Bùi Văn T (em ông Đ) với giá trị bồi thường, hỗ trợ
754.207.720 đồng nhưng không đủ điều kiện tái định cư. Ngày 03/5/2018, ông
Đ đã bàn giao mặt bằng cho Dự án.
Cũng trong năm 2018, giữa ông Bùi Quang Đ ông Bùi Văn T phát
sinh tranh chấp quyền sở hữu căn nhà trên và được giải quyết tại Bản án dân sự
phúc thẩm số 484/2018/DS-PT ngày 16/5/2018 của Toà án nhân dân Thành phố
Hồ Chí Minh, theo đó ông Đ được công nhận quyền sử dụng đất quyền sở
hữu nhà. Ngày 24/9/2018, Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đức ban hành Quyết
định số 4803/QĐ-UBND-TNMT điều chỉnh nội dung của Điều 1 Quyết định
1320/QĐ-UBND ngày 25/3/2017 từ “thu hồi một phần diện tích 62,6m
2
thuộc
thửa đất số 295… của ông Bùi Văn Tông Bùi Quang Đ: thành “thu hồi
một phần diện tích 62,6m
2
thuộc thửa đất s 295… của ông Bùi Quang Đ”.
Ngày 09/10/2018, Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đ ban hành Quyết định số
4965/QĐ-UBND điều chỉnh tên chủ sử dụng và nội dung Điều 1 của Quyết định
số 4581/QĐ-UBND ngày 04/08/2017 t“ông Bùi Văn Tỵ và ông Bùi Quang Đ
thành “ông Bùi Quang Đ”; ngoài ra, giá trị bồi thường, hỗ trợ được điều chỉnh
thành 606.222.040 đồng và không đủ điều kiện tái định cư.
Cho rằng Hội đồng bồi thường Dự án áp dụng quy định v mức giá
không phù hợp, không bồi thường thiệt hại về đất trong khi ông đủ điều kiện để
được bồi thường nên ông Bùi Quang Đ khởi kiện yêu cầu T án giải quyết
những vấn đề sau: (1) Hủy một phần Quyết định số 4965/QĐ-UBND ngày
09/10/2018 của Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đ; (2) yêu cầu Ủy ban nhân dân
thành phố Thủ Đ bồi thường 100% giá trị đối với căn nhà gắn liền với đất bị giải
tỏa số 01 đường 54, K p4, phường Thảo Đ, thành phố Thủ Đ; (3) yêu cầu Ủy
ban nhân dân thành phThủ Đ bồi thường thiệt hại cho ông Đ không nhà đ
ở, phải đi thuê nhà từ tháng 12/2014 cho đến nay theo quy định của pháp luật
với số tiền 490.280.000 đồng, tương ứng với 103 tháng tiền thuê nhà, trung bình
mỗi tháng là 4.760.000 đồng.
y ban nhân n thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh trình bày:
Theo Giấy xác nhận hồ pháp nhà, đất số 15/GXN-UBND ngày 07/7/2018
của Ủy ban nhân dân phường Thảo Đ thể hiện vị trí căn nhà trên do nghiệp
đóng tàu An P đăng , diện tích giải toả 62,6m
2
; phần diện tích 58,1m
2
4
thuộc một phần thửa 59, tbản đồ s56, phường Thảo Đ, thành phố Thủ Đ do
ông Anh T ông Bùi Quang Đ lấn chiếm của Quân khu 7; trong đó phần
diện tích 12,5m
2
do ông Anh T lấn chiếm và chuyển nhượng lại cho ông Bùi
Quang Đ bằng giấy tay trước ngày 15/10/1993; còn phần diện tích 45,6m
2
do
ông Đạt lấn chiếm thêm từ sau năm 1993 đến trước năm 2003; phần diện tích
4,5m
2
thuộc một phần đường, tờ bản đồ số 56, phường Thảo Đ, thành phố Thủ
Đ do ông Bùi Quang Đ sử dụng sau ngày 01/7/2004. Căn cứ theo tiết b điểm
16.2 khoản 16 Mục I Phần B Phương án 104/PA-HĐBT ngày 25/3/2017 của Hội
đồng bồi thường Dự án, Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đ ban hành Quyết định
số 1320/QĐ-UBND-TNMT ngày 25/3/2017 Quyết định số 4803/QĐ-UBND-
TNMT ngày 24/9/2018 đúng pháp luật. Ngoài ra, trong quá trình sử dụng đất,
ông Đ còn bị xử phạt vi phạm hành chính vhành vi xây dựng không giấy
phép và buộc bị tháo dỡ công trình, do đó ông Đ yêu cầu được bồi thường 100%
giá trị nhà không sở; ông Đ cũng không đăng tạm trú, thường trú tại
địa chỉ trên nên không thuộc đối tượng hưởng chính sách hỗ trợ tiền thuê nhà
theo quy định pháp luật. Vì vậy, đề nghị Tòa án xét xử không chấp nhận toàn bộ
yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Quang Đ.
Ti Bn án hành chính thẩm s: 1851/2023/HC-ST ngày 22/9/2023,
Tòa án nhân dân Thành ph H Chí Minh quyết định (tóm tt):
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện ông Bùi Quang Đ, về
việc yêu cầu Tòa án hủy một phần Quyết định số 4965/QĐ-UBND ngày
09/10/2018 của Ủy ban nhân dân Thành phố Thủ Đ, Thành phố Hồ Chí Minh,
về điều chỉnh tên chủ sử dụng nội dung Điều 1 Quyết định số 4581/QĐ-
UBND ngày 04/8/2017 của Ủy ban nhân dân Thành phố Thủ Đ, Thành phố Hồ
Chí Minh (phần số tiền bồi thường, hỗ trợ):
1.1. Hủy phần đoạn 2 Điều 1 nội dung: “… tổng giá trị bồi thường, hỗ
trợ điều chỉnh là: 606.222.040 đồng (bằng chữ: Sáu trăm lẻ sáu triệu, hai trăm
hai mươi hai ngàn, không trăm bốn mươi đồng)…
(Đính kèm Bảng chiết tính số 09/TĐ-ĐC ngày 20 tháng 7 năm 2018).”.
1.2. Buộc Ủy ban nhân dân Thành phố Thủ Đ, Thành phố Hồ Chí Minh
thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật
2. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Quang Đ, về việc “Yêu cầu Ủy ban
nhân dân Thành phố Thủ Đ, Thành phố Hồ Chí Minh, bồi thường 100% giá trị
đối với căn nhà gắn liền với đất bị giải tỏa tại thửa đất nêu trên theo qui định
của pháp luật”.
3. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Quang Đ về việc “Yêu cầu Ủy ban
nhân dân Thành phố Thủ Đ, Thành phố Hồ Chí Minh, bồi thường thiệt hại cho
ông Đ không nhà để phải đi thuê nhà ttháng 12/2014 cho đến nay theo
qui định của Pháp luật, tương ứng số tiền 490.280.000 đồng, tương ứng với 103
tháng tiền thuê nhà, trung bình mỗi tháng là 4.760.000 đồng”.
Ngoài ra, Tòa án cấp thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng
cáo theo luật định.
5
Ngày 06/10/2023, ông Bùi Quang Đ kháng cáo một phần bản án sơ thẩm.
Ngày 31/10/2023, Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đ kháng cáo toàn bộ
bản án sơ thẩm.
Ngày 06/10/2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ
Chí Minh ban hành Quyết định số 7921/QĐ-VKS-HC kháng nghị theo thủ tục
phúc thẩm đối với bản án dân sự sơ thẩm nêu trên.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Ông Bùi Quang Đ giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét
xử sửa một phần bản án thẩm theo hướng: Bồi thường giá trị căn nhà trên
diện tích đất đã được công nhận theo Giấy chứng nhận quyền s dụng đất,
quyền sở hữu nhà cấp cho cụ Phạm Thị G ngày 31/3/2008; đồng thời yêu cầu
Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đ bồi thường số tiền 490.280.000 đồng tương
ứng với 103 tháng tiền thuê nhà, trung bình mỗi tháng là 4.760.000 đồng. Phần
còn lại của bản án sơ thẩm được giữ nguyên.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho ông Bùi Quang Đ trình bày
quan điểm:
Đối với phần bản án thẩm đã tuyên hủy một phần Quyết định số
4965/QĐ-UBND ngày 09/10/2018 của Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đ theo
yêu cầu của ông Bùi Quang Đ là đúng pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử
không chấp nhận kháng cáo của Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đ Kháng
nghị phúc thẩm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh về nội dung này.
Đối với phần bồi thường giá trị căn nhà trên đất: Hồ sơ vụ án thể hiện nhà
đất tại địa chỉ số 01 đường 54, Khu phố 4, phường Thảo Đ, thành phố Thủ Đ
được gia đình ông Bùi Quang Đ sử dụng liên tục, ổn định từ m 1992 tới ngày
phát sinh tranh chấp. m 2014, ông Đ sửa chữa lại nhà để nhưng bị xử phạt
không xin phép xây dựng; phần xây dựng thêm đã bị tháo dỡ, phần còn lại
của căn nhà được tạo lập trước năm 1993 tphải được đền 100% giá trị.
Việc Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đ không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
ông Đ được nhận bồi thường 100% giá trị căn nhà và Tòa án cấp sơ thẩm xét xử
không chấp nhận không phù hợp với thực tế sử dụng nhà đất của ông Đ, xâm
phạm tới quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
Đối với tiền bồi thường thiệt hai do phải thuê nhà ở: Trên thực tế, do
không nhà nên ông Bùi Quang Đ phải đi thuê nhà trong suốt 103 tháng
với số tiền 4.760.000 đồng/tháng, đây là khoản thiệt hại thực tế xuất phát từ việc
thu hồi đất của ông Đ nên yêu cầu này của ông Đ là hoàn toàn phù hợp.
Từ những phân tích trên, Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho
ông Đ đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án thẩm, chấp nhận kháng cáo của
ông Bùi Quang Đ về hai nội dung trên, đồng thời bác kháng cáo của Ủy ban
nhân dân thành phố Thủ Đ Kháng nghị phúc thẩm của Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
6
Ông Bùi Quang đ trình bày bổ sung: Nhất trí với quan điểm của Người
bảo vquyền và lợi ích hợp pháp cho mình, đồng thời bổ sung ý kiến đề nghị
Tòa án cấp phúc thẩm xem xét những căn cứ mà Ủy ban nhân dân Thành phố
Thủ Đ cho rằng đất thuộc quyền quản của Quân Khu 7 Bộ Quốc phòng
không đúng, cho rằng mặc nguồn gốc của Nghiệp đóng tàu An P
nhưng do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quản lý chứ không phải
Quân khu 7.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Ủy ban nhân dân thành phố
Thủ Đ trình bày:
Theo báo cáo của Ủy ban nhân dân phường Thảo Đ tại Giấy xác nhận
pháp lý nhà đất số 15/GXN-UBND ngày 17/7/2018 thì vị trí đất bị giải tỏa do Xí
Nghiệp đóng tàu An P đăng ký; những tài liệu liên quan khác thể hiện diện
tích 12,5m
2
đất do ông Anh T lấn chiếm của Quân khu 7 chuyển nhượng
cho ông Bùi Quang Đ trước ngày 15/10/1993; phần diện tích còn lại 45,6m
2
ông
Đ lấn chiếm của Quân khu 7 sau ngày 15/10/1993 đến trước năm 2003. Căn cứ
vào tiết b điểm 16.2 khoản 16 Mục I Phần B của Phương án 104/PA-HĐBT
ngày 25/3/2017 của Hội đồng bồi thường dự án đầu xây dựng đường nối từ
đường Nguyễn Văn H đến Xa Lộ N, phường Thảo Đ để thực hiện bồi
thường, hỗ trợ đối với ông Đ là đúng quy định. Những nội dung khác đã được
Tòa án cấp thẩm giải quyết đúng pháp luật. Từ đó, đề nghị Tòa án cấp phúc
thẩm chấp nhận kháng cáo của Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đ, sửa toàn b
bản án thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông
Bùi Quang Đ.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho ông Bùi Quang Đ bổ sung
quan điểm: Tại phiên tòa phúc thẩm, Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp
cho Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đ cho rằng đất thuộc quyền quản của
Quân khu 7 nhưng không xuất trình được chứng cứ chứng minh; trên thực tế,
phần diện tích bao bọc xung quanh đất của ông Đ đều đất khu dân hiện
hữu, nên không thể cho rằng diện đất của ông Đ nguồn gốc của Quân khu 7;
quan điểm này suy diễn bất lợi cho Người khởi kiện. Bên cạnh đó, tại Bản án
dân sự phúc thẩm số 484/2018/DS-PT ngày 16/5/2018 của Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh đã công nhận quyền sử dụng, sở hữu cho ông Đ đối với
toàn bộ diện tích đất trên hiện nay Bản án này đang hiệu lực pháp luật thi
hành. Với chứng cứ không cần phải chứng minh này đã phản bác lại toàn bộ
quan điểm của Người bị kiện; do đó, một lần nữa đề nghị Hội đồng xét xử
không chấp nhận kháng cáo của Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đ quan
điểm của Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho Người bị kiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
phát biểu quan điểm:
Tòa án cấp sơ thẩm hủy Quyết định số 4965/QĐ-UBND ngày 09/10/2018
của Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đ nhưng không xem xét Quyết định
4581/QĐ-UBND ngày 04/8/2017 của Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đ là vi
phạm khoản 1 Điều 6, điểm đ khoản 3 Điều 191 Luật Tố tụng hành chính năm
7
2015; đồng thời, mặc dù chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Quang Đ hủy
một phần Quyết định số 4965/QĐ-UBND ngày 09/10/2018 của Ủy ban nhân
dân thành phố Thủ Đ nhưng Tòa án cấp sơ thẩm lại không hủy Điều 2 của Quyết
định này dẫn đến tồn tại nội dung: Giao Hội đồng bồi thường thu lại số tiền bồi
thường, hỗ trợ chênh lệch do điều chỉnh là 147.985.680 đồng, là giải quyết vụ án
không triệt để. Bên cạnh đó, theo Giấy xác nhận pháp nhà đất số 15/GXN-
UBND ngày 17/7/2018 của Ủy ban nhân dân phường Thảo Đ thì vị trí đất bị giải
tỏa do Nghiệp đóng tàu An P đăng ký, theo quan điểm của Ủy ban nhân
dân phường này Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đ cùng xác nhận đất
nguồn gốc của Quân khu 7. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp
thẩm chưa xác minh nguồn gốc đất vi phạm quy định của Luật Tố tụng
hành chính trong việc thu thập, đánh giá chứng cứ. Những vi phạm này không
thể khắc phục, bổ sung tại giai đoạn xét xử phúc thẩm. Vì vậy, đề nghị Hội đồng
xét xử chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 7921/QĐ-VKS-HC ngày
06 tháng 10 năm 2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ
Chí Minh, hủy toàn bộ bản án thẩm và giao hồ vụ án cho Tòa án cấp
thẩm giải quyết lại vụ án.
NHẬN ĐỊNH CA TÒA ÁN:
[1] Về việc tiến hành tố tụng giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm:
Về đối tượng khởi kiện, thời hiệu khởi kiện thẩm quyền giải quyết đã
được Tòa án cấp sơ thẩm xác định thực hiện đúng theo quy định của Luật T
tụng Hành chính.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, những người tham gia tố tụng được triệu tập
hợp lệ lần thứ hai nhưng đơn xin xét xử vắng mặt, vắng mặt không do
chính đáng hoặc đơn xin hoãn phiên tòa. Căn cứ vào Điều 255 của Luật Tố
tụng hành chính, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt những
người này.
[3] Xét kháng cáo của Người khởi kiện, kháng cáo của Người bkiện
Quyết định kháng nghị phúc thẩm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh như sau:
[3.1] Về yêu cầu khởi kiện đề nghị hủy Quyết định số 4965/QĐ-UBND
ngày 09 tháng 10 năm 2018 của Ủy ban nhân dân Quận 2 (nay thành phố Thủ
Đ), Thành phố Hồ Chí Minh:
Hồ ván thể hiện: Ngày 20/9/1990, ông Bùi Quang Đ nhận chuyển
nhượng bằng giấy viết tay của ông Anh T diện tích 40m
2
đất chiều ngang
4m x chiều dài 10m; trên đất có căn nhà lá. Ngày 04/08/1999, ông Đ kê khai nhà
đất theo Quyết định 3376/QĐ-UBND của y ban nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh với diện tích đăng 40m
2
.
Năm 2003 ông Đ tiến hành xây dựng, sửa
chữa lại nhà nhưng bị Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đ xử vi phạm hành
chính do xây dựng không phép. Trong quá trình sử dụng đất, ông Đ lấn chiếm,
cơi nới diện tích đất để sử dụng, sau đó được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng
8
đất đo vẽ, kiểm tra nội nghiệp đến ngày 31/3/2008 cụ Phạm Thị G (mẹ của
ông Đ) được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu căn nhà
cấp 4 tại địa chỉ trên với diện tích 90,6m
2
(cụ G đứng tên hộ ông Đ). Tại
Quyết định số 1881/QĐ-UBND-TNMT ngày 16 tháng 02 năm 2011, Ủy ban
nhân dân Q 2 đã thu hồi hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà
quyền sử dụng đất số 284/2008/GCN-UB do Ủy ban nhân dân Q 2 cấp cho cụ
Phạm Thị G ngày 31 tháng 8 năm 2008 với do cụ Gừng khai không đúng
thực tế. Sau đó giữa ông Bùi Quang T và ông Bùi Quang Đ phát sinh tranh chấp
quyền sở hữu nhà, quyền sdụng đất trên. Tại Bản án dân sự phúc thẩm s
484/2018/DS-PT ngày 16/5/2018, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã
công nhận toàn bộ nhà đất trên cho ông Bùi Quang Đ; hiện tại Bản án phúc thẩm
đang hiệu lực pháp luật thi hành. Do đó, ông Đ chủ sử dụng hợp pháp đối
với toàn bộ nhà đất nêu trên.
Tại Quyết định số 4965/QĐ-UBND ngày 09 tháng 10 năm 2019 của Ủy
ban nhân dân Q 2 nội dung điều chỉnh tên chủ sử dụng Điều 1 Quyết định
số 4581 ngày 04/8/2017 như sau: Ông Đ được bồi thường, hỗ trợ tổng cộng
606.222.040 đồng; cụ thể: Diện tích 12,5m
2
đất ở chiếm dụng trước ngày
15/10/1993, vị trí mặt tiền đường 54, giá trị 32.453.000 đồng/1m
2
, h số bồi
thường 40%, thành tiền là 162.265.000 đồng; diện tích 45,6m
2
đất chiếm dụng
sau ngày 15/10/1993, vị trí đất mặt tiền đường 54, giá trị 32.453.000
đồng/1m
2
, hệ số bồi thường 30%, thành tiền là 443.957.040 đồng.
Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đ căn cứ vào tiết b điểm 16.2 khoản 16
Mục I Phần B Phương án 104/PA-HĐBT ngày 25/3/2017 của Hội đồng bồi
thường dự án đầu tư xây dựng đường nối từ đường Nguyễn Văn H đến Xa lộ
N, phường Thảo Đ, thành phố Thủ Đ, trong đó viện dẫn Điều 22 Nghị định
43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ để xác định ông Bùi
Quang Đ “không đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền s
hữu nhà tài sản gắn liền với đất” không phù hợp. Bởi vì, nhà đất số 01
đường 54 K p 4, phường Thảo Đ đã được y ban nhân dân Q 2 (nay thành
phố Thủ Đ) cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà quyền sử dụng đất số
284/2008/GCN-UB cho cụ Phạm Thị G vào ngày 31 tháng 3 năm 2008 đối với
diện tích 90,6m
2
; mặc sau đó Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà của cụ G đã bị Ủy ban nhân dân Quận này thu hồi nhưng do thu hồi
do cụ G không phải là chủ sở hữu hợp pháp căn nhà có gian dối trong việc
xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại địa chỉ s01 đường 54, K p 4,
phường Thảo Đ chkhông phải đất không đủ điều kiện được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng; đồng thời, việc thu hồi đất trên xuất phát từ yêu cầu tranh
chấp của chính ông Bùi Quang Đ khi cho rằng cụ G chỉ đứng tên hộ ông Đ trên
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi thu hồi giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, giữa ông Bùi Quang Đ và ông Bùi Văn T phát sinh tranh chấp về
quyền sở hữu nhà đất trên. Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 484/2018/DS-PT
ngày 16 tháng 5 năm 2018, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã công
nhận cho ông Đ được sở hữu toàn bộ nhà đất trên.
9
Tại phiên tòa phúc thẩm, Người bảo vệ quyền và lợi ích cho Ủy ban nhân
dân thành phố Thủ Đ thừa nhận trường hợp không đơn tranh chấp của ông Đ
thì Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cụ G không bị thu hồi cụ Gừng
vẫn được công nhận quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đối với diện tích 90,6m
2
đất. Trên thực tế, sau khi thu hồi đất thì diện tích đất còn lại 24,4m
2
đã được
Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
DL 023190 cho ông Đạt vào ngày 31 tháng 10 năm 2023. Như vậy, có cơ sở xác
định diện tích 90,6m
2
đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Bùi Quang Đ
như Tòa án cấp thẩm xác định căn cứ phù hợp với toàn bộ quá trình
diễn biến sử dụng đất của ông Đ như đã nhận định ở trên.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đ cho
rằng:
Diện tích đất bị giải tỏa 62,6m
2
, trong đó phần diện tích 58,1m
2
thuộc một
phần thửa 59, tờ bản đsố 56, phường Thảo Đ, Thành phố Thủ Đ do ông
Anh T ông Bùi Quang Đ lấn chiếm của Quân khu 7; cụ thể diện tích 12,5m
2
do ông Anh T lấn chiếm chuyển nhượng lại cho ông Bùi Quang Đ bằng
giấy tay trước ngày 15/10/1993; còn diện tích 45,6m
2
do ông Bùi Quang Đ lấn
chiếm thêm sau thời điểm 1993 đến trước năm 2003; đối với diện tích 4,5m
2
thuộc một phần đường, tờ bản đồ số 56, phường Thảo Đ, Thành phố Thủ Đ do
ông Bùi Quang Đ sử dụng làm đường đi sau ngày 01/7/2004. Tuy nhiên, Ủy ban
nhân dân thành phố Thủ Đ không cung cấp được chứng cứ chứng minh diện tích
58,1m
2
đất trên đất lấn chiếm của Quân khu 7. Mặt khác, theo Giấy xác nhận
nhà đất số 15/GXN-UBND ngày 07 tháng 7 năm 2018 của y ban nhân dân
phường Thảo Đ thể hiện vị trí căn nhà giải tỏa số 01 đường 54, k p 4, phường
Thảo Đ, Thành phố Thủ Đ thuộc một phần thửa 295 bản đồ số 1, do nghiệp
đóng tàu An P đăng ký, loại ruộng đất: T (299/TTg) nhưng Ủy ban nhân dân
thành phố Thủ Đ lại cho rằng ông Đ lấn chiếm đất của Quân khu 7 là mâu thuẫn,
không thống nhất.
Với nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy đủ sở xác định căn
nhà đất số 01 Đường 54, K p 4, phường Thảo Đ, Thành phố Thủ Đ, Thành phố
Hồ Chí Minh đã được cấp giấy chứng nhận; đủ điều kiện được cấp giấy chứng
nhận; nguồn gốc đất đất thổ (T); do đó, Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đ
cho rằng trường hợp ông Đ không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất, từ đó áp dụng hệ số bồi
thường 30%, 40% trên đơn giá bồi thường không đúng quy định pháp luật,
làm ảnh hưởng tới quyền lợi ích hợp pháp của ông Đ. Kháng cáo của Ủy ban
nhân dân thành phố Thủ Đ Quyết định kháng nghị phúc thẩm của Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về nội dung này là
không có căn cứ.
[3.2] Về yêu cầu bồi thường 100% giá trị căn nhà gắn liền với đất bị giải
tỏa tại số 01 đường số 54, Khu phố 4, phường Thảo Điền, thành phố Thủ Đ:
Ngày 31 tháng 3 năm 2008, Ủy ban nhân dân Q 2 cấp Giấy chứng nhận
quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 284/2008/GCN-UB với tổng diện
tích nhà đất 90,6m
2
cho cụ Phạm Thị Gừng. N
gày 16 tháng 02 năm 2011, Ủy
10
ban nhân dân Q 2 ban hành Quyết định số 1881/QĐ-UBND-TNMT thu hồi
hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền shữu nvà quyền sử dụng đất của cụ G.
Hồ vụ án thể hiện: Năm 2003 cụ G bị xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi cải
tạo, sửa chữa nhà không phép; ngày 08/12/2014, ông Bùi Quang Đ bị Ủy ban
nhân dân phường Thảo Đ lập Biên bản vi phạm hành chính và ngừng thi công
xây dựng công trình tại số 01 đường số 54, K p 4, phường Thảo Đ vì thi công
xây dựng công trình không có giấy phép xây dựng diện tích 83,3m
2
; ngày
17/12/2014, Ủy ban nhân dân Q 2 ban hành Quyết định số 5259/QĐ-XPVPHC
xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Đ bằng hình thức phạt tiền là 6.250.000
đồng, buộc tháo dỡ công trình vi phạm; do ông Đ không chấp hành tháo dỡ công
trình vi phạm nên ngày 02/3/2015 Ủy ban nhân dân Q 2 đã ban hành Quyết định
số 827/QĐ-CC cưỡng chế tháo dỡ công trình.
Như vậy, căn nhà của ông Bùi Quang Đ tại địa chỉ trên được xây dựng,
sửa chữa không giấy phép xây dựng; đã bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu
quả buộc tháo dỡ phần công trình xây dựng vi phạm diện tích 83,3m
2
, nên
thuộc trường hợp: “Tài sản gắn liền với đất được tạo lập trái quy định của pháp
luật”. Căn cứ khoản 2 Mục II Bồi thường, hỗ trợ về tài sản gắn liền với đất của
Phương án số 104/PA-HĐBT ngày 25/3/2017 quy định về trường hợp Nhà nước
thu hồi đất không được bồi thường tài sản gắn liền với đất: “Áp dụng Điều 24
Quy định bồi thường, htrợ, tái định khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn
Thành phố Hồ Chí Minh, ban hành kèm theo Quyết định số 23/2015/QĐ-UBND
ngày 15/5/2015 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh”, thì trường hợp
của ông Đ không được áp giá, bồi thường, hỗ trợ đối với công trình trên đất. Tòa
án cấp thẩm không chấp nhận yêu cầu này của ông Bùi Quang Đ đúng
pháp luật.
[3.3] Về yêu cầu Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đ bồi thường thiệt hại
cho ông Đ không có nhà để ở phải đi thuê nhà từ tháng 12/2014 cho đến nay với
số tiền 490.280.000 đồng tương ứng với 103 tháng tiền thuê nhà, trung bình mỗi
tháng là 4.760.000 đồng:
Tại khoản 6.4 Điểm 6 Mục II Phương án 104/PA-HĐBT ngày 25/3/2017
quy định: Người bị thu hồi đất đủ điều kiện tái định hoặc tháo dỡ toàn bộ
nhà, trong thời gian chờ (bố trí tái định cư hoặc xây dựng nhà ở mới) được bố trí
vào nhà tạm hoặc hỗ trợ tiền thuê nhà ở, thời gian mức hỗ trợ cụ thể theo
quy định của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh”. Tại điểm 5 Điều 2
Quyết định số 10/2020/QĐ-UBND ngày 10/4/2020 của Ủy ban nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh quy định: “Điều kiện để tính hỗ trợ chi phí thuê nhà tạm
các hộ gia đình, nhân hộ khẩu thường trú hoặc tạm trú tại vị trí căn nhà
bị giải tỏa.”.
Do ông Bùi Quang Đ không hộ khẩu thường trú cũng không đăng
tạm trú tại vị trí căn nhà bị giải tỏa nên không được hưởng chính sách này
đúng quy định trên. Mặt khác, theo lời khai của ông Đ trong quá trình Tòa án
giải quyết vụ án tranh chấp quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất giữa ông Đ với
ông T còn thể hiện việc ông Đ nhờ cụ Phạm Thị G đứng tên hộ nhà đất trên vì lý
11
do thời điểm đó ông đang làm thủ tục mua hóa giá căn nhà tại địa chỉ số 69 Hồ
Biểu Ch, P12, quận Phú Nh. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử không chấp nhận
yêu cầu khởi kiện này của ông Đ là đúng.
[4] Với những phân tích trên, Hội đồng xét xử nhận thấy kháng cáo của
Người khởi kiện, kháng cáo của Người bị kiện Quyết định kháng nghị của
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không phù hợp
với nhận định nêu trên nên không chấp nhận.
[5] Do kháng cáo không được chấp nhận nên Ủy ban nhân dân thành phố
Thủ Đức phải chịu án phí hành chính phúc thẩm. Ông Bùi Quang Đ được miễn
án phí hành chính phúc thẩm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính.
Không chấp nhận Quyết định kháng nghị pc thẩm s7921/QĐ-VKS-
HC ngày 06 tháng 10 năm 2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh; không chấp nhận kháng cáo của ông Bùi Quang Đ; không
chấp nhận kháng cáo của Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đ; và giữ nguyên Bản
án hành chính sơ thẩm số: 1851/2023/HC-ST ngày 22 tháng 9 năm 2023 của
Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Áp dụng: Luật Đất đai năm 2013; Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày
15/5/2014 của Chính phủ; Quy định bồi thường, hỗ trợ tái định khi nhà nước
thu hồi đất trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh (ban hành kèm theo Quyết
định số 23/2015/QĐ-UBND ngày 15/5/2015 của Ủy ban nhân dân Thành phố
Hồ Chí Minh); Quyết định s10/2020/QĐ-UBND ngày 10/4/2020 của Ủy ban
nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH ngày 30
tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Quang Đ v hủy một phần
Quyết định số 4965/QĐ-UBND ngày 09/10/2018 của Ủy ban nhân dân Q 2 (nay
thành phố Thủ Đ) về điều chỉnh tên chủ sử dụng nội dung Điều 1 Quyết
định số 4581/QĐ-UBND ngày 04/8/2017 của Ủy ban nhân dân q 2 ( nay là
thành phố Thủ Đ), Thành phố Hồ Chí Minh như sau:
Hủy phần đoạn 2 Điều 1 nội dung: “… tổng giá trị bồi thường, hỗ trợ
điều chỉnh là: 606.222.040 đồng (bằng chữ: Sáu trăm lẻ sáu triệu, hai trăm hai
mươi hai ngàn, không trăm bốn ơi đồng)…(Đính kèm Bảng chiết tính số
09/TĐ-ĐC ngày 20 tháng 7 năm 2018). Buộc Ủy ban nhân dân thành phố Thủ
Đ, Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định pháp
luật.
12
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Quang Đ về yêu cầu
Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đ, Thành phố Hồ Chí Minh bồi thường 100%
giá trị căn ngắn liền với đất bị giải tỏa tại địa chỉ số 01 đường số 54, K p 4,
phường Thảo Đ, thành phố Thủ Đ, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Quang Đ về yêu cầu
Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đ, Thành phố Hồ Chí Minh bồi thường thiệt hại
do không nhà phải đi thuê nhà từ tháng 12 năm 2014 cho đến nay với số
tiền 490.280.000 đồng, tương ứng với 103 tháng tiền thuê nhà, trung bình mỗi
tháng là 4.760.000 đồng.
4. Về án phí:
Án phí hành chính thẩm: Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đ, Thành
phố Hồ Chí Minh phải chịu 300.000 đồng. Ông Bùi Quang Đ được miễn.
Án phí hành chính phúc thẩm: Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đ, Thành
phố Hồ Chí Minh phải chịu 300.000 đồng, được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã
nộp theo Biên lai thu số 0004239 ngày 13 tháng 11 năm 2023 của Cục thi hành
án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Bùi Quang Đ được miễn.
Bn án hành chính phúc thm có hiu lc pháp lut k t ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân tối cao;
- Vụ Pháp chế và Quản lý Khoa học;
- VKSND cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh;
- TAND TP. Hồ Chí Minh;
- VKSND TP. Hồ Chí Minh;
- Cục THADS TP. Hồ Chí Minh;
- Các đương sự;
- Lưu VT; HSVA - NTTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Ngô Mạnh Cường
13
Các Thẩm phán Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Phạm Văn Công - Đinh Ngọc Thu Hương Ngô Mạnh Cường
Tải về
Bản án số 667/2024/HC-PT Bản án số 667/2024/HC-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 667/2024/HC-PT Bản án số 667/2024/HC-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất