Bản án số 641/2026/DS-PT ngày 11/09/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 641/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 641/2026/DS-PT ngày 11/09/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng tín dụng
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 641/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 11/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Hợp đồng tín dụng
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 641/2026/DS-PT Bản án số 641/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 641/2026/DS-PT Bản án số 641/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 641/2026/DS-PT
Ngày: 11 - 9 - 2026
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng,
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất, hợp đồng thế chấp quyền sử
dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hà
Các Thẩm phán: Bà Châu Minh Nguyệt
Ông Đặng Minh Trung
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thuý An, là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Từ
Thanh Thùy - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 424/2026/TLPT-DS ngày 28 tháng 7
năm 2026, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 183/2026/DS-ST ngày 19/6/2026 của Tòa án
nhân dân Khu vực 1 - Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 596/2026/QĐ-PT ngày 10 tháng 8
năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 (viết tắt là V)
Địa chỉ: Số A Đường T, phường H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Trần Duy L, sinh năm
1982. Địa chỉ: Số A, A, phường T, tỉnh Cà Mau (có mặt)
- Bị đơn:
1. Ông Nguyễn Minh P, sinh năm 1989; Căn cước số: ************; Cấp
ngày: 25/02/2026.
2. Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1994; Căn cước công dân số: ************;
Cấp ngày: 11/8/2021(vợ ông P).
Cùng địa chỉ: Số D đường T, khóm A, phường A, tỉnh Cà Mau.
2
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Cao Quốc T, sinh năm 1975. Địa
chỉ: Số B P, khóm B, phường T, tỉnh Cà Mau (Theo văn bản ủy quyền ngày
23/3/2026, có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Trịnh Văn S, sinh năm 1968. (có yêu cầu độc lập)
Người đại diện hợp pháp của ông Trịnh Văn S: Ông Dương Công L2, sinh
năm 1983. Địa chỉ: Số G, đường P, khóm A, phường T, tỉnh Cà Mau (Theo văn bản
uỷ quyền ngày 01/7/2026, có mặt).
2/ Ông Trịnh Trọng N, sinh năm 1995 (con ông S, vắng mặt)
3/ Bà Lê Mộng N1, sinh năm 1997 (vợ ông N, vắng mặt)
Cùng địa chỉ: ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau.
4/ Hợp tác xã T3 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số B đường T, khóm D, phường A, tỉnh Cà Mau (nay là khóm A,
phường A, tỉnh Cà Mau).
5/ Văn phòng C (vắng mặt)
Địa chỉ: Số A Đường N, khóm H, phường L, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Vào năm 2022, Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 – chi nhánh C1 (viết tắt
Ngân hàng N2) thỏa thuận ký kết với vợ chồng ông Nguyễn Minh P và bà Nguyễn
Thị L1 các hợp đồng vay vốn, cụ thể như sau:
- Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 1236-2022/HĐCV-CMA-TN
ngày 25/8/2022, số tiền cho vay: 1.000.000.000 đồng; mục đích vay: Thanh toán các
chi phí hợp pháp cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt; thời hạn vay: 120 tháng kể từ
ngày tiếp theo của ngày giải ngân vốn vay; lãi suất cho vay: Lãi suất cho vay được
ghi trên từng giấy nhận nợ.
- Hợp đồng cho vay theo hạn mức số APPL00116243.HDCTD.KHCN ngày
29/01/2024, số tiền cho vay: 10.000.000.000 đồng; mục đích vay: Phục vụ hoạt động
kinh doanh, bổ sung vốn lưu động kinh doanh tôn nguyên liệu; thời hạn cho vay: 06
tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân vốn vay; lãi suất cho vay: Lãi suất cho
vay được ghi trên từng giấy nhận nợ.
- Thẻ tín dụng theo hợp đồng số 318-2022/TTD-CMA-PKH ngày 29/08/2022
số thẻ VS01903799756, hạn mức thẻ tín dụng là 200.0000.000 đồng, trong quá trình
sử dụng thẻ, khách hàng đã sử dụng với số tiền là 194.658.884 đồng.
Để đảm bảo cho 02 hợp đồng cho vay, ông Nguyễn Minh P và bà Nguyễn Thị
L1 ký kết với V hợp đồng thế chấp số 1135-2022/HĐTC-CMA-Tn ngày 09/8/2022,
tài sản thế chấp bao gồm:
3
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
liền với đất số CK 253229 ngày 25/12/2017, số vào sổ CS00551, diện tích
8.446,0m
2
, thuộc thửa đất số 12, tờ bản đồ số 1 (Bản đồ 2012), địa chỉ thửa đất tại
ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (nay là ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau) do Giám đốc Văn
phòng Đăng ký đất đai tỉnh C thừa ủy quyền Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường
tỉnh C cấp cho ông Trịnh Văn S năm 2017; ngày 27/7/2022 ghi nhận chỉnh lý trang
4 chuyển nhượng QSD đất cho ông Nguyễn Minh P và bà Nguyễn Thị L1.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
liền với đất số CK 379833 ngày 26/01/2018, số vào số CH00565, diện tích
7.441,0m
2
, thuộc thửa đất số 887, tờ bản đồ số 1 (Bản đồ 2012); địa chỉ thửa đất tại
ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (nay là ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau) do UBND huyện
Đ cấp cho ông Trịnh Văn S năm 2018; ngày 27/7/2022 ghi nhận chỉnh lý trang 4
chuyển nhượng QSD đất cho ông Nguyễn Minh P và bà Nguyễn Thị L1.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
liền với đất số CK 379832 ngày 26/01/2018, số vào sổ CH00564, diện tích
2.070,0m
2
, thuộc thửa đất số 3, tờ bản đồ số 1 (Bản đồ 2012); địa chỉ thửa đất tại ấp
T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (nay là ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau) do UBND huyện Đ
cấp cho ông Trịnh Văn S năm 2018; ngày 27/7/2022 ghi nhận chỉnh lý trang 4
chuyển nhượng QSD đất cho ông Nguyễn Minh P và bà Nguyễn Thị L1.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
liền với đất số CK 253228 ngày 25/12/2017, số vào số CS00552, diện tích
5.764,0m
2
, thuộc thửa đât số 2, tờ bản đồ sô 1 (Bản đồ 2012), địa chỉ thửa đất tại ấp
T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (nay là ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau) do Giám đốc Văn
phòng Đăng ký đất đai tỉnh C thừa ủy quyền Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường
tỉnh C cấp cho ông Trịnh Văn S năm 2017; ngày 27/7/2022 ghi nhận chỉnh lý trang
4 chuyển nhượng QSD đất cho ông Nguyễn Minh P và bà Nguyễn Thị L1.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
liên với đất số CK 253226 ngày 25/12/2017, số vào số CS00550, diện tích
6.320,0m
2
, thuộc thửa đất số 1, tờ bản đồ số 1 (Bản đồ 2012), địa chỉ thửa đất tại ấp
T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (nay là ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau) do Giám đốc Văn
phòng Đăng ký đất đai tỉnh C thừa ủy quyền Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường
tỉnh C cấp cho ông Trịnh Văn S năm 2017; ngày 27/7/2022 ghi nhận chỉnh lý trang
4 chuyển nhượng QSD đất cho ông Nguyễn Minh P và bà Nguyễn Thị L1.
Tạm tính đến ngày 07/4/2025 tổng nợ của ông Nguyễn Minh P và bà Nguyễn
Thị L1 với tổng số tiền là 11.373.789.343 đồng.
Ngân hàng N2 đã nhiều lần làm việc và có văn bản yêu cầu ông P và bà L1
thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo các hợp đồng cho vay. Tuy nhiên, ông P và bà L1 vẫn
không thực hiện thanh toán nợ gốc, nợ lãi, đã vi phạm nghĩa vụ đã cam kết.
Nay Ngân hàng N2 yêu cầu ông Nguyễn Minh P và bà Nguyễn Thị L1 phải
thực hiện nghĩa vụ trả nợ với tổng số tiền tạm tính đến ngày 07/4/2025 là
11.373.789.343 đồng và phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận
tại các hợp đồng cho vay đã ký kết cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng.
4
Trường hợp ông Nguyễn Minh P và bà Nguyễn Thị L1 không thực hiện hoặc
thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng N2 có quyền yêu cầu Cơ quan
thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm theo hợp đồng thế chấp đã ký kết để thu hồi
nợ cho Ngân hàng.
* Đối với ông Nguyễn Minh P và bà Nguyễn Thị L1 đã được tống đạt hợp lệ
Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về việc kiểm tra, giao nộp, công khai chứng cứ
và hòa giải, nhưng ông bà không tham gia và cũng không có văn bản trình bày ý
kiến của mình về việc khởi kiện của Ngân hàng.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trong vụ án, ông
Trịnh Văn S trình bày yêu cầu: Khoảng tháng 02/2022 ông S quen biết với ông P,
lúc này ông P là Chủ tịch Hội đồng quản trị Hợp Tác xã T3, do ông S cần vốn làm
ăn, nên ông P nói Hợp tác xã Thủy M sẽ cho vay với số tiền là 07 tỷ đồng, lãi suất
1,5%/tháng, ông S đã thế chấp các quyền sử dụng đất. Đến ngày 10/05/2022, ông S
cùng với vợ chồng ông P và bà L1 đến Văn phòng C để công chứng hợp đồng thế
chấp các quyền sử dụng đất, lần này thì ông S nhận nhiều lần với tổng số tiền là
4.104.000.000 đồng.
Đến ngày 20/04/2023, ông P yêu cầu ông S đến Hợp Tác xã T3 để ký hợp
đồng thế chấp số 49, nội dung là ông S thế chấp các thửa đất số 1, 2, 3, 12, 887 thuộc
tờ bản đồ số 1, phần đất tọa lạc tại xã T - huyện Đ - tỉnh Cà Mau, tại Điều 3 của Hợp
đồng này có nội dung “giá trị tài sản thế chấp là 7 tỷ đồng”, nhưng ông S không nhận
bất kỳ khoản tiền nào sau khi ký kết hợp đồng này.
Đến ngày 24/5/2024, ông P yêu cầu ông S ký kết hợp đồng thế chấp số
10/2024/HĐTC với Hợp tác xã T3 đại diện là ông Huỳnh Kỳ B ký hợp đồng, số tiền
thế chấp là 5.800.000.000 đồng, đồng thời ông S cũng ký vào giấy nhận tiền thế chấp
ngày 24/5/2024 với nội dung “Nhận số tiền là 5.800.000.000 đồng, nhưng thực tế
ông S không nhận số tiền này.
Ông P đã dùng tài sản của ông S để thế chấp vay tiền của Ngân hàng với tổng
số tiền vay hơn 10.000.000.000 đồng, trong khi ông S chỉ nhận vay của Hợp Tác xã
T3 với số tiền là 4.104.000.000 đồng.
Nay ông Trịnh Văn S không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng
TMCP N2 về việc xử lý tài sản thế chấp là các quyền sử dụng đất là tài sản của ông
S dùng để thế chấp cho Hợp Tác xã T3 để vay với số tiền là 4.104.000.000 đồng. Đề
nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa ông P với Ngân
hàng TMCP N2 là vô hiệu; Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
giữa ông Trịnh Văn S với ông Nguyễn Minh P và bà Nguyễn Thị Lụa L3 vô hiệu.
* Tại phiên toà:
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, ông Trần Duy L trình bày
yêu cầu: Ngân hàng N2 đề nghị Tòa án giải quyết buộc vợ chồng ông Nguyễn Minh
P và bà Nguyễn Thị L1 có trách nhiệm thanh toán tổng số tiền vay còn nợ tính đến
ngày 19/6/2026 là 12.929.285.215 đồng, trong đó: nợ gốc 10.970.558.884 đồng, tiền
lãi 1.958.726.331 đồng và tiền lãi phát sinh cho đến khi trả dứt nợ theo lãi suất quy
định tại hợp đồng cho vay. Trường hợp vợ chồng ông P và bà L1 không thực hiện
5
nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng N2 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có
thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm theo hợp đồng thế chấp đã ký kết; trừ diện tích đất
và căn nhà 4 của người có công trên phần đất thế chấp.
- Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn, ông Cao Quốc T trình bày ý: Ông
P và bà L1 đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông P và bà L1 đồng ý
trả nợ vay theo yêu cầu của Ngân hàng N2 với tổng số tiền là 12.929.285.215 đồng,
tiếp tục chịu lãi phát sinh theo hợp đồng cho vay đã ký kết; đồng ý xử lý tài sản bảo
đảm theo hợp đồng thế chấp nếu bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Không
đồng ý với yêu cầu độc lập của ông Trịnh Văn S.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập ông Trịnh Văn S
trình bày: Yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu đối với hợp đồng thế chấp quyền sử
dụng đất giữa Nguyễn Minh P, Nguyễn Thị L1 với Ngân hàng N2; các hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Trịnh Văn S với Nguyễn Minh P và Nguyễn
Thị L1.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 183/2026/DS-ST ngày 19/6/2026 của Tòa án
nhân dân Khu vực 1 - Cà Mau đã quyết định:
Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật
Tố tụng Dân sự; Các Điều 463 và 466 của Bộ luật Dân sự; Khoản 2 Điều 100 của
Luật Các Tổ chức Tín dụng; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần N2 đối với
vợ chồng ông Nguyễn Minh P và bà Nguyễn Thị L1.
Buộc vợ chồng ông Nguyễn Minh P và bà Nguyễn Thị L1 có trách nhiệm thanh toán
cho Ngân hàng TMCP N2 tổng số tiền vay còn nợ tính đến ngày 19/6/2026 là
12.929.285.215 đồng, trong đó: nợ gốc 10.970.558.884 đồng, tiền lãi 1.958.726.331
đồng.
Từ ngày 20/6/2026, vợ chồng ông P và bà L1 còn phải chịu thêm khoản tiền
lãi theo mức lãi suất được quy định trong hợp đồng cho vay đến khi thanh toán dứt
nợ cho Ngân hàng. Trường hợp trong hợp đồng cho vay, các bên có thỏa thuận về
việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất
mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định
của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân
hàng cho vay.
Trường hợp, vợ chồng ông P và bà L1 không thực hiện hoặc thực hiện không
đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, thì V có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm
quyền xử lý tài sản bảo đảm theo hợp đồng thế chấp đã ký kết giữa vợ chồng ông P
và bà L1 với V để thu hồi nợ.
Không xử lý phát mại tài sản đối với phần diện tích đất và căn nhà người có
công trên đất và đường vào căn nhà (được thể hiện tại bảng vẽ trích đo hiện trạng
phần đất do Công ty D thực hiện).
(Kèm theo bản án là bản vẽ hiện trạng do Công ty D thực hiện)
6
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của ông Trịnh Văn S về việc yêu
cầu tuyên bố vô hiệu đối với hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn
Minh P, bà Nguyễn Thị L1 với Ngân hàng TMCP N2 chi nhánh C1 và các hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất sử dụng đất giữa ông Trịnh Văn S với ông Nguyễn
Minh P và bà Nguyễn Thị L1.
Ông Trịnh Văn S, anh Trịnh Trọng N và chị Lê Mộng N1 có trách nhiệm di
dời tài sản của mình, trả lại tài sản thế chấp để đảm bảo cho công tác thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền
kháng cáo theo luật định.
Ngày 01/7/2026 ông Trịnh Văn S kháng cáo với nội dung đề nghị cấp phúc
thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu độc lập của ông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm: Về việc
tuân theo pháp luật Tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại
phiên tòa của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng là đúng quy
định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật
Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Trịnh Văn S, giữ nguyên bản
án sơ thẩm của Toà án nhân dân Khu vực 1- Cà Mau.
Qua xem xét toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm
tra tại phiên tòa, trên cơ sở tranh luận của các đương sự, quan điểm của Viện kiểm
sát;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Tại phiên toà phúc thẩm, đại diện hợp pháp của ông Trịnh Văn S xác định vẫn
giữ nguyên nội dung kháng cáo, theo nội dung kháng cáo thể hiện ông Nguyễn Minh
P lừa dối ông ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thay vì ký hợp đồng
thế chấp quyền sử dụng đất, ông ký nhưng không đọc, không biết nội dung và không
được giữ bản gốc hợp đồng, điều này chứng minh rõ hành vi che giấu, lừa dối từ
phía ông Nguyễn Minh P; Giá trị của 05 thửa đất rất lớn, thực tế ông chỉ nhận số tiền
4.104.000.000 đồng; Ngân hàng thiếu trách nhiệm trong việc thẩm định trên thực
địa, không phát hiện gia đình ông đang quản lý sử dụng, có nhà ở của người có công
trên đất.
[2] Xét kháng cáo của ông Trịnh Văn S:
[2.1] Về thủ tục chuyển nhượng, thế chấp quyền sử dụng đất: Tại phiên toà
phúc thẩm, ông Trịnh Văn S thừa nhận vào năm 2022 giữa ông và ông Nguyễn Minh
P có thỏa thuận ông Trịnh Văn S thực hiện thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng
đất cho ông Nguyễn Minh P và bà Nguyễn Thị L1 để ông S nhận số tiền
7.000.000.000 đồng, giá 7.000.000.000 đồng thực tế là thế chấp quyền sử dụng đất
chứ không phải chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Ông Trịnh Văn S cung cấp tại
toà giấy xác nhận của ông Trần Hữu T1, ông Trần Văn B1, các giấy xác nhận này
nhằm để chứng minh ông Trịnh Văn S chỉ thế chấp vay tiền, nội dung giấy xác nhận
có thể hiện “Tại thời điểm tháng 6 năm 2022 chúng tôi trực tiếp chứng kiến và tham
7
dự cuộc họp nội bộ gồm 04 người (giữa chúng tôi cùng ông Trịnh Văn S và ông
Nguyễn Minh P. Nội dung cuộc họp là bàn phương án cho ông S vay tiền của ông P
(đại diện HTX) với số tiền vay theo nguyện vọng của ông S là 07 tỷ đồng, với hình
thức ông S phải chuyển nhượng 05 thửa đất toạ lạc tại ấp T xã T tỉnh Cà Mau…cho
ông Nguyễn Minh P với bà Nguyễn Thị L1 đứng tên 05 thửa đất nêu trên. Khi nào
ông Trịnh Văn S trả vốn lãi thì ông P và bà L1 chuyển nhượng trả lại 05 thửa đất
cho ông Trịnh Văn S”.
Ông Trịnh Văn S thừa nhận có đến văn phòng công chứng ký tên hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Minh P và bà Nguyễn Thị L1.
Khi thực hiện thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất xong thì ông Trịnh Văn S
có yêu cầu ông Nguyễn Minh P làm giấy thế chấp quyền sử dụng đất cho ông nên
mới có việc ông Nguyễn Minh P làm văn bản Hợp đồng thế chấp ngày 20/4/2023
(BL 187). Tiếp theo, do ông Trịnh Văn S không đóng tiền lãi nên phía ông Nguyễn
Minh P mới tiếp tục thực hiện lập thủ tục Hợp đồng thế chấp ngày 24/5/2024 (BL
180) để nội dung bên nhận thế chấp là Hợp tác xã T3 ký tên Hợp đồng thế chấp. Ông
Trịnh Văn S thừa nhận có ký giấy nhận tiền thế chấp số tiền 5.800.000.000 đồng
(BL 181), số tiền này là tiền lãi của số tiền thực nhận 4.104.000.000 đồng. Từ khi
nhận tiền đến khi phát sinh tranh chấp ông Trịnh Văn S chưa thanh toán bất cứ khoản
tiền nào cho ông Nguyễn Minh P, đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Minh P cũng
xác nhận nếu ông Trịnh Văn S thanh toán tiền cho ông Nguyễn Minh P thì ông
Nguyễn Minh P sẽ giao lại quyền sử dụng đất cho ông Trịnh Văn S. Ông Trịnh Văn
S cũng thừa nhận ông không chứng minh được cách tính tiền lãi như thế nào thành
số tiền 5.800.000.000 đồng. Giữa ông Trịnh Văn S và ông Nguyễn Minh P, bà
Nguyễn Thị L1 nếu có phát sinh tranh chấp thì có quyền khởi kiện thành vụ kiện
khác.
[2.2] Như vậy, việc ông Trịnh Văn S tự thực hiện thủ tục chuyển nhượng
quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Minh P và bà Nguyễn Thị L1, ông Nguyễn Minh
P và bà Nguyễn Thị L1 thế chấp quyền sử dụng đất cho Ngân hàng N2 là hợp pháp,
Ngân hàng N2 không biết được việc ông Trịnh Văn S và ông Nguyễn Minh P, bà
Nguyễn Thị L1 ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Trịnh Văn
S nhằm mục đích cho ông Trịnh Văn S vay tiền. Từ khi thực hiện hợp đồng chuyển
nhượng năm 2022 đến khi phát sinh tranh chấp giữa ông Nguyễn Minh P và Ngân
hàng N2, ông Trịnh Văn S và ông Nguyễn Minh P, bà Nguyễn Thị L1 không phát
sinh tranh chấp nào liên quan đến hợp đồng chuyển nhượng. Ngân hàng N2 là người
thứ ba ngay tình, Ngân hàng đã thực hiện thủ tục thẩm định phần đất thế chấp kèm
chứng thư thẩm định giá và bản ảnh đối với phần đất có nhà (BL 374, 375). Do đó,
ông Trịnh Văn S phải chịu hậu quả do mình thực hiện. Từ phân tích trên, không có
căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Trịnh Văn S.
[3] Đại diện Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận kháng cáo của ông Trịnh Văn
S, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Như nhận định trên, đề nghị của Viện kiểm sát là có
căn cứ, được chấp nhận.
[4] Các quyết định khác không kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật
kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
8
[5] Án phí phúc thẩm dân sự: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông
Trịnh Văn S phải nộp án phí là 300.000 đồng, đã dự nộp được chuyển thu.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2. Không chấp nhận kháng cáo của ông Trịnh Văn S. Giữ nguyên bản án dân
sự sơ thẩm số 183/2026/DS-ST ngày 19/6/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 -
Cà Mau.
Căn cứ các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 3 Điều 228 của Bộ
luật Tố tụng Dân sự.
- Các Điều 463 và 466 của Bộ luật Dân sự.
- Khoản 2 Điều 100 của Luật Các Tổ chức Tín dụng.
- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12
năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của ông Trịnh Văn S về việc yêu cầu tuyên
bố vô hiệu đối với hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Minh P,
bà Nguyễn Thị L1 với Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 chi nhánh C1 và các hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất sử dụng đất giữa ông Trịnh Văn S với ông
Nguyễn Minh P và bà Nguyễn Thị L1.
Ông Trịnh Văn S, anh Trịnh Trọng N và chị Lê Mộng N1 có trách nhiệm di
dời tài sản của mình, trả lại tài sản thế chấp để đảm bảo cho công tác thi hành án.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Buộc ông Nguyễn Minh P và bà Nguyễn Thị L1 phải chịu án phí dân sự sơ
thẩm có giá ngạch với số tiền là 120.929.000 đồng.
- Ông Trịnh Văn S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là 300.000
đồng, ông S đã nộp tạm ứng án phí 600.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí,
lệ phí Tòa án số 0001342 ngày 09/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau được
đối trừ, ông S được nhận lại 300.000 đồng.
- Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 nộp tạm ứng án phí với số tiền
59.687.000 đồng tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010778 ngày 06
tháng 5 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau (nay là Phòng
Thi hành án dân sự Khu vực 1 - Cà Mau), được nhận tại toàn bộ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều Điều 4, 7, 8, 34, 36 Luật Thi hành án
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật thi hành
9
án dân sự.
3. Án phí phúc thẩm dân sự: Buộc ông Trịnh Văn S phải nộp 300.000 đồng.
Ông Trịnh Văn S đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0000068 ngày
01/7/2026 tại Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau được chuyển thu đối trừ.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Thành viên Hội đồng xét xử Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Châu Minh Nguyệt Đặng Minh T2 Hoàng Thị Hải H
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Cà Mau;
- Phòng THA Dân sự Khu vực 1 - Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Hoàng Thị Hải Hà
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 641/2026/DS-PT Bản án số 641/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 641/2026/DS-PT Bản án số 641/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất