Bản án số 62/2025/DS-PT ngày 04/03/2025 của TAND tỉnh An Giang về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 62/2025/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 62/2025/DS-PT ngày 04/03/2025 của TAND tỉnh An Giang về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh An Giang
Số hiệu: 62/2025/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 04/03/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp QSDĐ
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH KIÊN GIANG Độc lập - Tự do -Hạnh phúc
Bản án số: 62/2025/DS-PT
Ngày 04/03/2025
V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Minh Triều
Các Thẩm phán: Ông Đoàn Văn Thậm
Trần Thị Chọn
- Thư phiên toà: Nguyễn Thị Nàng - Thư Toà án nhân dân tỉnh
Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang: Ông Phan Tân - Kiểm
sát viên.
Ngày 04 tháng 03 m 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Kiên Giang tiến
hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 47/2018/TLPT-DS ngày 26 tháng
03 năm 2018 về tranh chấp quyền sử dụng đất.
Do bản án dân sự thẩm số 02/2018/DS-ST ngày 19/01/2018 của Tòa án
nhân dân huyện Q, tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa ván ra xét xsố 80/2018/QĐ-PT ngày 09 tháng 5
năm 2018 Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2025/TB-TA ngày 11 tháng 02 năm
2025 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Ngô Văn H, sinh năm: 1961. (vắng mặt)
Bà Đặng Thị P, sinh năm: 1963. (có mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp T, xã C, thành phố Q, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Anh Ngô K, sinh năm
1987. (có mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã C, thành phố Q, tỉnh Kiên Giang.
* Bị đơn: Bà Cao Thị Mỹ N, sinh năm: 1985. (vắng mặt)
Ông Phạm Ngọc S, sinh năm: 1971 (chết năm 2016).
Cùng địa chỉ: Ấp T, xã C, thành phố Q, tỉnh Kiên Giang.
2
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Sơn:
1. Cháu Phạm Ngọc H, sinh năm: 2004. (vắng mặt)
2. Cháu Phạm Hùng A, sinh năm: 2012. (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của cháu Phạm Ngọc H, Phạm Hùng A đồng thời
là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Sơn: Bà Cao Thị Mỹ N, sinh năm:
1985.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Cao Thị Mỹ N: Ông Nguyễn Văn H1,
sinh năm 1996. (có mặt)
Địa chỉ: Phòng 7.07 Tòa nhà T, số 15 đường H, phường P, quận B, thành phố
Hồ Chí Minh.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của N: Luật Phan Thy D thuộc
Công ty Luật TNHH MTV Phan D và cộng sự. (vắng mặt).
Địa chỉ: Phòng 7.07 Tòa nhà Tulip, số 15 đường H, Phường P, quận B, thành
phố Hồ Chí Minh.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Ngô Tiến C, sinh năm: 1980. (vắng mặt)
2. Chị Ngô Thị C, sinh năm: 1982. (vắng mặt)
3. Anh Ngô Tiến Đ, sinh năm: 1985. (vắng mặt)
4. Anh Ngô Vô K, sinh năm: 1987. (có mặt)
5. Anh Ngô Tiến L, sinh năm: 1991. (vắng mặt)
6. Chị Ngô Thị Bé T, sinh năm: 1992. (vắng mặt)
7. Chị Ngô Xuân H, sinh năm: 2000. (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp T, xã C, huyện Q (nay là thành phố Q), tỉnh Kiên Giang.
- Người kháng cáo: Bị đơn bà Cao Thị Mỹ N.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông
Ngô Văn H và bà Đặng Thị P trình bày:
Vợ chồng ông là người địa phương tại Q. m 1991, vợ chồng ông
nhận chuyển nhượng của ông T một thửa đất để lập vườn, làm nhà tại ấp T, C,
huyện Q (nay là thành phố Q), tỉnh Kiên Giang. Năm 1993, Nhà nước đo đất đại trà
ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bìa xanh diện tích 9.940 m
2
,
đến năm 2003 cấp đổi giấy bìa đỏ số M 986342 ngày 23/5/2003 diện tích 9.190 m
2
tại ấp T, xã C, huyện Q đứng tên hộ bà Đặng Thị P.
Ngày 15/9/2001, vợ chồng ông lập hợp đồng chuyển nhượng đất cho ông
Phạm Ngọc S một phần diện tích đất thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
3
M 986342 do UBND huyện Q cấp ngày 23/5/2003 diện tích 9.190 m
2
để làm nhà ở,
chu vi diện tích 100 nọc tiêu, không ghi diện tích cụ thể với giá 30.000.000 đồng,
khi chuyển nhượng của ông T thì trên đất còn tiêu do ông T để lại. Vào năm 2005,
sau khi đo đạc diện tích đất thì thấy vợ chồng ông S sử dụng lấn sang phần diện ch
đất của vợ chồng ông nên ngày 07/02/2006 hai bên thỏa thuận chuyển nhượng thêm
một phần diện tích liền kề khoảng nửa công với giá 15.000.000 đồng, cả hai lần
chuyển nhượng chỉ lập hợp đồng bằng tay, không công chứng, chứng thực đã
thanh toán tiền chuyển nhượng xong.
Để làm thủ tục tách thửa cho vợ chồng ông S, hai bên lập hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ngày 16/5/2006 xác nhận của UBND C N
(vợ ông S) được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sAĐ 342798 do UBND
huyện Q cấp ngày 16/11/2006 với diện tích 4.040 m
2
thuộc thửa số 102 -a, tờ bản đồ
số 2, vợ chồng ông S người trực tiếp đi làm thủ tục tách giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất. Thực tế hai lần chuyển nhượng cho vợ chồng ông S diện tích chỉ
3.700 m
2
nhưng vợ chồng ông S tự ý tách sổ để diện tích tăng lên 4.040 m
2
, còn phần
tranh chấp giáp với bà N kéo dài đến suối có diện tích 3.349,3 m
2
theo biên bản xác
định vị trí, diện tích đất đang tranh chấp ngày 29/9/2016 phần đất mà vợ chồng
ông khai phá, quản từ trước, phần đất này vợ chồng ông đã xin phép đo đạc
năm 2007 nhưng chưa được Nhà nước đo đạc. Sau khi nhận chuyển nhượng, ông S
đã ngang nhiên trồng cây và rào phần đất này, ông bà ngăn cản nhưng bà N nói nếu
đất của vợ chồng của ông thì trả lại, không yêu cầu bồi thường từ đó tranh chấp
đến nay.
Tại phiên tòa sơ thẩm, vợ chồng ông bà yêu cầu Tòa án buộc bà Cao Thị Mỹ
N giao trả lại hiện trạng đất đang tranh chấp có diện tích 3.349,3 m
2
tại ấp T, huyện
Q, tỉnh Kiên Giang. Đồng thời, vợ chồng ông đồng ý bồi hoàn cho N giá trị cây
trồng trên đất theo Chứng thư định giá số Vc 16/4/28/CT-TVAP ngày 14/4/2014 của
Công ty TNHH định giá T là 22.000.000 đồng và đồng ý hỗ trợ cho bà N công sức
quản lý, giữ gìn, cải tạo đất bằng 20% giá trị đất theo chứng thư định giá số Vc
16/4/28/CT-TVAP ngày 14/4/2014 của Công ty TNHH định giá T tương đương
296.078.120 đồng, tổng cộng 2 khoản là 318.078.120 đồng.
* Bị đơn bà Cao Thị Mỹ N trình bày:
N xác nhận năm 2001, ông S chồng với vợ chồng ông H lập hợp
đồng chuyển nhượng đất và chuyển nhượng thêm phần đất liền knăm 2006 theo
lời trình bày của vợ chồng ông H, bà P là đúng.
4
Khi nhận chuyển nhượng đất của vợ chồng ông H, P năm 2001 thì N
chưa kết hôn với ông S, sau khi nhận chuyển nhượng xong thì ông S cất căn nhà và
trồng tiêu đúng với vị tđất đang tranh chấp hiện nay. Năm 2002, với ông kết
hôn ông về sống trên phần đất này cho đến nay. Khi về đây sống ông đào
một giếng nước trồng một số cây dừa phía sau nhà, N xác nhận một số cây dừa
đã lớn có trước khi ông S về đây sống, không phải ông S trồng.
N thừa nhận đối với đơn xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
15/9/2001 do ông S ký nhưng dòng chữ “diện tích ngang 50m dài tới suối” do
phía gia đình ông H viết vào thời điểm đi xác nhận tại Ban lãnh đạo ấp, bà không có
viết nội dung này. Bà N cho rằng, vợ chồng nhận chuyển nhượng đất của vợ
chồng ông H phần đất được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
đứng tên hộ ông Đặng Thị P. Do đất nhận chuyển nhượng chỉ một phần đất
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên chỉ được tách đối với phần được cấp,
phần chưa được cấp (đang tranh chấp) khi nào cấp bổ sung thì tách thửa. Bà N xác
nhận sau khi chuyển nhượng hai bên không đo đạc thực tế, chỉ ước chừng chiều
ngang cạnh từ đất ông Nguyễn Văn B đến đất P, chiều dài từ cạnh giáp đất ông
Trương Quang Q (Trương Văn Q) dài đến Suối. Năm 2006, do sử dụng đất lấn sang
phần đất của P nên vợ chồng ông tiếp tục nhận chuyển nhượng thêm phần diện
tích đất khoảng 500m
2
liền kvới đất đã nhận chuyển nhượng trước đó. Cả hai lần
chuyển nhượng năm 2001 năm 2006 đều không công chứng, chứng thực
đến ngày 16/11/2006 mới lập thủ tục chuyển nhượng toàn bộ diện tích 4.040 m
2
như
hiện nay. Đến năm 2013, vợ chồng N xây dựng lại căn nhà kiên cố đúng với hiện
trạng căn nhà củ trước đây mà ông S đã cất năm 2001.
Ngoài ra, vchồng N thừa nhận khoảng 04 năm sau khi mua đất vợ chồng
bà có trồng thêm một số cây ăn trái trồng tiêu, lúc này vợ chồng ông H không nói
gì. Hiện trạng đất tranh chấp có rào dây kẽm gai nhưng vào năm 2016 vợ chồng ông
H dã tháo toàn bộ hàng rào phía sau đất tranh chấp.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bà N không đồng ý yêu cầu khởi kiện ca ông H, bà P
và bà yêu cầu công nhận diện tích đất đang tranh chấp cho nhưng N, không
yêu cầu phản tố.
* Tại bản án dân sự sơ thẩm số 02/2018/DS-ST ngày 19/01/2018 của Tòa án
nhân dân huyện Q, tỉnh Kiên Giang đã quyết định:
Căn cứ các điều 26, 35, 147, khoản 1 Điều 165, khoản 1 Điều 166, khoản 1
Điều 228, 271, 273, 280 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 100 Luật đất đai năm 2013;
5
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí,
lệ phí Tòa án; Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Ngô Văn H, bà
Đặng Thị P.
- Giao cho ông H, P quản lý, sử dụng hiện trạng phần đất tranh chấp
diện tích 3.349,3 m
2
tại ấp T, xã C, huyện Q, tỉnh Kiên Giang.
Hiện trạng đất theo biên bản xác định vị trí, diện tích đất tranh chấp ngày
29/9/2016 được thể hiện như sau:
Cạnh YZ = 36,28m;
Cạnh YX = 41,58m;
Cạnh XW = 16,62m;
Cạnh WV = 10,14m;
Cạnh VP’ = 4,41m;
Cạnh P’O’ = 26,22m;
Cạnh O’N’ = 48,0m;
Cạnh N’Q’ = 1,40m;
Cạnh Q’Z’ = 55,62m.
Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa ông H, bà P với bà N về việc phần đất
hình A’B’C’D’ diện tích 240 m
2
dùng làm lối đi chung, hai bên không tranh chấp.
Ghi nhận sự tự nguyện của ông H, bà P bồi thường cho bà N giá trị cây trồng
trên đất với số tiền 22.000.000 đồng hỗ trợ cho N công sức quản lý, giữ gìn,
cải tạo đất bằng 20% giá trị quyền sử dụng đất với số tiền 296.078.120 đồng, tổng
cộng 318.078.120 đồng.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên án phí, chi pđịnh giá, xem xét thẩm định tại
chỗ và báo quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 25/01/2018, bà Cao Thị Mỹ N kháng cáo toàn bộ bản án thẩm, bà
yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án theo hướng công nhận cho phần
đất đang tranh chấp có diện tích 3.349,3 m
2
tại ấp T, huyện Q, tỉnh Kiên Giang.
Tại phiên tòa đại diện bị đơn thay đổi nội dung kháng cáo, nếu bên nguyên
đơn chịu thỏa thuận thì bị đơn đồng ý chia đôi phần đất tranh chấp với nguyên đơn,
nếu bên nguyên đơn không thỏa thuận thì yêu cầu giữ nguyên kháng cáo đề nghị bác
yêu cầu của nguyên đơn.
Nguyên đơn chỉ chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn đồng ý chia cho
bị đơn 30% trong diện tích đất tranh chấp 3.349,3m
2
.
6
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang đã phát biểu quan điểm về
việc tuân theo tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét
xử giai đoạn phúc thẩm là đúng quy định pháp luật. Về nội dung, Đề nghị Hội
đồng xét xử Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang đề nghị Hội đồng xét xử cấp
phúc thẩm áp dụng khoản 2 Điều 308 BLTTDS 2015 sửa bản án thẩm nêu trên
của TAND thành phố Q theo hướng giao trả cho nguyên đơn ½ diện tích đất tranh
chấp 3.349,3m
2
.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa,
căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các
chứng cứ, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, nguyên đơn, bị đơn những người
tham gia tố tụng khác, HĐXX thấy rằng:
[1]. Về tố tụng: Về sự vắng mặt của đương sự nhưng đã được Tòa án triệu tập
hợp lệ và có đơn xin vắng mặt nên căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự,
Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt.
[2]. Về nội dung: Qua xem xét đơn kháng cáo của bị đơn N các tài liệu,
chứng cứ trong hồ vụ án cùng lời khai của các bên đương sự tại phiên tòa,
nhận thấy như sau:
Vào năm 2001, vợ chồng ông H và bà P chuyển nhượng một phần đất cho ông
Phạm Ngọc S diện tích khoảng 100 nọc tiêu, không xác định diện tích đất cụ thể với
số tiền 30.000.000đ, khi chuyển nhượng hai bên có lập giấy tay mua bán và đã thực
hiện xong quyền, nghĩa vụ với nhau là giao đất giao tiền xong, ông S đã nhận đất
cất nhà trên đất sinh sống. Năm 2006, vợ chồng ông H, P tiếp tục chuyển nhượng
một phần đất liền kề cho vợ chồng ông S, N, lập giấy tay với số tiền
15.000.000đ, hai bên đã giao nhận đất tiền xong. Đến ngày 16/11/2006, UBND
huyện Q (nay thành ph Q) đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Cao
Thị Mỹ N đứng tên, diện tích 4.040m
2
đất, thuộc thửa 102a, tờ bản đồ s 02 vị trí
đất th hiện: phía Bắc giáp ông Ngô Văn B, phía Tây giáp Trương Quang Q, phía
Nam giáp bà Đặng Thị P, phía Đông giáp suối. Năm 2007, Nhà nước có chủ trương
đo đất đại trà thửa đất của vợ chồng ông H, P vchồng N, ông S đã xác
định vị trí đất làm ranh giới cho hai bên ký giáp ranh xác nhận. Sau khi đo đạc xong
ông H, P biết được diện tích đất của vợ chồng N, ông S đang sử dụng
3.349,3m
2
đất so với giấy chứng nhận QSD đất bà N được cấp, nên vợ chồng ông H,
P yêu cầu bà N trả lại diện tích đất trên thì xảy ra tranh chấp. Theo phía bị đơn
7
bà N xác định phần diện tích đất tranh chấp nêu trên có được là do vợ chồng bà khai
khẩn thêm phần đất phía sau liền kề, do thời điểm đó phần đất này là đất rừng chồi
tự nhiên. Riêng vợ chồng ông H, bà P cho rằng diện tích đất tranh chấp nêu trên
nguồn gốc là vợ chồng bà mua của ông T, tuy chưa sử dụng đất nhưng có cậm ranh
giới và diện tích đất này chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng. Bản án
thẩm đã xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông H, bà P, giao đất
cho nguyên đơn quản lý, sdụng diện tích đất 3.349,3m
2
và ghi nhận nguyên đơn
h trợ cho bị đơn bà N 20% giá trị QSD đất tranh chấp, nên bị đơn bà N kháng cáo,
xét thấy:
Vnguồn gốc đất tranh chấp: Năm 1991, vợ chồng ông H nhận chuyển
nhượng của ông T một thửa đất đlập vườn, làm nhà, không xác định diện tích
vị trí giáp ranh. Năm 1993, Nhà nước đo đất đại tvợ chồng ông H được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bìa xanh diện tích 9.940 m
2
, đến năm 2003 cấp
đổi giấy bìa đỏ số M 986342 ngày 23/5/2003 diện tích 9.190 m
2
tại ấp T, C, huyện
Q đứng tên hộ bà Đặng Thị P. Vợ chồng ông H có chuyển nhượng cho vợ chồng bà
N 02 lần vào năm 2001 và 2006 diện tích được xác định trên giấy chứng nhận QSD
đất 4.040m
2
, phần diện tích còn lại của thửa đất mà 2 bên đã khai chưa được
cấp giấy
vợ chồng ông H bà P khai diện tích đất tăng thêm tổng cộng 20.337m
2
và vợ chồng N khai diện tích tăng thêm đang tranh chấp là 3.339,3m
2
. Trong
quá trình thụ giải quyết ván, Tòa án cấp thẩm đã ghi lời khai của những người
làm chứng, người biết việc họ những người làm việc tại ấp sống cố cụ tại địa
phương, gồm: ông Nguyễn Văn T (Bí Thư ấp), Nguyễn Văn N (Trưởng ấp), ông
Đậu Quang P (Tổ trưởng tổ tự quản số 5), ông Trần Như K (Phó ban nhân dân ấp)
rất nhiều lời khai khẳng định diện tích đất tranh chấp 3.348,3m
2
tại ấp T, C,
huyện Q đất rừng chồi tự nhiên nằm giáp suối chưa ai sử dụng. Năm 2001
năm 2006 vợ chồng ông H, bà P chuyển nhượng đất cho vợ chồng ông S, N
hai lần bằng giấy viết tay nhưng không ghi diện tích đất bao nhiêu, quá trình sử
dụng đất vợ chồng ông S, N cất nhà trên đất, lập vườn cây khai phá thêm
phần đất phía sau giáp suối để trồng cây, vì thời điểm này phần đất giáp suối là rừng
chồi tự nhiên chưa ai khai phá; khi sdụng đất vợ chồng ông S, N làm hàng
rào kiên cố ranh giới đất giữa hai bên, còn vợ chồng ông H, P trồng hàng
Tràm bông vàng sát hàng rào để làm ranh với đất ông S, bà N. Ngoài ra, còn có lời
khai của ông Hồng Văn O người trực tiếp dựng hàng rào kẻm gai cũng xác định
khi làm hàng rào các bên ông H, bà P và ông Sơn, N đều biết rõ và không ai ngăn
cản gì. Theo Công văn s165/UBND-ĐCXD ngày 15/12/2017 của UBND xã C xác
8
định: Phần đất tranh chấp nêu trên phía nguyên đơn chỉ quản ranh giới khu vực
đó nhưng không kê khai đo đạc, chưa canh tác sử dụng; phía bị đơn phát dọn trồng
cây không xin phép địa phương, nhưng khai đo đạc bản đồ địa chính. Như vậy,
căn cứ khẳng định nguồn gốc đất tranh chấp do vợ chồng ông H chuyển nhượng
của ông T, quản lý ranh giới đất, có cậm ranh đất nhưng không sử dụng đất
khai đăng ký; còn phía ông Sơn, N khai phá sử dụng tkhi nhận chuyển
nhượng đất của vợ chồng ông H, bà P mà không ai ngăn cản và vợ chồng ông Sơn,
bà N kê khai có tên trên bản đồ địa chính xã.
Mặt khác, vào năm 2007, năm 2008 Nhà nước chủ trương đo đạc đ cấp
giấy chứng nhận QSD đất cho người đang sử dụng đất, các bên đương sự trực tiếp
tham gia và chỉ ranh giới đất, ký xác nhận giáp ranh với các hộ có đất giáp ranh với
nhau, theo Bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 04/11/2008 thì hai bên đương
sự đã tên vào bản tả này xác nhận ranh giới đất của bị đơn hàng rào dây
kẻm gai kéo dài tới suối. Giấy chứng nhận QSD đất của N được cấp ngày
16/11/2006 diện tích 4.040m
2
cũng có cạnh giáp suối. Phần đất tranh chấp có vị trí
tiếp giáp suối do vợ chồng bị đơn khai phá sử dụng; Bản trích đo địa chính của
Văn phòng đăng QSD đất ngày 14/7/2009 ghi nhận thửa đất của P cạnh
giáp đất của N tọa độ của thửa đất ràng phù họp với sơ đtrích đo hiện
trạng thửa đất đang tranh chấp do Văn phòng đăng ký đất đai lập ngày 10/11/2015.
Riêng phía nguyên đơn khi nhận chuyển nhượng đất của chủ đất cắm ranh giới
đất nhưng không sử dụng, tại cấp phúc thẩm Tòa án đã xem xét thẩm định tại chỗ
lại diện tích đất tranh chấp có giải thích pháp luật và ghi lời khai các bên đương sự,
nên phía bđơn N thiện c nếu bên nguyên đơn đồng ý thỏa thuận tchia đôi
phần đất tranh chấp (mi bên hưởng ½), theo đo đạc thực tế của Tòa án cấp phúc
thẩm ngày 22/02/2024. Còn phía nguyên đơn thì chỉ đồng ý thỏa thuận cho phía bị
đơn 30% diện tích đất tranh chấp. vậy, để đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các
bên đương sự, Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của
bị đơn N, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện ca nguyên đơn, buộc N giao
trả cho vợ chồng ông H, bà P ½ diện tích đất tranh chấp. Phần diện tích đất giao cho
ông H, P khi Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang tiến hành xem xét, thẩm định tại
chỗ vào ngày 22/02/2024 thì trên đất đất trống, không công trình, vật kiến trúc,
cây trồng nên không đề cập xem xét.
Căn cứ Công văn s 156/UBND-NCPC ngày 28/3/2016 ca UBND huyn Q
xác định: diện tích đất tranh chấp là đất nông thôn, hướng ti bà N, ông S s dng
đất phù hợp theo quy định ca Luật đất đai thì đưc cp giy chng nhận QSD đất.
9
Ngày 15/12/2017, UBND xã C có Công văn số 165 khẳng định: Trường hợp đất do
đương sự khai phá nếu ngun gc s dng t trước ngày 01/7/2004 trc tiếp canh
tác liên tc, có thành qu lao động, ranh gii s dng ổn định không tranh chp, phù
hp quy hoch s dng đất thì được xem xét đề ngh cp giy chng nhn quyn s
dụng đất. Như vậy, căn cứ vào nội dung các Công văn nêu trên ca UBND xã C và
UBND huyn Q, phần đất các bên đương sự đang tranh chp din tích 3.349,3m
2
tuy
Nnước chưa công nhận hay cấp QSD đất cho nhân nào, nhưng không nm
trong quy hoch công trình công cộng, là đt nông thôn nên không cn thiết phi
đưa UBND UBND huyện (nay thành ph) Q vào tham gia t tng với
cách là người có quyn lợi, nghĩa vụ liên quan. Đồng thi tiếp tc giao cho các bên
đương sự qun lý, s dng diện tích đất như đã nêu ở phn trên và thc hin vic kê
khai, đăng ký quyền s dụng theo quy định ca pháp luật đất đai.
Đối với việc Tòa án cấp sơ thẩm ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa ông
H, bà P với N về việc phần đất hình A’B’C’D’ diện tích 240 m
2
dùng làm lối đi
chung, hai bên không tranh chấp nên cấp phúc thẩm không đề cặp xem xét.
Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo
của bị đơn Cao Thị Mỹ N; chấp nhận đnghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Kiên Giang, sửa bản án dân sự thẩm số 02/2018/DS-ST ngày 19/11/2018 của
Tòa án nhân dân huyện (nay là thành phố) Q, tỉnh Kiên Giang.
[4] Về án phí:
+ Án phí dân sự thẩm: Ông H P khởi kiện được chấp nhận nên không
phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho ông H, bà P số tiền tạm ứng án pđã
nộp là 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0000723 ngày 06/10/2015
tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Q (nay là thành phố) Q.
Buộc bà Cao Thị Mỹ N phải nộp số tiền là 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).
+ Án phí dân sự phúc thẩm:
Bị đơn Cao Thị Mỹ N kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí
dân sphúc thẩm. Hoàn trả cho N tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo
biên lai của cơ quan thi hành án Q.
[5] Về chi phí, lệ phí thẩm định giá, giám định: Vợ chồng ông H bà P tự chịu
toàn bộ chi phí thẩm định giá tài sản 6.023.455đ, chi phí giám định
10.000.000đ, vợ chồng ông H bà P đã nộp xong.
Chi phí định giá lần 2 8.000.000đ N u cầu tự nguyện nộp xong không
đề cập xem xét.
10
Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ lần 3 với số tiền 5.123.088 đồng theo hóa
đơn số 00000285 ngày 19/02/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành
phố Q, các đương sự không nộp Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang đã nộp cho
Chi nhánh văn phòng đăng đất đai Q để lấy trích đo địa chính. Vì vậy buộc ông
H bà P nộp trả ½ với số tiền 2.561.544 đồng và bà N nộp trả ½ với số tiền 2.561.544
đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ các điều 26, 35, 147, khoản 1 Điều 165, khoản 1 Điều 166, khoản 1
Điều 228, 271, 273, 280 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 100 Luật Đất đai năm 2013;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí,
lệ phí Tòa án;
- Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn bà Cao Thị Mỹ N.
- Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 02/2018/DS-ST ngày 19/01/2018 của Tòa án
nhân dân huyện (nay là thành phố) Q, tỉnh Kiên Giang.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Ngô Văn H,
bà Đặng Thị P.
2. Buộc bị đơnCao Thị Mỹ N và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ
của ông Phạm Ngọc S giao trả cho vchồng ông Ngô Văn H, bà Đặng Thị P diện
tích 1.674,6 m
2
tại ấp T, xã C, thành phố Q, tỉnh Kiên Giang, phần đất có hình 1-2-
3-4-5-6-7-8 theo tờ trích đo địa chính s218-2024, ngày 16/4/2024 của Chi
nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Q (kèm theo).
Cao Thị Mỹ N những người kế thừa quyền nghĩa vụ của ông Sơn
được tiếp tục quản lý, sử dụng diện tích 1.674,7 m
2
tại ấp T, xã C, thành ph Q, tỉnh
Kiên Giang, phần đất có hình 4-3-9-11-12-10 theo tờ trích đo địa chính số TĐ 218-
2024, ngày 16/4/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Q (kèm
theo).
Cao Thị Mỹ N những người kế thừa quyền nghĩa vụ của ông Sơn,
vợ chồng ông H trách nhiệm khai, đăng ký QSD đất theo quy định của pháp
luật về đất đai.
11
3. Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa ông H, bà P với bà N về việc phần
đất hình A’B’C’D’ diện tích 240 m
2
dùng làm lối đi chung, hai bên không tranh
chấp.
4. Về án phí:
+ Án phí dân sự thẩm: Ông H P khởi kiện được chấp nhận nên không
phải chịu án phí dân sựthẩm. Hoàn trả cho ông H, bà P số tiền tạm ứng án phí đã
nộp là 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0000723 ngày 06/10/2015
tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện (nay là thành phố) Q.
Buộc bà Cao Thị Mỹ N phải nộp số tiền là 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng)
+ Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn Cao Thị Mỹ N kháng cáo được chấp nhận
nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, hoàn trả cho bà N 300.000đ (Ba trăm
nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0002903 ngày 26/01/2018 của
Chi cục Thi hành án dân sự huyện (nay là thành phố) Q.
5. Về chi phí, lệ phí thẩm định giá, giám định:
- Vợ chồng ông H P tự chịu toàn bộ chi phí thẩm định giá tài sản 6.023.455đ
và chi phí giám định 10.000.000đ, ông H bà P đã nộp xong.
- Chi phí định giá lần 2 số tiền 8.000.00 theo hóa đơn số 0000286 ngày
25/9/2019 của Công ty TNHH định giá T, bà N phải chịu và đã nộp xong.
- Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ lần 3 với số tiền 5.123.088 đồng theo hóa
đơn số 00000285 ngày 19/02/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành
phố Q, Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang đã nộp toàn bộ số tiền nêu trên nên buộc
ông Ngô Văn H, bà Đặng Thị P nộp trả cho Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang ½ với
số tiền 2.561.544 đồng (Hai triệu năm trăm sáu mươi mốt nghìn năm trăm bốn mươi
bốn đồng), buộc Cao Thị Mỹ N nộp trả cho Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang ½
với stiền 2.561.544 đồng (Hai triệu năm trăm sáu mươi mốt nghìn năm trăm bốn
mươi bốn đồng).
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày
04/3/2025)./.
Nơi nhận:
- TAND cấp cao tại TP.HCM;
- VKSND cấp cao tại TP. HCM;
- VKSND tỉnh Kiên Giang;
- TAND TP. Q;
- Chi cục THADS TP. Q;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
12
Võ Minh Triều
Tải về
Bản án số 62/2025/DS-PT Bản án số 62/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 62/2025/DS-PT Bản án số 62/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất