Bản án số 62/2021/HNGĐ-ST ngày 25/08/2021 của TAND huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang về ly hôn, giao nuôi con khi ly hôn
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 62/2021/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 62/2021/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 62/2021/HNGĐ-ST ngày 25/08/2021 của TAND huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang về ly hôn, giao nuôi con khi ly hôn |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Sơn Dương (TAND tỉnh Tuyên Quang) |
| Số hiệu: | 62/2021/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 25/08/2021 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SƠN DƯƠNG
TỈNH TUYÊN QUANG
Bản án số: 62/2021/HNGĐ- ST
Ngày 25/8/2021
“V/v: ly hôn, giao nuôi con khi ly hôn”
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tạ Hồng Chiến.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Vượng và ông Nguyễn Danh Long
Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Huệ - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn
Dương, tỉnh Tuyên Quang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang tham gia
phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Dương mở
phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số:
294/2021/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2021 về việc “ly hôn, giao nuôi con khi ly
hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng
7 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Đỗ Ngọc Ch, sinh năm 1978
Địa chỉ: thôn C, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang
(Vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt)
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Khánh H, sinh năm 1980.
Nơi ĐKHKTT: thôn C, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang
(Vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Anh Đỗ Ngọc Ch. và chị Nguyễn Thị Khánh H. kết hôn với nhau trên cơ sở tự
nguyện, tự do tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương, có
đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện K, tỉnh Đak Lak vào ngày 10/11/2003. Sau khi
kết hôn, thời gian đầu anh chị sinh sống và làm việc tại huyện B, tỉnh Bình Dương đến
năm 2006 thì chuyển ra sống tại thôn C, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Quá trình
chung sống thời gian đầu vợ chồng bình thường, hạnh phúc đến năm 2014 thì phát sinh
2
mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống và kinh tế. Tháng
5/2014 chị H. đi làm ăn xa từ đó không về địa phương, vợ chồng ly thân từ đó đến nay.
Tháng 5/2021 anh Đỗ Ngọc Ch. có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Sơn
Dương giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị Khánh H, giao nuôi con
chung khi ly hôn và không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, công nợ chung.
Tại đơn khởi kiện, biên bản ghi lời khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn
anh Đỗ Ngọc Ch. trình bầy: Quá trình chung sống vợ chồng thời gian đầu hạnh phúc sau
phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, từ năm 2014 chị H. bỏ đi khỏi địa
phương đến nay không trở về, do vậy tình cảm vợ chồng dạn nứt, vợ chồng ly thân từ đó.
Nay anh xác định tình cảm vợ chồng đã hết, mục đích hôn nhân không đạt, đề nghị Tòa
án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị Khánh H. Vợ chồng có 02 con
chung là cháu Đỗ Nguyễn Khánh C, sinh ngày 26/12/2003 và Đỗ Ngọc H, sinh
ngày 02/7/2007, các cháu hiện đang ở với anh Ch. Khi ly hôn anh Ch. đề nghị cho
anh được nuôi dưỡng, giáo dục con chung và không yêu cầu chị H. cấp dưỡng nuôi con
cùng anh. Về tài sản, công nợ chung: Anh Đỗ Ngọc Ch. xác định không có, không đề
nghị Tòa án giải quyết.
Tại đơn yêu cầu phản tố, bị đơn chị Nguyễn Thị Khánh H. trình bầy: Chị kết hôn
với anh Đỗ Ngọc Ch. vào năm 2003 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND
xã P, huyện K, tỉnh Đak Lak. Quá trình chung sống vợ chồng bình thường và bình yên.
Năm 2003 anh Ch. đi làm ở Thái Lan, đến năm 2015 anh Ch. về nước rồi sau đó lại đi
làm ở Trung Quốc đến năm 2016 trở về địa phương sống và làm việc ở xã T, huyện S,
tỉnh Tuyên Quang. Trong thời gian đi làm xa nhà anh Ch. đã có quan hệ ngoại tình với
những người đàn bà khác, hiện tại ở địa phương anh Ch. cũng đang có quan hệ ngoại tình
với người đàn bà khác. Vì vậy, chị đề nghị Tòa án xem xét để Công an huyện Sơn
Dương giải quyết việc anh Ch. ngoại tình trước khi chị quyết định đồng ý ly hôn với anh
Ch. Về con chung có 02 con chung, đề nghị giải quyết theo ý kiến của con, còn chị nhận
nuôi con trai, giao con gái cho anh Ch. nuôi. Về tài sản công nợ chung: Anh chị có nhà
đất ở thôn C, xã T, huyện S. Chị có nguyện vọng bán nhà đất để trả nợ tiền cho những
người đã cho chị vay tiền để xây nhà.
Kết quả xác minh thể hiện: Chị Nguyễn Thị Khánh H. có hộ khẩu thường trú tại
thôn C, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Chị H. và anh Đỗ Ngọc Ch. kết hôn với nhau
vào năm 2003, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn anh chị
sinh sống làm việc ở miền nam đến năm 2006 thì chuyển ra sống tại thôn C, xã T, huyện
S, tỉnh Tuyên Quang. Quá trình chung sống bình thường, không có mâu thuẫn lớn. Năm
2014 chị H. đi làm ăn xa không có mặt ở địa phương, vợ chồng ly thân từ đó. Tài sản
chung của vợ chồng có nhà xây cấp 4 trên diện tích đất thổ cư đứng tên vợ chồng. Nhà
đất đã bị Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương kê biên, xử lý tài sản để đảm bảo
nghĩa vụ thi hành án dân sự của chị Nguyễn Thị Khánh H. và được anh Đỗ Ngọc Ch.
mua lại theo trình tự tự thủ tục Thi hành án dân sự.
Theo Biên bản lấy ý kiến của con chung chưa thành niên có trong hồ sơ thể hiện
cháu Đỗ Nguyễn Khánh C, sinh ngày 26/12/2003 và Đỗ Ngọc H, sinh ngày
02/7/2007 đều có nguyện vọng được sống cùng với bố là anh Đỗ Ngọc Ch.
3
Do bị đơn chị Nguyễn Thị Khánh H. không có mặt ở địa phương nên Tòa án
không triệu tập được chị H. đến trụ sở để lấy lời khai, chỉ tổ chức phiên họp kiểm tra tiếp
cận công khai chứng cứ với nguyên đơn mà không tiến hành phiên hòa giải được.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn khi
tham gia tố tụng đều đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; riêng đối với bị
đơn không chấp hành nghiêm quyền và nghĩa vụ của mình.
- Về nội dung vụ án: Anh Đỗ Ngọc Ch. và chị Nguyễn Thị Khánh H. kết hôn vào
năm 2003 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện K, tỉnh Đak
Lak là hôn nhân hợp pháp. Hiện tại chị H. không có mặt ở địa phương, vợ chồng ly thân
đã lâu. Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị HĐXX xử cho anh Đỗ
Ngọc Ch. được ly hôn với chị Nguyễn Thị Khánh H.; về con chung: Đề nghị giải quyết
giao cháu Đỗ Nguyễn Khánh C, sinh ngày 26/12/2003 và Đỗ Ngọc H, sinh ngày
02/7/2007 cho anh Đỗ Ngọc Ch. trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục theo quy định
tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; về tài sản, đất đai, công nợ chung: Các
đương sự không đề nghị giải quyết nên không đề cập xử lý. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm
sát còn đề nghị HĐXX giải quyết về án phí và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy
định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà,
căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật: Theo đơn khởi kiện anh Đỗ Ngọc Ch. đề nghị Tòa án
nhân dân huyện Sơn Dương giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị Khánh
H. và giao nuôi con chung khi ly hôn, không đề nghị giải quyết về tài sản, công nợ
chung. Do vậy quan hệ pháp luật ở đây được xác định là “Ly hôn và giao nuôi con chung
khi ly hôn”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương,
tỉnh Tuyên Quang theo quy định tại Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về việc tham gia tố tụng của các đương sự:
Theo kết quả xác minh thể hiện bị đơn chị Nguyễn Thị Khánh H. có hộ khẩu
thường trú tại thôn C, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang, hiện chị H. đi làm ăn xa không
có mặt ở địa phương, không xác định được chị H. ở đâu, làm gì. Theo địa chỉ chị H. cung
cấp cho Cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương và cung cấp cho Tòa án
nhân dân huyện Sơn Dương không giống nhau, hồ sơ có nhiều địa chỉ khác nhau nên
không tống đạt được văn bản tố tụng của Tòa án cho chị H. Như vậy, chị H. đã thay đổi
nơi cư trú mà không thông báo cho cơ quan có thẩm quyền cũng như anh Ch. biết. Đây
được xác định thuộc trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, Tòa án vẫn tiến hành giải
quyết vụ án theo quy định tại các Điều 28, 35, 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Tại phiên tòa, nguyên đơn anh Đỗ Ngọc Ch. vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng
mặt; bị đơn chị Nguyễn Thị Khánh H. vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét
xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
4
[3]. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Đỗ Ngọc Ch. và chị Nguyễn Thị Khánh H. kết hôn
với nhau trên cơ sở được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại
UBND xã P, huyện K, tỉnh Đak Lak vào ngày 20/9/2003 là hôn nhân hợp pháp. Quá
trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc, sau phát sinh mâu thuẫn, từ tháng 5 năm 2014
đến nay vợ chồng sống ly thân. Xác định tình cảm vợ chồng đã hết, tháng 5/2021 anh Ch.
có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị H. Bị đơn chị H.
xác định mâu thuẫn vợ chồng là do anh Ch. có quan hệ ngoại tình với người đàn bà khác
và đề nghị Tòa án xem xét để Công an huyện Sơn Dương giải quyết việc anh Ch. ngoại
tình trước khi chị quyết định đồng ý ly hôn với anh Ch.
Như vậy, cuộc sống hôn nhân của anh Đỗ Ngọc Ch. và chị Nguyễn Thị Khánh H.
thời gian đầu hạnh phúc, sau phát sinh mâu thuẫn và mâu thuẫn đã đến mức làm cho hôn
nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt, vợ chồng hiện sống ly
thân. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, có cơ sở chấp
nhận xử cho anh Đỗ Ngọc Ch. được ly hôn với chị Nguyễn Thị Khánh H.
- Về con chung: Anh Đỗ Ngọc Ch. và chị Nguyễn Thị Khánh H. có 02 con chung
là cháu Đỗ Nguyễn Khánh C, sinh ngày 26/12/2003 và Đỗ Ngọc H, sinh ngày
02/7/2007, các cháu hiện đang ở với anh Ch. tại thôn C, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên
Quang.
Xét thấy, cháu Đỗ Nguyễn Khánh C. và Đỗ Ngọc H. là con chung của anh Đỗ
Ngọc Ch. và chị Nguyễn Thị Khánh H. nên anh chị đều cùng phải có nghĩa vụ và trách
nhiệm đối với các cháu. Hiện tại chị H. không có mặt ở địa phương, anh Ch. có nguyện
vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục các cháu, chị H. có quan điểm giải quyết theo ý
kiến của các cháu. Quá trình giải quyết cháu C. và cháu H. có nguyện vọng được ở cùng
với bố. Để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của các cháu và quan điểm của các đương sự cần
chấp nhận yêu cầu của anh Ch. giao cháu Đỗ Nguyễn Khánh C, sinh ngày 26/12/2003
và Đỗ Ngọc H, sinh ngày 02/7/2007 cho anh Đỗ Ngọc Ch. trực tiếp nuôi dưỡng, chăm
sóc, giáo dục là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia
đình. Chị H. không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con
chung mà không ai được cản trở.
- Về tài sản, đất đai, công nợ chung: Anh Đỗ Ngọc Ch. xác định không có, không
đề nghị Tòa án giải quyết.
Chị Nguyễn Thị Khánh H. xác định vợ chồng có nhà xây và đất thổ cư nhưng
không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh, không thể hiện rõ quan điểm có đề
nghị giải quyết hay không. Theo quy định tại Khoản 5 Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự
thì kèm theo đơn khởi kiện là tài liệu chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích bị xâm phạm.
Do vậy, khi chị H. có yêu cầu đề nghị giải quyết về tài sản chung của vợ chồng thì chị
phải cung cấp cho Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương các căn cứ, tài liệu, chứng cứ
chứng minh quyền sở hữu tài sản của chị, đặc điểm, giá trị của tài sản, vị trí của tài sản ..
Đồng thời chị phải về làm thủ tục thụ lý yêu cầu của chị theo quy định pháp luật. Theo
đơn khởi kiện và quá trình giải quyết nguyên đơn anh Đỗ Ngọc Ch. không đề nghị Tòa
án giải quyết về tài sản, công nợ chung, chị H. cũng có nguyện vọng là bán nhà đất để trả
5
nợ tiền cho những người đã cho chị vay tiền để xây nhà, không thể hiện quan điểm có đề
nghị Tòa án giải quyết hay không. Do vậy, HĐXX không xem xét giải quyết.
Hiện tại, chị H. không có mặt ở địa phương, để đảm bảo quyền lợi cho chị H,
HĐXX giành quyền khởi kiện vụ án dân sự về chia tài sản chung vợ chồng cho chị H.
khi chị H. có đơn khởi kiện và cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh theo quy định tại
Điều 28, 189 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4]. Về các vấn đề khác:
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Nguyễn Thị Khánh H. có gửi cho Tòa án 01
đơn tố cáo ngoại tình và 01 đơn tố cáo hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản với nội dung tố
cáo anh Đỗ Ngọc Ch. có quan hệ ngoại tình với người đàn bà khác và có hành vi lấy các
tài sản phục vụ sinh hoạt gia đình của chị đi bán, đề nghị Cơ quan có thẩm quyền xác
minh và đưa ra khởi tố vụ án hình sự. Sau khi nghiên cứu đơn tố cáo của chị H. thấy
rằng, nội dung đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an
huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang nên Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương không
xem xét giải quyết trong vụ án Hôn nhân và gia đình. Hướng cho chị H. làm đơn tố cáo
và gửi đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang để
được giải quyết theo thẩm quyền.
[5]. Về án phí: Anh Đỗ Ngọc Ch. phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000
đồng (ba trăm nghìn đồng) được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định
pháp luật.
[6]. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định
của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 228, 271, 273 - Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều
56, 81, 82, 83 - Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Đỗ Ngọc Ch. được ly hôn với chị Nguyễn
Thị Khánh H.
2. Về con chung: Giao cháu Đỗ Nguyễn Khánh C, sinh ngày 26/12/2003 và Đỗ
Ngọc H, sinh ngày 02/7/2007 cho anh Đỗ Ngọc Ch. trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc,
giáo dục. Chị Nguyễn Thị Khánh H. không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa
vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Anh Đỗ Ngọc Ch. phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng
(ba trăm nghìn đồng). Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba
trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003828 ngày 04 tháng 5 năm
2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Sơn Dương. Anh Ch. đã nộp đủ án phí của vụ
án.
6
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời
hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công
khai.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Tuyên Quang;
- VKSND huyện Sơn Dương;
- Chi cục THADS huyện Sơn Dương;
- UBND xã T.;
- Các đương sự;
- Lưu VT- HS.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Tạ Hồng Chiến
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 13/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 11/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 10/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 10/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 09/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 08/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 08/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 08/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 08/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 08/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 05/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 05/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 04/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 04/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 04/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 04/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 04/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 03/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 03/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm