Bản án số 610/2024/DS-ST ngày 09/09/2024 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 610/2024/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 610/2024/DS-ST ngày 09/09/2024 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 7 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 610/2024/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 09/09/2024
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Kiện đòi tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 610/2024/DS-ST
Ngày: 09-9-2024
V/v Kiện đòi tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huyền Tôn Nữ Kiều Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Ngọc Vân
2. Ông Nguyễn Văn Quản
- Thư phiên toà: Nguyễn Thị Lê, Thư ký Tòa án nhân dân Quận 12,
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Bà Lường Thị Lan– Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại trụ sTòa án nhân dân Quận 12, Thành
phố Hồ Chí Minh xét xử thẩm công khai vụ án thụ số: 814/2023/TLST-DS
ngày 30 tháng 11 năm 2023 về việc “Kiện đòi tài sản” theo Quyết định đưa vụ án
ra xét xử số: 1050/2024/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 7 năm 2024 Quyết định
hoãn phiên tòa số: 1259/2024/QĐST-DS ngày 13 tháng 8 năm 2024 giữa các
đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Vũ Thị H, sinh năm 1962
Thường trú: Thôn H, xã C, huyện P, tỉnh Vĩnh Phúc.
Địa chỉ liên lạc: Số D, Tổ A, Khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố
Hồ Chí Minh.
(Có đơn xin vắng mặt)
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thiên Mỹ D, sinh năm 1972
Địa chỉ: 1, Khu phố D, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Về nội dung, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 03 tháng 11 năm 2023, các lời khai trong quá
trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – bà Vũ Thị H trình bày như sau:
Năm 2019, bà Nguyễn Thiên Mỹ D có dẫn bà Vũ Thị H xem đất và hứa khi
nào phân lô, tách sổ được đất thì D sẽ bán cho một đất. D nói với
rằng, bao nhiêu tiền thì đưa trước cho D. Do tin tưởng D nên đã
2
đưa tiền cho D như sau: Ngày 23/02/2019: Đưa 50.000.000 (Năm mươi triệu)
đồng;
Ngày 23/02/2019: Đưa 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng;
Ngày 25/02/2019: Đưa 40.000.000 (Bốn mươi triệu) đồng;
Ngày 06/3/2019: Đưa 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng;
Ngày 13/3/2019: Đưa 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng;
Tổng cộng, H đã đưa cho D 190.000.000 (Một trăm chín mươi triệu)
đồng.
Sau hai năm, H không thấy D nói đến việc chuyển nhượng đất
tránh mặt nên H D thỏa thuận không thực hiện cam kết chuyển
nhượng đất nữa D sẽ trả lại tiền cho H. Thực tế, D đã trcho bà H
tổng cộng 59.000.000 (Năm mươi chín triệu) đồng vào các ngày: 17/4/2021 trả
46.000.000 (Bốn mươi sáu triệu) đồng, 25/6/2022 trả 13.000.000 (Mười ba triệu)
đồng. Như vậy, hiện nay D còn nợ H 131.000.000 (Một trăm ba mươi mốt
triệu) đồng.
Nay H yêu cầu D trả số tiền 131.000.000 (Một trăm ba mươi mốt
triệu) đồng còn lại cho bà.
* Về ý kiến, đề nghị của bị đơn:
Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không đến Tòa án cũng không
gởi văn bản trả lời về nội dung đơn kiện mặc đã được Tòa án nhân dân Quận
12 tống đạt thông báo thụ lý và triệu tập đến Tòa án để giải quyết vụ kiện.
* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 12 tham gia phiên tòa ý kiến
như sau:
Về thủ tục tố tụng: Thủ tục khởi kiện thụ vụ án thực hiện đúng quy
định của pháp luật. Tòa án thụ đúng thẩm quyền. Việc tống đạt các văn bản tố
tụng chuyển hồ cho Viện Kiểm sát nghiên cứu thực hiện đúng theo quy
định pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử tuân theo quy định của pháp luật
Tố tụng dân sự. Ngoài ra còn nhận xét về việc tham gia tố tụng của các đương sự.
Viện kiểm sát kiến nghị về việc khắc phục vi phạm thời hạn giải quyết vụ án.
Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu kiện đòi tài sản của
nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án, Hội đồng
xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Đây là "Tranh chấp về kiện đòi tài sản", bị đơn cư trú tại Quận A nên vụ án
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí
Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1
Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
3
[2] Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn đơn đề nghị Tòa án t xvắng mặt, bị đơn đã được a
án tống đạt hợp lệ quyết định đưa ván ra xét xử quyết định hoãn phiên tòa
nhưng vắng mặt lần thứ hai không do nên theo quy định tại các điểm a b
khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử
vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[3] Về yêu cầu của nguyên đơn:
Theo trình bày của nguyên đơn, chứng cứ do nguyên đơn giao nộp, giữa
nguyên đơn - bà Thị H bị đơn - Nguyễn Thiên Mỹ D giao kết bằng
lời nói vào năm 2019 về việc hứa thực hiện chuyển nhượng quyền sdụng đất
sau khi đất đã được bà D tách sổ là việc các bên xác lập giao dịch dân sự theo quy
định tại Điều 116 Bộ luật Dân sự năm 2015. Quá trình thực hiện giao kết, bà H đã
giao cho D tổng cộng 190.000.000 (Một trăm chín mươi triệu) đồng theo các
giấy giao nhận ngày 23/02/2019: 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng, ngày
25/02/2019: 40.000.000 (Bốn mươi triệu) đồng, ngày 06/3/2019: 50.000.000
(Năm mươi triệu) đồng, ngày 13/3/2019: 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng như
trình bày của nguyên đơn. Ngược lại, phía bà D không thực hiện nghĩa vụ tách sổ
để thực hiện giao dịch theo quy định tại khoản 1 Điều 351 Bộ luật Dân sự năm
2015. Do vậy, các n thỏa thuận hủy bỏ giao kết hứa chuyển nhượng quyền sử
dụng đất trả lại cho nhau stiền đã nhận việc các bên n cứ vào khoản 2
Điều 372 Bộ luật Dân sự năm 2015 để thỏa thuận chấm dứt thực hiện nghĩa vụ
đối với giao dịch hứa chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã xác lập thực hiện
thỏa thuận mới, theo đó, D nghĩa vụ trả số tiền đã nhận cho bà H.
Thừa nhận của nguyên đơn cũng như chứng cứ trong hồ vụ án thể hiện,
trên sở bị đơn không phản đối theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Bộ luật Tố
tụng Dân sự năm 2015, sở xác định, D đã thực hiện một phần nghĩa vụ
hoàn trả tiền cho H như sau: Ngày 17/4/2021, D đã trả cho bà H ba lần tiền
gồm: 15.000.000 (Mười lăm triệu) đồng, 21.000.000 (Hai mươi mốt triệu) đồng
10.000.000 (Mười triệu) đồng, tổng cộng 46.000.000 (Bốn mươi sáu triệu)
đồng; Ngày 25/6/2022, D trả tiếp cho H 13.000.000 (Mười ba triệu) đồng;
Như vậy, tổng cộng tất cả các lần, bà D đã trả cho H 59.000.000 (Năm mươi
chín triệu) đồng, còn thiếu 131.000.000 (Một trăm ba mươi mốt triệu) đồng. Theo
quy định tại Điều 352 Bộ luật Dân sự năm 2015, sở chấp nhận yêu cầu của
H về việc buộc D tiếp tục thực hiện nghĩa vụ hoàn trđủ số tiền đã nhận
của bà H.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền 131.000.000 (Một trăm ba mươi
mốt triệu) đồng nên phải chịu án phí : 5% x 131.000.000 đồng = 6.550.000
đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
4
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1
Điều 39, khoản 2 Điều 91, các điểm a và b khoản 2 Điều 227 và Điều 273 của Bộ
luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 116, khoản 1 Điều 351, Điều 352, khoản 2 Điều 372,
khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm
2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ vào các Điều 2, 6, 7, 9, 30 Luật Thi hành án Dân sự năm 2008,
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Buộc Nguyễn Thiên Mỹ D phải trả cho Thị H 131.000.000 (Một
trăm ba mươi mốt triệu) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong khoản
tiền nói trên, hàng tháng bà Nguyễn Thiên M D n phải chịu khoản tiền lãi của
số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của
Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Nguyễn Thiên Mỹ D phải chịu án phí 6.550.000 (Sáu triệu năm trăm
năm mươi ngàn) đồng.
3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người thi hành án dân
sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 9 Luật
Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Các đương sự quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày ktừ ngày
tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có
lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được
tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
- Đương sự;
- VKSND Quận 12;
- Lưu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Huyền Tôn Nữ Kiều Hạnh
Tải về
Bản án số 610/2024/DS-ST Bản án số 610/2024/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 610/2024/DS-ST Bản án số 610/2024/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất