Bản án số 60/2026/DS-PT ngày 22/01/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 60/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 60/2026/DS-PT ngày 22/01/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 60/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/01/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: 1/ Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký vào ngày 14/01/2019 giữa nguyên đơn với ông Bùi Công K, bà Nguyễn Thị Ú, bà Bùi Thị Cẩm T. 2/ Buộc bà Nguyễn Thị Ú, bà Bùi Thị Cẩm T trả cho nguyên đơn số tiền 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng). Trong đó tiền mua bán đất là 200.000.000 đồng, tiền vay là 50.000.000 đồng.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 60/2026/DS-PT
Ngày: 22 - 01 - 2026
V/v Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất, hợp đồng vay tài sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Cao Khánh
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Lập
Bà Tiêu Hồng Phượng
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thuỷ Anh - Là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà
Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Mau tham gia phiên tòa: Ông
Bùi Trung Biển - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Mau xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ số 496/2025/TLPT-DS ngày 11 tháng 11 năm
2025 về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp đồng vay
tài sản.
Do Bản án dân sự thẩm số 114/2025/DS-ST ngày 08 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xphúc thẩm số 527/2025/QĐ-PT ngày
02 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Ông Quách Văn S, sinh năm 1968 (vắng mặt).
Căn cước công dân số: 096068000852, cấp ngày: 01/05/2021, nơi cấp: Cục
Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
2. Bà Nguyễn Thị Mỹ C, sinh năm 1970 (vắng mặt).
Căn cước công dân số: 096170000965, cấp ngày: 18/03/2023, nơi cấp: Cục
Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
Cùng trú tại: Số A, đường N, Khóm A, Phường H, thành phố C, tỉnh
Mau (Nay là phường L, tỉnh Cà Mau).
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Trịnh Thái B, sinh năm
1993; Căn cước công dân số: 096093007616, cấp ngày: 15/11/2022, nơi cấp: Cục
Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Cư trú tại: Số A, đường H, Khóm C,
Phường G, thành phố C, tỉnh Cà Mau (Nay số A, đường H, Khóm C, Phường T,
2
tỉnh Cà Mau) (Hợp đồng uỷ quyền lập ngày 28/11/2024) (có mặt).
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật Trịnh
Thanh L, Văn phòng L1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh C (vắng mặt).
- Bị đơn:
1. Bà Bùi Thị Cẩm T (vắng mặt).
2. Nguyễn Thị Ú; sinh năm: 1940; Chứng minh nhân dân số:
380055909, cấp ngày: 22/01/2019, nơi cấp: Công an tỉnh C (vắng mặt).
Cùng trú tại: đường L, Khóm F, Phường A, thành phố C, tỉnh Mau
(Nay là phường A, tỉnh Cà Mau).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Bùi Thị Cẩm V; sinh năm: 1965 (vắng mặt).
2. Ông Bùi Chí D; sinh năm: 1967 (vắng mặt).
3. Bà Bùi Cẩm H; sinh năm: 1968 (vắng mặt).
4. Bà Bùi Cẩm D1; sinh năm: 1969 (vắng mặt).
5. Bà Bùi Cẩm T1; sinh năm: 1970 (vắng mặt).
6. Ông Bùi Chí S1; sinh năm: 1971 (vắng mặt).
7. Bà Bùi Cẩm C1; sinh năm: 1973 (vắng mặt).
8. Ông Bùi Chí V1; sinh năm: 1975 (vắng mặt).
9. Bà Bùi Cẩm C2; sinh năm: 1976 (vắng mặt).
10. Ông Bùi Chí C3; sinh năm: 1977 (vắng mặt).
11. Bà Bùi Cẩm P; sinh năm: 1978 (vắng mặt).
12. Ông Bùi Chí P1; sinh năm: 1979 (vắng mặt).
Cùng cư trú tại: đường L, Khóm F, Phường A, tỉnh Cà Mau.
- Người kháng cáo: Ông Quách Văn S bà Nguyễn Thị Mỹ C nguyên
đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn Ông Quách Văn S, bà Nguyễn Thị Mỹ C - Người đại diện theo
ủy quyền của nguyên đơn là ông Trịnh Thái B trình bày:
Ngày 14/01/2019, vợ chồng nguyên đơn kết hợp đồng nhận chuyển
nhượng quyền sử dụng đất vườn của ông Bùi Công K, bà Nguyễn Thị Ú. Phần đất
chiều ngang 10m, chiều dài 38m tổng diện tích 380m², đất tọa lạc tại đường L,
Khóm F, Phường A, thành phố C, tỉnh Mau (nay phường A, tỉnh Mau).
Giá chuyển nhượng là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng).
Do ông K, bà Ú đã lớn tuổi nên để cho người con gái tên Bùi Thị Cẩm T
nhận số tiền của bên nguyên đơn 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng). Hợp
3
đồng không lập tại phòng công chứng, do các bên tự lập, người chứng
kiến.
Sau khi ký kết hợp đồng khoảng 02 tháng thì ông K, bà Ú và bà T có hỏi vay
của nguyên đơn số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng). làm Biên
nhận, người nhận tiền là bà Bùi Thị Cẩm T.
Theo thỏa thuận thì trong thời hạn 90 ngày, kể từ khi hợp đồng, bên bị
đơn phải làm giấy tờ tách quyền sdụng đất cho nguyên đơn, nhưng đến nay bên
bị đơn không tiến hành làm thủ tục sang tên cho nguyên đơn theo như thỏa thuận.
Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu:
1/ Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký vào ngày 14/01/2019
giữa nguyên đơn với ông Bùi Công K, bà Nguyễn Thị Ú, bà i Thị Cẩm T.
2/ Buộc Nguyễn Thị Ú, Bùi Thị Cẩm T trả cho nguyên đơn số tiền
250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng). Trong đó tiền mua bán đất
200.000.000 đồng, tiền vay là 50.000.000 đồng.
Nguyên đơn không yêu cầu tính lãi hoặc yêu cầu nào khác.
Nguyên đơn yêu cầu hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nói
trên. Nguyên đơn không yêu cầu bị đơn tiếp tục thực hiện hợp đồng. Không yêu
xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc, thẩm định giá tài sản tranh chấp; không yêu cầu
giám định chữ ký, chữ viết.
Do hiện nay ông K đã chết, nguyên đơn không yêu cầu tất cả những người
kế thừa quyền nghĩa vụ của ông K Ú thực hiện việc trả nợ. Nguyên đơn
chỉ yêu cầu 02 người là bà Ú và bà T chịu trách nhiệm trả tiền mà không yêu cầu ai
khác.
Ngoài yêu cầu trên, thì nguyên đơn không còn yêu cầu nào khác.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Ú trình bày:
Ông Bùi Công K chồng của Nguyễn Thị Ú. Ông K đã chết năm 2024.
Ông K Ú tất cả 13 người con gồm: Bùi Thị Cẩm V, sinh năm 1965; Bùi
Chí D, sinh năm 1967; Bùi Cẩm H, sinh năm 1968; Bùi Cẩm D1, sinh năm 1969;
Bùi Cẩm T1, sinh năm 1970; Bùi Chí S1, sinh năm 1971; Bùi Cẩm C1, sinh năm
1973; Bùi Chí V1, sinh năm 1975; Bùi Cẩm C2, sinh năm 1976; Bùi Chí C3, sinh
năm 1977; Bùi Cẩm P, sinh năm 1978; Bùi Chí P1, sinh năm 1979; Bùi Thị Cẩm
T, sinh năm 1983.
Mặc dù chữ ký trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nói trên là
của bà Nguyễn Thị Ú, nhưng thực tế Ú ông K không có chuyển nhượng đất
cho C, ông S. Thực tế Bùi Thị Cẩm T vay tiền của nguyên đơn, nên T mượn
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Ú ông K để thế chấp cho nguyên
đơn, để nguyên đơn cho T vay tiền. Do T kêu bà Ú và ông K hợp đồng thì Ú
ký, chứ Ú ông K không đọc lại nội dung. Ú ông K không nhận
của nguyên đơn số tiền nào. Bà Ú là người quản lý, sử dụng phần đất.
Ú cho rằng chữ trong hợp đồng không phải của ông K, nhưng Ú
không có yêu cầu giám định chữ ý.
4
Tóm lại bà Ú và ông K không chuyển nhượng đất cho nguyên đơn, cũng không
vay tiền của nguyên đơn nên không đồng ý trả tiền theo yêu cầu của nguyên
đơn. T là người vay tiền của nguyên đơn nên trách nhiệm thanh toán nợ cho
nguyên đơn mà không phải bà Ú thanh toán.
Nguyễn Thị Ú không yêu cầu giám định chữ ký, không yêu cầu thẩm định tại
chỗ, đo đạc, thẩm định giá tài sản. Bị đơn cũng không có yêu cầu phản tố.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Chí S1 trình bày: Ú
không có chuyển nhượng đất cho nguyên đơn, không có nhận tiền của nguyên đơn
nên không đồng ý trả tiền cho nguyên đơn là đúng. T là người vay tiền của nguyên
đơn và mượn Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Ú để cầm làm hợp
đồng sang nhượng nên T là người chịu trách nhiệm thanh toán tiền cho nguyên đơn
là đúng.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bùi Cẩm D1 trình bày: Thống
nhất với ý kiến của ông S1.
Tại Bản án dân sthẩm số 114/2025/DS-ST ngày 08 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Cà Mau, đã quyết định (tóm tắt):
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 14/01/2019,
giữa nguyên đơn ông Quách Văn S, Nguyễn Thị Mỹ C ông Bùi Công K,
Nguyễn Thị Ú vô hiệu.
Buộc Bùi Thị Cẩm T trả lại cho nguyên đơn số tiền đã nhận
200.000.000 đồng; tiền vay 50.000.000 đồng. Tổng cộng 250.000.000 đồng
(Hai trăm năm mươi triệu đồng).
Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc
Nguyễn Thị Ú cùng với Bùi Thị Cẩm T trả cho nguyên đơn tổng số tiền
250.000.000 đồng.
Ngoài ra án thẩm còn tuyên về lãi suất chậm trả, án phí quyền kháng
cáo của đương sự theo luật định.
Ngày 18 tháng 9 năm 2025 ông Quách Văn S Nguyễn Thị Mỹ C
nguyên đơn đơn kháng cáo yêu cầu sửa bản án thẩm số 114/2025/DS-ST
ngày 08/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Mau theo hướng buộc
Nguyễn Thị Ú Bùi Thị Cẩm T liên đới trả cho ông S C số tiền
250.000.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Ông Trịnh Thái B người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ
nguyên yêu cầu kháng cáo và trình bày căn cứ kháng cáo:
Không căn cứ chứng minh việc giao dịch giữa ông S, C với Ú, ông
K và bà T là hợp đồng vay.
Nguyễn Thị Ú đồng chủ thể hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất ngày 14/01/2019. Hợp đồng thế hiện bên bán ông Bùi Công K
5
Nguyễn Thị Ú. chữ ký, điểm chỉ của Ú; được chính quyền địa phương xác
nhận. Tại biên bản hòa giải ngày 06/01/2025, Ú đã thừa nhận chữ ký, chữ viết
trong hợp đồng là của bà.
Nghĩa vụ được xác định nghĩa vụ chung của bên bán: Điều 2 hợp đồng
quy định rõ: "Bên A (ông K, Ú) trách nhiệm làm thủ tục sang tên giao sổ
cho bên B trong thời hạn 90 ngày."
Việc để Bùi Thị Cẩm T nhận tiền chỉ ssắp xếp nội bộ của gia đình
bên bán, không làm thay đổi trách nhiệm của Ú với cách đồng chủ thể hợp
đồng.
Khoản 50 triệu vay thêm sau hợp đồng cũng nhằm mục đích thực hiện nghĩa
vụ chung.
biên nhận chỉ do T ký, nhưng mục đích ràng là để làm thủ tục tách
giấy cho nguyên đơn. Khoản tiền này gắn trực tiếp với nghĩa vụ hợp đồng chuyển
nhượng mà bà Ú đã cùng ký kết.
Như vậy, việc Tòa thẩm chỉ buộc một mình T hoàn trả chưa đúng
bản chất hợp đồng, chưa bảo đảm quyền lợi hợp pháp của nguyên đơn.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án
thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc
buộc Ú cùng trách nhiệm liên đới với T trả số tiền 250.000.000 đồng
cho ông S và bà C.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Mau tham gia phiên tòa phát
biểu:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Ttiến hành đúng quy định
pháp luật tố tụng dân sự; Các đương schấp hành đúng với quyền nghĩa vụ
theo pháp luật quy định.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố
tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của ông Quách Văn S Nguyễn Thị
Mỹ C. Giữ nguyên Bản án dân sthẩm số 114/2025/DS-ST ngày 08 tháng 9
năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Cà Mau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Xét đơn kháng cáo của ông Quách Văn S bà Nguyễn Thị Mỹ C
nguyên đơn nộp trong thời hạn quy định của pháp luật. Về tố tụng, quan htranh
chấp, thời hiệu khởi kiện thẩm quyền giải quyết đã được cấp sơ thẩm xác định
và thực hiện đúng theo quy định pháp luật.
[2] Bị đơn là bà Bùi Thị Cẩm T và bà Nguyễn Thị Ú đã được triệu tập hợp lệ
nhưng vắng mặt lần 2 không do, do đó Hội đồng xét xử tiến hành xử vắng mặt
theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Xét các yêu cầu kháng cáo của ông Quách Văn S Nguyễn Thị M
C Hội đồng xét xử thấy rằng:
6
[3.1] Căn cứ vào lời trình bày của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn tại
cấp phúc thẩm, cùng lời trình bày của bị đơn tại cấp thẩm các tài liệu chứng
cứ trong hồ vụ án thể hiện: Ngày 14/01/2019, ông Quách Văn S, Nguyễn
Thị Mỹ C ông Bùi Công K, Nguyễn Thị Ú hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất nói trên. Tuy nhiên hợp đồng nói trên vi phạm vhình thức,
không được công chứng theo quy định pháp luật. Về nội dung: Mặc người
kết hợp đồng ông K, Ú nhưng người nhận tiền là T. Khi chuyển nhượng,
các bên không đo đạc, xác định vị trí, ranh mốc phần đất chuyển nhượng. Toàn
bộ giá trị chuyển nhượng QSDĐ 200.000.000 đồng nhưng đôi bên chưa làm thủ
tục chuyển nhượng, chưa đo đạc, xác định tứ cận, chỉ hợp đồng vào ngày
14/01/2019 cùng ngày người nhận chuyển nhượng đã trả toàn bộ số tiền giá trị
chuyển nhượng là 200.000.000 đồng, không hợp lý. Từ khi chuyển nhượng đến
nay, đất do bị đơn quản lý, sử dụng.
Tại phiên tòa đại diện ủy quyền của nguyên đơn giải do ông K Ú
cao tuổi (thời điểm chuyển nhượng ông K 85 tuổi, bà Ú 79 tuổi), nên con của bà Ú,
ông K Bùi Thị Cẩm T nhận số tiền 200.000.000 đồng xác nhận của
chính quyền. Nng đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn không giải thích được
sao ông K, Ú đã cao tuổi, lại không ràng buộc bà T vào hợp đồng chuyển
nhượng đbà T trách nhiệm cùng cha mẹ Ú, ông K làm thủ tục chuyển
quyền sử dụng đất, chđể T nhận số tiền 200.000.000 đồng. Đồng thời
không tài liệu nào thể hiện phía người nhận chuyển nhượng ông S, C đôn
đốc bà Ú, ông K để yêu cầu làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất.
[3.2] Từ những căn cứ trên, sở xác định Hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất giữa ông K, Ú với ông S, T giả tạo, nhằm che đậy hợp
đồng vay giữa Bùi Thị Cẩm T vchồng ông Quách Văn S, Nguyễn Thị
Mỹ C. Do đó cấp sơ thẩm áp dụng khoảng 1 Điều 124 Bộ luật dân sự để tuyên hợp
đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa bà Ú, ông K với bà C, ông S là vô hiệu, còn hợp
đồng vay giữa nguyên đơn với T vẫn hiệu lực buộc bà T trả số tiền
250.000.000 đồng cho nguyên đơn là có căn cứ.
[4] Từ những căn cứ phân tích trên, cấp phúc thẩm không chấp nhận
kháng cáo của ông Quách Văn S và Nguyễn Thị Mỹ C gi nguyên bản án dân
sự sơ thẩm.
[5] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với
nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
[6] Án phí dân sự phúc thẩm: C và ông S mỗi người phải chịu 300.000
đồng.
[7] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
7
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội quy
định về án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Quách Văn S và bà Nguyễn Thị Mỹ C.
Gi nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 114/2025/DS-ST ngày 08 tháng 9 năm
2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Cà Mau.
1. Tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 14/01/2019,
giữa nguyên đơn ông Quách Văn S, Nguyễn Thị Mỹ C ông Bùi Công K,
Nguyễn Thị Ú vô hiệu.
Buộc Bùi Thị Cẩm T trả lại cho nguyên đơn số tiền đã nhận
200.000.000 đồng; tiền vay 50.000.000 đồng. Tổng cộng 250.000.000 đồng
(Hai trăm năm mươi triệu đồng).
Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc
Nguyễn Thị Ú cùng Bùi Thị Cẩm T trả cho nguyên đơn tổng số tiền là
250.000.000 đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án đơn yêu cầu thi hành án, nếu người
phải thi hành án không thi hành xong khoản tiền trên, thì người phải thi hành án
còn phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân
sự, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
2. Về án phí dân sự:
- Án phí sơ thẩm:
Nguyên đơn không phải nộp. Ngày 16/12/2024, nguyên đơn có np tm ng
án phí s tiền 9.790.000 đng, theo Biên lai thu s 0009947, ti Chi cc thi hành
án dân s thành ph Cà Mau, được nhn li.
B đơn bà Bùi Th Cm T phi np án phí dân s sơ thẩm s tin 12.500.000
đồng (chưa nộp).
- Án phí phúc thẩm:
Nguyễn Thị Mỹ C ông Quách Văn S mỗi người phải chịu 300.000
đồng. Ngày 26/9/2025 ông S đã dự nộp số tiền 300.000 đồng theo biên lai số
0000515; Ngày 09/10/2025 bà C đã dự nộp số tiền là 300.000 đồng theo biên lai số
0001317 của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau, được chuyển thu.
Các quyết định khác của bản ánthẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật
8
thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Cà Mau;
- Phòng THADS Khu vực 1 - Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Cao Khánh
9
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Nguyễn Thành Lập Tiêu Hồng Phượng
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Cao Khánh
10
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Cà Mau;
- Phòng THADS Khu vực 1 - Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Cao Khánh
Tải về
Bản án số 60/2026/DS-PT Bản án số 60/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 60/2026/DS-PT Bản án số 60/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất