Bản án số 59/2023/HS-ST ngày 27/02/2023 của TAND TP. Hồ Chí Minh

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 59/2023/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 59/2023/HS-ST ngày 27/02/2023 của TAND TP. Hồ Chí Minh
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 59/2023/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 27/02/2023
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Mua bán trái phép chất ma túy
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 59/2023/HSST
Ngày: 27-02-2023
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập-Tự do-Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Viết Hùng.
Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Hậu
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phan Ngọc Huệ
2. Ông Trần Văn Triều
3. Bà Bùi Ngọc Anh
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mộng Nhung Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Ông Hứa Văn Hùng- Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ
Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2023/HSST ngày
12/01/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 478/2023/XXST-HS
ngày 08/02/2023, đối với bị cáo:
Nguyễn Ngọc H; Giới tính: Nữ; sinh năm 1976, tại: Vĩnh Long; quốc tịch:
Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 00/12; Ngh
nghiệp: không; nơi trú: đăng HKTT: Ấp T, J, huyện Long Hồ, tỉnh
Vĩnh Long; chỗ ở: Số W, Khu phố R, phường I, Quận 7, Thành phố Hồ Chí
Minh;cha: Nguyễn Văn T (đã chết); mẹ: Nguyễn Thị M ; có chồng: Lê Văn Ch,
sinh năm 1966 (đã ly hôn); con: Lê Hoàng H sinh năm 1994; tiền sự: không;
Tiền án: Ngày 08/4/2014, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét
xử 09 năm 06 tháng về tội Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số
229/2014/HSPT, thời hạn chấp hành án kể t ngày 01/4/2013; đến ngày
01/4/2019 chấp hành xong hình phạt tù.
Tạm giam: Từ ngày 18/01/2022 .
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa:
Ông Đoàn Anh Phương Vũ – Luật sư Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí
Minh bào chữa cho bị cáo, có mặt tại phiên tòa.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 18 giờ 30 phút, ngày 18/01/2022, tại trước địa chỉ số 100-102,
đường số 9A, KDC Trung Sơn, ấp 4B, xã Bình Hưng, huyện Bình Chánh, Thành
phố Hồ Chí Minh; Tổ công tác Công an huyện Bình Chánh bắt quả tang Nguyễn
Ngọc H hành vi cất giấu ma túy để bán cho người khác. Thu giữ vật chứng
gồm một xe gắn máy biển số 52U6-6535 do điều khiển, 02 điện thoại di
động, 01 túi ny lon màu trắng bên ngoài in chữ Hello Kitty, bên trong chứa 01
gói ny lon được hàn kín chứa ma túy thrắn, khối lượng 349,05 gam, loại
Methamphetamine.
Lúc 22 giờ 30 phút, ngày 18/01/2022, quan Cảnh sát điều tra Công an
huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ
của tại địa chỉ số 276/8A Văn Lương, Khu phố 1, phường Tân Hưng,
Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh; thu giữ trong phòng ngủ trên gác gồm: 02 gói
ny lon được hàn kín bên trong chứa ma túy thrắn, tổng khối lượng 14,5071
gam, loại Methamphetamine; 02 cây kéo bằng kim loại; 01 cân điện tử màu đen
và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá.
Toàn bộ số ma túy thu giữ của Nguyễn Ngọc H đã được trưng cầu giám
định, kết quả thể hiện tại Bản kết luận giám định số 784/KLGĐ-H ngày
26/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an Thành phố Hồ Chí Minh (bút
lục số 34).
Quá trình điều tra, Nguyễn Ngọc H khai nhận như sau:
Khoảng tháng 11/2021, khi đang uống phê tại khu vực cầu Him Lam
thuộc huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tH quen với một người
phụ nữ tên Nguyệt (không lai lịch). Ng nói cho H biết Ng đang sẵn ma
túy đá để bán nên đã chủ động xin số điện thoại của Nguyệt để khi cần mua
ma túy thì sẽ gọi điện thoại cho Nguyệt. Do bản thân đã 01 tiền án v
tội “Mua bán trái phép chất ma túy” biết khu vực giáp ranh Bình Hưng,
huyện Bình Chánh với bến xe Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh nhiều người
nghiện ma túy ttập nên H đã nảy sinh ý định mua ma túy của N để về bán lại
kiếm lời. Từ khoảng tháng 12/2021 cho đến khi bị bắt ngày 18/01/2022, đã
mua ma y đá của Ng được khoảng 6 lần đều giao dịch tại trước khu vực
hẻm 276 Văn Lương, phường Tân Hưng, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
Những lần đầu Hà mua ma túy của N thì Hà đều bán cho khách tại khu vực chân
cầu Him Lam thuộc huyện Bình Chánh khu vực bến xe Quận 8 Thành phố
Hồ Chí Minh nhưng H không nhớ thời gian, khối lượng, cũng như tên khách
từng lần mua và bán ma túy. H chỉ nhớ 04 lần đầu mua mỗi lần khoảng 50 gam
ma túy đá với giá 13.000.000 đồng, bán lại với giá 14.000.000 đồng và lần thứ 5
H mua khoảng 300 gam ma túy đá với g54.000.000 đồng, bán lại với giá
54.000.000 đồng.
3
Lần thứ 6, H mua ma túy đá của Nguyệt để bán cho người phụ nữ tên Gái
(không lai lịch) do H quen biết từ khoảng tháng 11/2021 tại quán phê khu
vực cầu Him Lam thuộc địa bàn xã Bình Hưng, huyện Bình Chánh. Vào khoảng
15 giờ 50 phút ngày 18/01/2022, Gái gọi điện thoại cho Hà để đặt mua 300 gam
ma y đá, báo giá 54.000.000 đồng hẹn giao dịch tại khu vực Bến xe
Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh thì Gái đồng ý. Sau đó, gặp Nguyệt giao
54.000.000 đồng nhận 300 gam ma túy tại trước hẻm 276 Văn Lương,
phường Tân Hưng, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. Nhận ma túy xong,
mang về lại chỗ và nảy sinh ý định lấy gói ma túy kém chất lượng mà Hà mua
trước đây của người đàn ông tên B (không rõ lai lịch) tại khu vực Quận 7, Thành
phố Hồ Chí Minh trộn lẫn với gói ma túy đá mới mua của Nguyệt để bán kiếm
lời. Trộn ma túy xong, H lấy một ít ma túy đá cho vào bộ dụng cụ sử dụng ma
túy do H tự chế để sử dụng thử thì thấy chất lượng ma túy tốt. Do cân điện tử bị
hỏng nên H đã phân chia thủ công, lấy một phần ma túy đá cho vào trong 02 gói
nylon nhỏ cất giấu trong phòng ngủ trên gác để khi khách hỏi mua thì bán, số
ma túy đá còn lại H cất giấu vào trong túi nylon màu trắng để đi bán cho Gái.
Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, Hà điều khiển xe máy biển số 52U6-6535 đi giao
ma túy cho Gái, khi chạy xe đến trước địa chsố 100-102, đường số 9A, KDC
Trung Sơn thì bị lực lượng Công an huyện Bình Chánh kiểm tra, bắt quả tang và
thu giữ toàn bộ số ma túy như đã nêu trên.
Đối với người phụ nữ tên N t (người bán ma túy) Gái (người mua ma
túy) do H khai không nhân thân lai lịch nên quan điều tra không sở
xác minh làm rõ để xử lý.
*Vật chứng của vụ án: Đã được liệt kê tại Vật chứng và tiền theo Biên bản
tang tài vật số NK2022/594 ngày 20/9/2022 của Cục Thi hành án dân sự Thành
phố Hồ Chí Minh .
Tại bản Cáo trạng số 474/CT-VKSTPHCM-P1 ngày 29/9/2022 của Viện
kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, truy tố để xét xử đối với bị cáo:
Nguyễn Ngọc H, về tội Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b,
khoản 4, Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát thực hành
quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố; sau khi tóm tắt nội dung vụ án,
trình bày lời luận tội khẳng định bản Cáo trạng truy tố để xét xử đối với bị cáo
Nguyễn Ngọc H, về tội Mua bán trái phép chất ma túy” sở pháp luật;
ngoài ra, còn phân tích đánh gvề tính chất, mức độ tham gia phạm tội của bị
cáo, v các tình tiết định khung, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhân thân bị
cáo. Theo đó, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52;
khoản 1 điểm s khoản 1 Điều 51; Điu 40 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi,
bổ sung m 2017): xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc H chung thân, về tội Mua
bán trái phép chất ma túy”; phạt b sung 20 triệu đồng nộp ngân sách nhà nước.
4
- Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy vật chứng là ma túy còn lại sau
giám định và xử lý vật chứng là đồ vật, tài sản theo quy định của pháp luật.
- Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Ngọc H phát biểu quan điểm bào
chữa: Thống nht v tội danh và khung hình phạt truy tố bị cáo; luật chỉ đề
nghị xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo trình độ học vấn
không nên nhận thức pháp luật kém, không biết được tiếp tục mua bán trái
phép chất ma túy với khối lượng bao nhiêu thì sẽ phải chịu trách nhiệm nh sự
như thế nào; bị cáo hoàn cảnh cùng khó khăn: bản thân bị bệnh, cha chết,
còn mẹ thì đã già không ai chăm c. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng
mức hình phạt 20 năm tù cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo.
Bcáo Nguyễn Ngọc H thống nht với ý kiến của Luật bào chữa cho
mình nên không tranh luận bổ sung, trong lời nói sau cùng chỉ đề ngh xem xét
hưởng mức án khoan hồng để hội sớm chấp hành xong bản án làm lại
cuộc đời.
Đại diện Viện kiểm sát đối đáp: Gi nguyên quan điểm truy t v tội danh
hình phạt đã đề ngh x phạt đối với các bị cáo đã phân tích, đánh giá trong
phn lun tội; Không chấp nhận ý kiến của luật bào chữa cho bị cáo về
việc đề nghị áp dụng mức hình phạt 20 năm đối với bị cáo không phù hợp
với quy định của pháp luật và nhân thân của bị cáo
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án,n cứ vào các tài liệu trong h sơ vụ án đã đưc
tranh tng ti phiên tòa, Hi đồng xét xử nhn đnh n sau:
V hành vi, quyết định tố tụng của quan điều tra Công an Thành phHồ
Chí Minh, Điều tra viên, Viện kim t nhân n Tnh phHồ Chí Minh, Kiểm
t viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, tnh tự,
thtục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. c bị cáo không ý kiến hoặc
khiếu nại v hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến nh t
tụng. Do đó, c hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người
tiến nh tố tụng đã thc hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Ngọc H khai nhận về hành vi phạm tội do
các bị cáo gây ra đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm
nay là phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và vụ án còn được
chứng minh bằng các tài liệu, vật chứng thu giữ và chứng cứ khác có trong hồ sơ
vụ án như các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung, biên bản bắt người phạm
tội quả tang, bản kết luận giám định... Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
Do bản thân đã tiền án về tội Mua bán trái phép chất ma túy” và biết khu
vực giáp ranh Bình Hưng, huyện Bình Chánh với bến xe Quận 8, Thành phố
Hồ Chí Minh nhiều người nghiện ma túy tụ tập nên H đã nảy sinh ý định
mua ma túy của N để về bán lại kiếm lời. Ttháng 11/2011 đến tháng 01/2022,
đã mua 06 lần ma túy của đối tượng tên Nguyệt để bán cho các đối tượng
nghiện ma túy để lấy lời, số ma túy mua của Nguyệt từ lần thứ 1 đến lần thứ 5 bị
5
cáo đã bán hết.
Riêng lần thứ 6, mua ma túy của đối tượng tên N ( không lai lịch)
300 gam ma túy đá đã để bán cho đối tượng tên G (không lai lịch); Sau khi
nhận ma y của Nguyệt, đem về trộn với ma túy kém chất lượng đã mua
trước đó của đối tượng tên B (Không lai lịch) để giao cho Gái ( đối tượng
không rõ lai lịch) và số còn lại cất giấu trong phòng ngủ và để bán cho khách hỏi
mua. Đến 18 giờ ngày 18/01/2022, tại trước địa chỉ s100-102, đường số 9A,
KDC Trung Sơn, ấp 4B, Bình Hưng, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí
Minh quan cảnh sát điều tra công an Thành phố Hồ Chí Minh Tổ công tác
Công an huyện Bình Chánh bắt quả tang Nguyễn Ngọc H có hành vi cất giấu ma
túy với khối lượng ma túy theo kết quả giám định 349,05 gam, loại
Methamphetamine, đang đem giam bán cho Gái.
Vào 22 giờ 30 phút, ngày 18/01/2022, tại địa chỉ số 276/8A Văn
Lương, Khu phố 1, phường Tân Hưng, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh;
quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh
khám xét bắt qutang thu giữ trong phòng ngủ của Nguyễn Ngọc H khối
lượng ma túy 14,5071 gam, loại Methamphetamine; Nguyễn Ngọc H Khai
cất giấu để bán cho các đối tượng nghiện ma túy.
Với hành vi nêu trên, Nguyễn Ngọc H đã phạm tội “Mua bán trái phép
chất ma túy túy” theo quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi
bổ sung năm 2017.
đã mua ma túy của đối tượng tên N 06 lần, tuy nhiên 05 lần đầu đã
bán hết chỉ lời khai của Nguyễn Ngọc H, không chứng cứ khác chứng
minh, nên không có cơ sở buộc bị cáo chịu trách nhiệm.
Đối với lần thứ 6, khối lượng ma túy đã bắt quả tang, thu giữ với tổng
khối lượng là: 14,5071 gam, loại Methamphetamine + 349,05 gam, loại
Methamphetamine = 363,5571 gam, loại Methamphetamine nên buộc bị cáo
chịu trách nhiệm đối với khối ợng ma túy y. Với khối ợng ma túy như trên,
bị o phạm tội thuộc trường hợp mua bánMethamphetamine khối ng 100
gam trở lêntheo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bluật nh sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo đặc bit nguy hiểm cho hội, xâm phạm
đến chế độ độc quyền quản của Nhà nước đối với các chất ma túy, nguyên
nhân làm gia tăng các loại tội phạm về ma y và tệ nạn hội khác, gây mất
trật tự trị an tại địa phương nên cần xử nghiêm đrăn đe, giáo dục bị cáo
phòng ngừa chung.
Bị cáo từng bị kết án về tội rất nghiêm trọng, chưa được xóa án tích, nay
tiếp tục phạm tội nên lần phạm tội này thuộc trường hợp“tái phạm nguy hiểm
tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật
Hình sự
6
Đồng thời, khi xem xét hình phạt, Hội đồng xét xcũng xem xét tình tiết
giảm nhẹ: bị cáo ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo theo quy định tại điểm s
khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đgiảm cho bị cáo một phần hình phạt theo
quy định của pháp luật.
Ngoài ra, cần áp dụng hình phạt bsung là hình phạt tiền đối với bị cáo,
buộc bị cáo nộp số tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự để
nộp ngân sách nhà nước
Đối với người phụ nữ tên N , Bi (người bán ma túy); và Gái (người mua ma
túy) do H khai không nhân thân lai lịch nên không sở xác minh làm rõ
để xử lý.
+ Về xlý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm
2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình snăm
2015, xét:
Đối với vật chứng ma túy còn lại sau giám định, chất độc hại cấm
tuyệt đối sdụng; các đồ vật công cụ phạm tội, dụng cụ dùng để phân chia,
cất giấu và sử dụng ma túy; vật không gtrị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy
toàn bộ. Cụ thể như sau:
Tịch thu, tiêu hủy:
- 01 gói niêm phong bên ngoài ghi số 784(200)(1) chữ của giám
định viên Huỳnh Thanh Thảo (PC09) Điều tra viên Nguyễn Thanh Sang
(PC04), bên trong là mẫu vật còn lại sau giám định;
- 01 gói niêm phong bên ngoài ghi số 784(200)(2) chữ ký của giám
định viên Huỳnh Thanh Thảo (PC09) Điều tra viên Nguyễn Thanh Sang
(PC04), bên trong là mẫu vật còn lại sau giám định;
- 01 bịch nylon màu trắng, bên ngoài in chữ “Hello Kitty”, bên trong
không chứa gì là của Hà dùng để cất giấu trái phép chất ma túy;
- 02 cây kéo bằng kim loại công cụ dùng để cắt các bịch nylon
chứa ma túy bên trong;
- 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm: 01 bình nhựa tự chế; 01 nỏ thủy
tinh 01 ống hút nhựa) do tchế với mục đích dùng đthử chất lượng
ma túy.
Đối với vật chứng 01 xe gắn máy, nhãn hiệu Honda; số loại SH150;
dung tích xilanh 153, biển số 52U6-6535, số khung: ZDCRF08A06F102319, số
máy: KF08E0082295KTGE1 (không gương, rách yên xe, xe rỉ sét, máy móc
bên trong không kiểm tra), chưa xác định được chủ sở hữu thì đăng thông tin tìm
chủ sở hữu trong thời hạn 01 năm, hết thời hạn quy định không chủ sở hữu
hợp pháp đến nhận thì tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Đối với: 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu vàng, bên trong khe sim
chứa 01 sim cắt, một mặt in số “…36855”, đã qua sử dụng của dùng để
liên lạc với bạn bè trao đổi mua bán ma túy; 01 điện thoại di động hiệu
Nokia, màu đen, có Imei: 353117114320786, bên trong chứa 02 sim cắt trên sim
7
1 in số “…1409” trên sim 2 in số “…1455”, đã qua sử dụng của
dùng để liên lạc với bạn trao đổi mua bán ma túy nên tịch thu nộp ngân
sách nhà nước.
+ Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015, buộc bị
cáo phải chịu án phí hình sự thẩm theo quy định tại Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52
điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 39 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung
năm 2017.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc H tù chung thân vtội Mua bán trái
phép chất ma túy”. Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 18/01/2022
- Phạt bổ sung bị cáo số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) nộp
ngân sách nhà nước.
2. Về xử vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm
2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2015; Điều 228 B luật Dân sự năm 2015 ;
+ Tịch thu tiêu hủy:
- 01 gói niêm phong bên ngoài ghi số 784(200)(1) có chữ ký của giám định
viên Huỳnh Thanh Thảo (PC09) Điều tra viên Nguyễn Thanh Sang (PC04),
bên trong là mẫu vật còn lại sau giám định;
- 01 gói niêm phong bên ngoài ghi số 784(200)(2) có chữ ký của giám định
viên Huỳnh Thanh Thảo (PC09) Điều tra viên Nguyễn Thanh Sang (PC04),
bên trong là mẫu vật còn lại sau giám định;
- 01 bịch nylon màu trắng, bên ngoài in chữ “Hello Kitty”, bên trong không
chứa gì
- 02 cây kéo bằng kim loại
- 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm: 01 bình nhựa tự chế; 01 nỏ thủy tinh
và 01 ống hút nhựa), bên trong bộ dụng cụ không chứa gì.
- 01 cân điện tử, màu đen đã bị hỏng.
+ Giao cho quan thi hành án dân sự thẩm quyền đăng thông báo
công khai tìm chủ sở hữu đối với: 01 xe gắn máy, nhãn hiệu Honda; số loại
SH150; dung tích xilanh 153, biển số 52U6-6535, s khung:
ZDCRF08A06F102319, số máy: KF08E0082295KTGE1 (không gương, rách
yên xe, xe cũ rỉ sét, máy móc bên trong không kiểm tra) để trả lại trong thời hạn
01 năm, hết thời hạn này không tìm được chủ sở hữu hợp pháp thì tịch thu nộp
ngân sách nhà nước.
8
+ Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước đối với: 01 điện thoại di động hiệu
Iphone, màu vàng, bên trong khe sim chứa 01 sim cắt, một mặt in số “…36855”,
đã qua sdụng (model A1586, số imei…027959, không kiểm tra số serial do
không nguồn điện); 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, Imei:
353117114320786, bên trong chứa 02 sim cắt trên sim 1 in số “…1409”
trên sim 2 có in số “…1455”, đã qua sử dụng
(Vật chứng và tiền theo Biên bản tang tài vật số NK2022/594 ngày
20/9/2022 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh)
3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật ttụng Hình s2015 và Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản sdụng án phí lệ phí
Tòa án.
Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự thẩm 200.000 (hai trăm nghìn)
đồng. Nộp tại Cơ quan Thi hành ánn sự có thẩm quyền.
4. Về quyền kháng cáo:
Bo mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15
ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Phạm Viết Hùng
- TAND TC;
(1)
- TAND cấp cao tại TP.HCM
(1)
- VKSND TP.HCM;
(3)
- Cục THADS TP.HCM;
(1)
- Sở tư pháp TP.HCM;
(1)
- Bị cáo;
(2)
- Trại tạm giam;
(2)
- Người bào chữa;
(2)
- Đương sự;
(0)
- THAHS TP.HCM;
(2)
- Phòng PC53 - CA TP. HCM;
(1)
- UBND phường/xã nơi bị cáo cư trú;
(2)
- Lưu: VT, THS, hồ sơ; (35)
(4)
Tải về
Bản án số 59/2023/HS-ST Bản án số 59/2023/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất