Bản án số 58/2026/DS-PT ngày 26/01/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp về thừa kế tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 58/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 58/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 58/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 58/2026/DS-PT ngày 26/01/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp về thừa kế tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về thừa kế tài sản |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Lâm Đồng |
| Số hiệu: | 58/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 26/01/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Tranh chấp di sản thừa kế; yêu cầu huỷ hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất; yêu cầu huỷ GCNQSDĐ. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 58/2026/DS-PT
Ngày: 26 - 01 - 2026
V/v: Tranh chấp di sản thừa kế; yêu cầu
huỷ hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất;
yêu cầu huỷ GCNQSDĐ.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Thành Tâm
Bà Lê Thị Vân
Ông Đặng Ngọc Bình
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Trí - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Lâm Đồng.
- Đi din Vin Kim st nhân dân tnh Lâm Đồng: Bà Nguyễn Thị Thanh
Hương - Kim sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 26 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng; xét
xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 01/2025/TLPT-DS ngày
08/01/2025 về việc “Tranh chấp di sản thừa kế và yêu cầu huỷ hợp đồng tặng cho
quyền sử dụng đất; yêu cầu huỷ GCNQSDĐ”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 34/2024/DS-ST ngày 19/8/2024 của Tòa án
nhân dân thành phố Đà Lạt (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lâm Đồng) bị
kháng cáo, kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 381/2025/QĐ-PT ngày
10/11/2025; Quyết định hoãn phiên toà số 408/QĐ-PT ngày 26/11/2025 giữa các
đương sự:
1. Nguyên đơn:
- Ông Nguyễn Thành C, sinh năm 1966; địa chỉ: số A T, phường L - Đ, tỉnh
Lâm Đồng.
2
- Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1963; địa chỉ: số B Nguyên Tử L, phường L -
Đ, tỉnh Lâm Đồng.
2. Bị đơn:
- Cụ Nguyễn Thành C1, sinh năm 1931; địa chỉ: số C, đường Đ, phường L -
Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện theo ủy quyền: bà Trần Thị H, sinh năm 1979; địa chỉ: số A
B, phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng. Văn bản ủy quyền ngày 09/9/2024.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn Luật sư Trần Chí K -
Công ty L2; địa chỉ: số A P, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh - Đoàn Luật sư
Thành phố H.
- Bà Nguyễn Thị H1 (1957-2022).
Kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà H1: ông Nguyễn Thành C1, sinh năm 1931.
- Bà Nguyễn Thị H2 (1956-2001)
Kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà H2:
Ông Nguyễn Vinh T1, sinh năm 1954.
Ông Nguyễn Vinh Q, sinh năm 1986.
Bà Nguyễn Thị Thục Q1, sinh năm 1984.
Bà Nguyễn Thị Ngọc Q2, sinh năm 1984.
Cùng trú tại: số B Hồ X, khu phố A, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Q, bà Q1, bà Q2: ông Nguyễn Vinh
T1, sinh năm 1954. Văn bản ủy quyền ngày 06/6/2011.
- Ông Nguyễn Thành M, sinh năm 1964.
- Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1975.
Cùng trú tại: số C Đ, phường L - Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị B: ông Lê Quang B1, sinh
năm 1971; địa chỉ: số C Đ, phường L - Đ, tỉnh Lâm Đồng.
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
3.1 Ông Nguyễn Vinh T1, sinh năm 1954; địa chỉ: số B Hồ X, khu phố A,
xã Đ, tỉnh Lâm Đồng.
3.2 Bà Nguyễn Thị T2, sinh 1963.
3
3.3 Ông Nguyễn Thanh S, sinh 1982.
3.4 Bà Nguyễn Thị Thu T3, sinh năm 1984.
3.5 Bà Tôn Nữ Phương T4, sinh 1983.
Cùng địa chỉ: số C Đ, phường L - Đ, tỉnh Lâm Đồng.
3.6 Cháu Nguyễn Nhật D, sinh 2007.
3.7 Cháu Nguyễn Thị Thùy D1, sinh năm 2009.
Đại diện theo pháp luật cho cháu D và cháu D1: bà Tôn Nữ Phương T4 là
mẹ và ông Nguyễn Thanh S.
3.8 Ủy ban nhân dân thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng: Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường L - Đ,
tỉnh Lâm Đồng.
3.9 Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1986; địa chỉ: thửa số A - TBĐ B, Nguyễn
Công T5, phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng.
3.10 Bà Lê Thị Hồng N1, sinh năm 1989; địa chỉ: số I Thôn G, phường X - Đ,
tỉnh Lâm Đồng.
3.11 Ông Lê Văn Q3, sinh năm 1982; địa chỉ: TDP Đăng Gia Rít B, phường
L - Đ, tỉnh Lâm Đồng.
3.12 Bà Phan Thị Hồng N2, sinh năm 1976; địa chỉ: F T, phường L - Đ, tỉnh
Lâm Đồng.
3.13. Bà Nguyễn Thị Bích H3, sinh năm 1978; địa chỉ: số C C, phường L - Đ,
tỉnh Lâm Đồng.
3.14. Bà Trần Thị H4, sinh năm 1968; địa chỉ: số A P, phường X - Đ, tỉnh
Lâm Đồng.
3.15. Bà Phan Thị L, sinh năm 1986; địa chỉ: tổ E, thôn E, phường C - Đ, tỉnh
Lâm Đồng.
3.16 Ông Phan Đức M1, sinh năm 1981; địa chỉ: số A P, phường X - Đ, tỉnh
Lâm Đồng.
3.17 Bà Lương Kim Á, sinh năm 1980; địa chỉ: số B Lãnh Địa Đ, phường C -
Đ, tỉnh Lâm Đồng.
3.18 Bà Lê Thị Diễm T6, sinh năm 1978; địa chỉ: T, 12B.06 V, V, phường C,
Thành phố Hồ Chí Minh.
4
3.19 Bà Nguyễn Khiết A, sinh năm 1989; địa chỉ: số H Q, khu phố C, phường
K, tỉnh Tây Ninh.
3.20 Ông Võ Minh T7, sinh năm 1980 - bà Ngô Thị Khánh Đ, sinh năm 1977;
địa chỉ: tổ D, khu phố C, P, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo ủy quyền của bà Đ: ông Phạm Văn T8, sinh năm 1988; địa chỉ:
số F T, phường C - Đ, tỉnh Lâm Đồng.
3.21 Ông Nguyễn Minh M2, sinh năm 1979 và bà Dư Anh M3, sinh năm 1985;
cùng trú tại: số D N, phường V, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo ủy quyền của ông M2: ông Phạm Văn T8, sinh năm 1988; địa
chỉ: số F T, phường C - Đ, tỉnh Lâm Đồng.
4. Người kháng cáo: nguyên đơn ông Nguyễn Thành C.
5. Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kim sát nhân dân thành phố Đà Lạt,
tỉnh Lâm Đồng (nay là Viện trưởng Viện kim sát nhân dân khu vực 1 - Lâm Đồng).
Ông C, ông C1, bà H, ông K, ông M3 có mặt. Các đương sự khác vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn kiện nguyên đơn ông Nguyễn Thành C trình bày:
Cha ông tên Nguyễn Thành C1, sinh năm 1931; mẹ Nguyễn Thị K1 (1935-
2001). Cha mẹ ông có 7 người, gồm: Ông Nguyễn Thanh P, sinh năm 1952; chết
năm 1972 (ông P không có vợ con); bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1957; chết năm
2022 (người kế thừa quyền và nghĩa vụ cụ Nguyễn Thành C1); bà Nguyễn Thị T,
sinh năm 1963; ông Nguyễn Thành M, sinh năm 1964; ông Nguyễn Thành C, sinh
năm 1966; bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1975; bà Nguyễn Thị H2 (1956-2001). Bà
H2 có chồng là ông Nguyễn Vinh T1, sinh năm 1954 và 3 người con là ông
Nguyễn Vinh Q, sinh năm 1986; bà Nguyễn Thị Thục Q1, sinh năm 1984; bà
Nguyễn Thị Ngọc Q2, sinh năm 1984. Ngoài ra, cha mẹ ông không có con riêng,
con nuôi, con chung nào khác.
Trong quá trình chung sống cha mẹ ông tạo lập được khối tài sản gồm:
Đất tại thửa 600 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 628237, ngày
09/02/1998 do Ủy ban nhân dân thành phố Đ cấp cho cha mẹ ông, tại Phường H, thành
phố Đ và căn nhà theo giấy chứng nhận nhà cửa số 5110 NĐ/XD Q30 do Sở Xây dựng
tỉnh L cấp ngày 05/7/1989 trên thửa đất 600 (căn nhà đã bị cha ông tháo gỡ).
Và các thửa đất số 601; 602; 603; 604; 605; 605A; 606; 607; 608 có nguồn
gốc đất này là tài sản của cha mẹ ông là cụ C1, cụ K1 khai phá từ năm 1954, đã
5
được cấp đứng tên cha ông là cụ Nguyễn Thành C1 tại giấy chứng nhận số G
450083 ngày 26/12/1996. Vì đây là tài sản phát sinh trong thời kỳ hôn nhân nên
dù đứng tên mình cha ông vẫn là tài sản chung của cha mẹ, nên ông không yêu
cầu hủy giấy chứng nhận này. Việc cha ông mang tài sản này tặng cho riêng ông
M và ông B bà B1 là không đúng nên ông yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền
sử dụng đất giữa cụ C1 và ông M do Ủy ban nhân dân Phường H7 chứng thực
ngày 04/01/2008 và hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ C1 tặng cho
ông B1, bà B do Ủy ban nhân dân Phường H7 chứng thực ngày 04/01/2008 và
yêu cầu hủy hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cập nhật sang tên
cho ông M và vợ chồng bà B, ông B1.
Riêng căn nhà mà trước đây cha mẹ ông cùng xây dựng, cha ông đã phá gỡ,
hiện không còn nên ông yêu cầu cụ C2 phải làm lại đúng như căn nhà đã phá bỏ,
đây là di vật có phần của mẹ ông nên không tính được giá trị bằng tiền.
Ông yêu cầu được nhận tài sản thừa kế bằng hiện vật. Tuy nhiên tại phiên tòa
tháng 6/2023 thì ông B1 khai là đã chuyn nhượng toàn bộ đất này cho người khác.
Vì hiện nay người khác đã nhận chuyn nhượng nên ông không yêu cầu hủy các
hợp đồng chuyn nhượng này. Nguyện vọng của ông được chia đất tại thửa 600
còn những thửa đất mà vợ chồng ông B, bà B1 đã bán cho người khác thì ông yêu
cầu được nhận đất tại thửa 600 hoặc nhận bằng tiền theo chứng thư thẩm định giá.
Bà Nguyễn Thị T trình bày:
Tại đơn khởi kiện chia thừa kế ngày 05/5/2011, bà T cùng ký đơn xin chia
thừa kế di sản với cụ Nguyễn Thành C1 đ yêu cầu chia di sản mà mẹ bà là cụ
Nguyễn Thị K1 chết đ lại tại thửa đất 600, với diện tích 1.061m
2
do Ủy ban nhân
dân thành phố Đ cấp cho cha mẹ bà ngày 09/02/1998, theo giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số M 628237. Tại Phường H, thành phố Đ và căn nhà theo giấy chứng
nhận nhà cửa số 5110 NĐ/XD Q30 do Sở Xây dựng tỉnh L cấp ngày 05/7/1989
trên thửa đất 600. Sau đó, cụ C1 rút đơn khởi kiện, bà cũng không có ý kiến nào
khác và không đến Tòa án trình bày các yêu cầu của mình.
Bị đơn cụ Nguyễn Thành C1 trình bày:
Trước đây ông cùng các con là Nguyễn Thành M, Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị
H1, Nguyễn Thị B và các cháu ngoại của ông là Nguyễn Thị Ngọc Q2, Nguyễn Thị
Thục Q1, Nguyễn Vinh Q (con của bà Nguyễn Thị H2 đã chết) khởi kiện chia tài
sản chung và chia thừa kế đối với ông Nguyễn Thành C tại thửa đất 600 nhưng năm
2021 ông cùng các con cháu (trừ bà T) đã rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện.
6
Cụ và cụ K1 chung sống với nhau có 7 người con như ông C trình bày. Do
ông P chết lúc chưa có vợ con nên hàng thừa kế đúng như tờ khai quan hệ thừa kế
theo pháp luật do Ủy ban nhân dân Phường H7, thành phố Đ chứng thực năm
2011. Bà H1 chết chỉ mình cụ là người thừa kế duy nhất của bà H1.
Tài sản chung giữa cụ và cụ K1 tạo lập là thửa đất 600 với diện tích 1.061m
2
do Ủy ban nhân dân thành phố Đ cấp cho vợ chồng cụ, ngày 09/02/1998, theo
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 628237, tại Phường H, thành phố Đ và
căn nhà cùng thửa đất này. Căn nhà này trước đây được cấp sổ theo giấy chứng
nhận nhà cửa số 5110 NĐ/XD Q30 do Sở Xây dựng tỉnh Lâm Đồng cấp ngày
05/7/1989, nhà cấp 4 diện tích 72m
2
, xây bằng gạch tap lô, lợp tôn nên năm 1989
Sở Tài nguyên định giá còn 35% và đã được cấp sổ. Do nhà xuống cấp nên năm
2006 cụ phá bỏ và ông M là con trai cụ đã xây nhà cho cụ và gia đình ông M ở đ
thờ cúng tổ tiên và được cấp 300m
2
đất xây dựng trên thửa đất 600 nhưng do ông
C khiếu nại nên đã bị thu hồi giấy chứng nhận đất ở, riêng căn nhà vẫn được Ủy
ban nhân dân thành phố Đ cho phép tồn tại.
Năm 1954, vợ chồng cụ khai phá đất và sử dụng đất cho đến năm 1977, 1978
theo chủ trương nhà nước về chính sách đất đai thì gia đình cụ làm đơn giao toàn
bộ đất mà hiện nay ông C tranh chấp vào tập đoàn A2, Phường D cũ (nay là Phường
H), trừ thửa đất 600, lý do đất này gia đình đang sinh sống. Năm 1983 thành lập
Hợp tác xã Đ1, hợp tác xã phân đất cho lao động. Hợp tác xã chỉ phân đất cho người
trực tiếp sản xuất nên chỉ có cụ được Hợp tác xã phân chia 1.800m
2
, vợ chồng con
trai cụ là ông M, bà T2 2.200m
2
. Những người còn lại trong gia đình ông như: H1
đi bộ đội, H2 công tác Phường D; T y tá bệnh viện; C và B học sinh.
Năm 1994 nhà nước có kế hoạch cấp đất cho toàn dân, khi đi kê khai thì ông
M có nhờ cụ đứng tên, nên cụ kê khai đứng tên mình cụ không có tên vợ chồng
Minh T9, vì vậy nhà nước chỉ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ. Cụ
khẳng định đây là đất nhà nước cấp cho cụ, không phải cấp cho vợ chồng cụ, vì
vậy vợ cụ không có quyền lợi gì trong đất này.
Vì trong phần đất cấp cho cụ có phần của vợ chồng ông M nên cụ làm hợp
đồng tặng cho đ tách sổ cho ông M. Phần còn lại của cụ đã bán cho vợ chồng bà
B, ông B1 với giá 160.000.000 đồng vào năm 1998 và số tiền này cụ cho các con
mỗi người 10.000.000 đồng. Vì là cha con nên cụ làm thủ tục tặng cho vợ chồng
ông B1 và bà B đ tách sổ.
Cụ không đồng ý với yêu cầu của ông C đối với việc yêu cầu hủy hợp đồng
tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ và ông M và giữa cụ và vợ chồng ông B1 bà
7
B do Ủy ban nhân dân Phường H7 chứng thực ngày 04/01/2008 và yêu cầu hủy
02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cập nhật sang tên cho ông M và
vợ chồng bà B, ông B1 và yêu cầu chia thừa kế đối với các thửa đất này và yêu
cầu khôi phục lại căn nhà này.
Sau khi cụ làm thủ tục sang tên cho ông B1, bà B thì ông B1, bà B quản lý
đất và sau này chuyn nhượng lại cho ai thì đó là việc của các con. Cụ không có
ý kiến, không có yêu cầu, tranh chấp gì về việc chuyn nhượng quyền sử dụng đất
giữa hai con B1, B và những người khác.
Bị đơn ông Nguyễn Thành M trình bày:
Nguồn gốc đất đang tranh chấp tại các thửa 601, 602, 603, 604, 605, 605A,
606, 607, 608 của cha ông được cấp. Bản thân vợ chồng ông là người cùng với
cha sản xuất trên đất nên sau khi đất của gia đình giao vào tập đoàn A2 rồi chuyn
sang hợp tác xã cũng chỉ có vợ chồng ông và cha ông trực tiếp sản xuất. Khi hợp
tác xã giao đất lại cho xã viên, vì là cha con nên đ cho cha ông nhận thay. Khi
cha ông được đứng tên rồi thì cha ông tặng cho lại ông. Vì vậy ông không đồng ý
yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho và hủy sổ sang tên ông của ông C.
Đối với diện tích đất ở thửa 600, trước đây ông yêu cầu chia, nhưng đã rút
yêu cầu nay ông C yêu cầu chia thừa kế thì yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy
định của pháp luật. Hiện trên thửa đất 600 có căn nhà của ông xây. Ông yêu cầu
Tòa án chia thừa kế cho ông Châu thế N3 đ đảm bảo không ảnh hưởng đến căn
nhà của ông, ông không đồng ý yêu cầu di dời nhà ra khỏi đất của ông C.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Lê Quang B1 và bà Nguyễn Thị B trình bày: ông, bà mua lại diện tích
đất này từ cha bà là cụ C1 nên cụ C1 mới tặng cho đất này cho ông bà. Vì lúc cha
ông, bà bán thì không ai mua chỉ có vợ chồng ông bà mua với giá 160.000.000
đồng. Vì là đất do Ủy ban nhân dân thành phố Đ cấp cho cụ C1 nên cụ C1 mới
được quyền ký hợp đồng tặng cho. Vì vậy, vợ chồng ông không đồng ý yêu cầu
hủy hợp đồng tặng cho và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên vợ
chồng ông bà. Đối với yêu cầu chia thừa kế của ông C ở thửa 600 đề nghị Tòa
giải quyết theo quy định. Toàn bộ đất nhận chuyn nhượng của cụ C1, vợ chồng
ông đã chuyn nhượng cho người khác. Nhà đất tại thửa 600, bà B đã rút yêu cầu
chia thừa kế nên yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Vinh Q, bà Nguyễn Thị Thục Q1, bà
Nguyễn Thị Ngọc Q2 và ông Nguyễn Vinh T1 trình bày:
8
Ông T1 và 3 con ông là người thừa kế của vợ ông là bà Nguyễn Thị H2. Nay
ông C chia thừa kế ông yêu cầu giải quyết theo quy định.
Ủy ban nhân dân Phường H7, thành phố Đ do ông H5 trình bày:
Năm 2008 việc chứng thực hợp đồng thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân
dân phường. Ngày 04/01/2008 Ủy ban nhân dân Phường H7, thành phố Đ có
chứng thực vào hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ Nguyễn Thành C1
và ông Lê Quang B1 - bà Nguyễn Thị B, nội dung hợp đồng là cụ C1 tặng cho
ông B1 các thửa đất 601, 602, 603, 604, 605 tờ bản đồ 46D, Phường H, thành phố
Đ, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G450083, do Ủy ban nhân dân
thành phố Đ cấp ngày 12/3/1996 cho cụ Nguyễn Thành C1 và hợp đồng tặng cho
quyền sử dụng đất giữa cụ Nguyễn Thành C1 và Nguyễn Thành M, nội dung hợp
đồng là cụ C1 tặng cho ông M các thửa đất 605A, 606, 607, 608 tờ bản đồ 46 D,
Phường H, thành phố Đ, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 450083,
do Ủy ban nhân dân thành phố Đ cấp ngày 12/3/1996 cho cụ Nguyễn Thành C1.
Việc chứng thực được thực hiện theo đúng trình tự quy định của pháp luật. Khi
chứng thực giấy nhận quyền sử dụng đất đứng tên cụ Nguyễn Thành C1 nên việc
chứng thực vào hợp đồng tặng cho Ủy ban nhân dân Phường H7 đã kim tra tính
hợp pháp và chứng thực. Nay ông C cho rằng đó là tài sản của cha mẹ ông, không
riêng gì là của cụ C1 nên đề nghị Tòa giải quyết theo quy định của pháp luật.
Ông Nguyễn Thành M đại diện theo ủy quyền của bà T9, ông S, bà T3, bà
T4 trình bày: gia đình ông gồm bà T9 (vợ ông), ông S, bà T3, bà T4 cùng hai cháu
nội là con và cháu của ông, là những người chung sống trong gia đình ông. Ông
C yêu cầu di dời căn nhà mà cả gia đình ông đang ở, gia đình ông không đồng ý.
Bà Trần Thị H4 trình bày:
Do có nhu cầu mua đất, nên ngày 22/12/2020 bà có mua của bà Lê Hồng N1,
diện tích 90m
2
thửa đất 605, Phường H thành phố Đ. Bà không biết ông B1, bà B
là ai vì bà mua của bà N1. Đất này đứng tên chung với bà L, bà N2, ông M, bà
H3, ông Q, bà Á, ông N, bà N1. Những người đứng tên chung bà cũng không biết.
Bà nhận chuyn nhượng ngay tình, được công chứng, sang tên theo quy định của
pháp luật. Nay ông C tranh chấp chia thừa kế liên quan đến đất này, bà yêu cầu
Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bà.
Bà Nguyễn Kiết A1 trình bày:
Do có nhu cầu mua đất, nên ngày 03/12/2021 bà có mua của ông Trần Đức
V, diện tích 217m
2
thửa đất 601, Phường H, thành phố Đ. Bà không biết ông B1,
9
bà B là ai vì bà mua của ông V. Bà nhận chuyn nhượng ngay tình, được công
chứng, sang tên theo quy định của pháp luật. Nay ông C tranh chấp chia thừa kế
liên quan đến đất này, bà yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật
đ bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bà.
Ông Phan Đức M1 trình bày:
Do có nhu cầu mua đất, nên ngày 07/01/2021 ông có mua của bà Lê Hồng N1,
diện tích 90m
2
thửa đất 605, Phường H, thành phố Đ. Ông không biết ông B1, bà
B là ai vì bà mua của bà N1. Đất này đứng tên chung với bà L, bà N2, ông Q, bà
H3, bà Á, ông N, bà N1. Những người đứng tên chung ông cũng không biết. Ông
nhận chuyn nhượng ngay tình, được công chứng, sang tên theo quy định của pháp
luật. Nay ông C tranh chấp chia thừa kế liên quan đến đất này, ông yêu cầu Tòa án
giải quyết theo quy định của pháp luật, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của ông.
Ông Lê Văn Q3 trình bày:
Do có nhu cầu mua đất, nên ông có mua của bà Lê Hồng N1, diện tích 90,5m
2
thửa đất 605, Phường H, thành phố Đ. Bà không biết ông B1, bà B là ai vì bà mua
của bà N1. Đất này đứng tên chung với bà L, bà N2, ông M1, bà H3, bà Á, ông
N, bà N1. Những người đứng tên chung ông cũng không biết. Ông nhận chuyn
nhượng ngay tình, được công chứng, sang tên theo quy định của pháp luật. Nay
ông C tranh chấp chia thừa kế liên quan đến đất này, ông yêu cầu Tòa án giải
quyết theo quy định của pháp luật, bảo vệ quền lợi hợp pháp của ông.
Đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Minh M2 - bà Ngô Thị Khánh Đ,
ông Phạm Văn T8 trình bày:
Ngày 16/12/2021 vợ chồng ông M2 - bà M1; vợ chồng ông T7 - bà Đ có
nhận chuyn nhượng chung thửa đất 603 tờ bản đồ 46 D, Phường H, thành phố Đ
của bà Nguyễn Thị Thu H6, đã được sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Vợ chồng ông M2, vợ chồng bà Đ không biết ông B1, bà B là ai. Nay ông C tranh
chấp chia thừa kế liên quan đến đất này, vợ chồng ông M2 - bà M1; vợ chồng ông
T7 - bà Đ yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, bảo vệ quyền
lợi hợp pháp của vợ chồng ông M2 - bà M1; vợ chồng ông T7 - bà Đ.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác Tòa án đã triệu tập nhưng
không đến Tòa nên không có lời khai.
Toà án đã mở phiên họp công khai chứng cứ và hoà giải nhưng không thành.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 34/2024/DS-ST ngày 19-8-2024 của Tòa án nhân
dân thành phố Đà Lạt (nay là Toà án nhân dân khu vực 1 - Lâm Đồng) đã xử:
10
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện “Chia tài sản chung, chia di sản
thừa kế, yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho và hủy cập nhật sang tên giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất” của nguyên đơn ông Nguyễn Thành C và bà Nguyễn Thị T.
- Xác định 1/2 diện tích đất nông nghiệp và 1/2 diện tích đất nền nhà tại thửa
600, tờ bản đồ 46 D (530,5m
2
đất nông nghiệp và 36m
2
xây dựng) là tài sản của
cụ Nguyễn Thành C1 và 1/2 diện tích đất nông nghiệp và 1/2 diện tích đất nền
nhà tại thửa 600 (530,5m
2
đất nông nghiệp và 36m
2
xây dựng), tờ bản đồ 46 D,
Phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng là di sản của cụ Nguyễn Thị K1.
- Giao cho cụ Nguyễn Thành C1 được quyền sử dụng toàn bộ 1.061m
2
đất
nông nghiệp tại thửa 600, tờ bản đồ số 46 D theo giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số M 628237, ngày 09/02/1998 do Ủy ban nhân dân thành phố Đ cấp cho hộ
cụ Nguyễn Thành C1 tại Phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng và 72m
2
đất xây
dựng tại thửa 600, tờ bản đồ số 46 D tại Phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng
(diện tích đất này được cấp theo giấy chứng nhận quyền sỡ hữu nhà đất số 5110
NĐ/XD Q30 do Sở Xây dựng tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 05/7/1989 đã bị thu hồi).
- Buộc cụ Nguyễn Thành C1 có trách nhiệm thanh toán cho ông Nguyễn
Thành C 691.142.857 đồng.
- Buộc cụ Nguyễn Thành C1 có trách nhiệm thanh toán cho bà Nguyễn Thị
T số tiền 691.142.857 đồng.
- Cụ Nguyễn Thành C1 được sở hữu số tiền 691.142.857 đồng giá trị kỷ phần
của bà Nguyễn Thị H1.
Cụ Nguyễn Thành C1 tạm quản lý số tiền thuộc kỷ phần của ông Nguyễn
Thành M, bà Nguyễn Thị B và kỷ phần của những người thừa kế thế vị của bà
Nguyễn Thị H2 là ông Nguyễn Vinh T1, ông Nguyễn Vinh Q, bà Nguyễn Thị
Thục Q1, bà Nguyễn Thị Ngọc Q2. Tổng cộng: 691.142.857 đồng x 3 =
2.073.428.571 đồng.
Cụ Nguyễn Thành C1 được quyền đăng ký biến động sang tên theo quy định
của pháp luật.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thành C về việc yêu
cầu cụ Nguyễn Thành C1 khôi phục lại căn nhà theo giấy chứng nhận nhà cửa số
5110 NĐ/XD Q30 do Sở Xây dựng tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 05/7/1989.
3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thành C về việc hủy
hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ Nguyễn Thành C1 và ông Nguyễn
11
Thành M và giữa cụ Nguyễn Thành C1 và vợ chồng ông Lê Văn B2, bà Nguyễn
Thị B được Ủy ban nhân dân Phường H7, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng chứng
thực ngày 04/01/2008.
4. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thành C về việc
hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 041419 do Ủy ban nhân dân thành
phố Đ cấp cho ông Nguyễn Thành M vào ngày 05/3/2008 và giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, số AL 041418 do Ủy ban nhân dân thành phố Đ cấp cho ông
Lê Quang B1, bà Nguyễn Thị B vào ngày 05/3/2008.
5. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thành C về việc chia
thừa kế đối với các thửa đất số 601, 602, 603, 604, 605, 605A, 606, 607, 608, tờ
bản đồ 46 D theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 450083, do Ủy ban
nhân dân thành phố Đ cấp ngày 12/3/1996 cho cụ Nguyễn Thành C1.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo và
trách nhiệm thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 01/9/2024, nguyên đơn ông Nguyễn Thành C kháng cáo không đồng
ý toàn bộ nội dung của bản án sơ thẩm.
Ngày 23/9/2024, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T kháng cáo toàn bộ nội dung
của bản án sơ thẩm.
Ngày 04/9/2024, Viện trưởng Viện kim sát nhân dân thành phố Đà Lạt (nay
là khu vực 1 - Lâm Đồng) kháng nghị toàn bộ nội dung của bản án sơ thẩm. Đề
nghị Toà án cấp phúc thẩm huỷ toàn bộ nội dung của bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa,
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và đề nghị chấp nhận kháng
cáo. Bị đơn, người đại diện theo ủy quyền, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn và đề nghị giữ nguyên bản án
sơ thẩm.
Đại diện Viện kim sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa phát
biu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực
hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Căn cứ khoản 3 Điều 284 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Viện kim
sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng rút một phần kháng nghị số 11/QĐ-VKS-DS ngày
30/8/2024 của Viện kim sát nhân dân thành phố Đà Lạt (nay là khu vực 1 - Lâm
Đồng) về nội dung kháng nghị: chấp nhận yêu cầu khởi kiện chia thừa kế của ông
12
C đối với các thửa đất 605A, 606, 607, 608, tờ bản đồ 46D, Phường H, thành phố
Đ (nay là phường L - Đ), tỉnh Lâm Đồng và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận nội
dung khác còn lại tại kháng nghị của Viện trưởng Viện kim sát nhân dân thành
phố Đà Lạt (nay là khu vực 1 - Lâm Đồng); chấp nhận một phần kháng cáo của ông
Nguyễn Thành C. Căn cứ khoản 3 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự: hủy toàn
bộ bản án dân sự sơ thẩm nêu trên, chuyn hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân khu
vực 1 - Lâm Đồng giải quyết lại theo đúng quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Bà Nguyễn Thị T; kế thừa quyền và nghĩa vụ của bị đơn Nguyễn Thị
H2; những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông T1, bà T9, ông S, bà T3, bà
T4, cháu D, cháu D1, ông N, bà N1, ông Q, bà N2, bà H3, bà H4, bà L, ông M,
bà Á, bà T6, bà A1, ông T7, bà Đ, ông M2, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường L
- Đ, ông T8 đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần 02 nhưng vắng mặt. Căn cứ các
Điều 227 và 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành
xét xử vắng mặt theo thủ tục chung.
[1.2] Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Thành C, Quyết định
kháng nghị của Viện trưởng Viện kim sát nhân dân thành phố Đà Lạt (nay là
Viện trưởng Viện kim sát nhân dân khu vực 1 - Lâm Đồng) nộp trong thời hạn
luật định được thực hiện theo đúng quy định tại các Điều 271, 272, 273 và 280
của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đủ điều kiện đ Hội đồng xét xử theo thủ
tục phúc thẩm.
[1.3] Về quan hệ tranh chấp: Trong vụ án này, do nguyên đơn ông C khởi
kiện yêu cầu chia di sản thừa kế, yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng
đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Các quan hệ khác các
đương sự đã rút nên Tòa án cấp sơ thẩm đã thay đổi địa vị tố tụng của ông Nguyễn
Thành C từ bị đơn trở thành nguyên đơn nhưng vẫn thụ lý quan hệ tranh chấp chia
tài sản thuộc sở hữu chung là không đúng. Do đó, cần xác định lại quan hệ tranh
chấp theo yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thành C là tranh chấp chia di sản
thừa kế, yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 3, 5 Điều 26 của Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Tại phiên tòa, đại diện Viện kim sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng rút một
phần kháng nghị số 11/QĐ-VKS-DS ngày 30/8/2024 của Viện kim sát nhân dân
13
thành phố Đà Lạt (nay là khu vực 1 - Lâm Đồng) về nội dung kháng nghị: không
chấp nhận yêu cầu khởi kiện chia thừa kế của ông C đối với các thửa đất 605A,
606, 607, 608, tờ bản đồ 46D, Phường H, thành phố Đ (nay là phường L - Đ), tỉnh
Lâm Đồng. Do đó, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với nội dung
kháng nghị này.
[3] Xét kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Thành C; kháng nghị của
Viện trưởng Viện kim sát nhân dân thành phố Đà Lạt (nay là Viện trưởng Viện
kim sát nhân dân khu vực 1 - Lâm Đồng) thấy rằng:
[3.1] Về tố tụng:
[3.1.1] Ngày 11/7/2011, Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt đã ban hành
thông báo thụ lý vụ án số 79/TB-TLVA với nội dung “ông Nguyễn Thành C1 yêu
cầu chia di sản thừa kế theo quy định pháp luật” cùng ngày Toà án tiếp tục ban
hành thông báo thụ lý số 79/TB-TLVA với nội dung “ông Nguyễn Thành C1 yêu
cầu chia di sản thừa kế theo pháp luật”. Thông báo này ghi là thay thế thông báo
cùng số, cùng ngày. Tiếp đến cùng ngày 18/9/2014, Toà án nhân dân thành phố
Đà Lạt ban hành 02 thông báo thụ lý yêu cầu phản tố số 79/TBTL-VA về việc
“ông Nguyễn Thành C yêu cầu chia di sản thừa kế là thửa 601, 602, 603, 604,
605, 605A, 606, 607, 608 tờ bản đồ số 46D nhưng cũng số thông báo thụ lý số 79
ngày 18/9/2024 về việc “ông Nguyễn Thành C yêu cầu chia thừa kế thửa đất số
600, 601, 602, 603, 604, 605, 605A, 606, 607, 608 tờ bản đồ số 46D” dòng cuối
của thông báo thụ lý ghi thêm nội dung thông báo này thay thế thông báo thụ lý
cùng số, cùng ngày.”
Toà án không thực hiện việc thụ lý bổ sung đối với yêu cầu của đương sự mà
ban hành các thông báo thụ lý trong cùng một ngày, thay thế thông báo thụ lý trên
là không đúng, có vi phạm thủ tụng tố tụng. Sau đó các đồng nguyên đơn là cụ
C1, ông M, bà B, bà H1 đã rút yêu cầu khởi kiện, Tòa án cấp sơ thẩm đã đình chỉ
đối với yêu cầu khởi kiện của các đồng nguyên đơn và thay đổi địa vị tố tụng ông
Nguyễn Thành C trở thành nguyên đơn cùng bà T và giải quyết trong phạm vi yêu
cầu khởi kiện của ông C là phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
[3.1.2] Bà Nguyễn Thị T có yêu cầu khởi kiện chia di sản thừa kế đối với
thửa đất số 600 đứng về phía cụ Nguyễn Thành C1. Sau đó cụ C1 rút yêu cầu khởi
kiện, bà T không rút yêu cầu nên vẫn là nguyên đơn trong vụ án. Do đó, Toà án đã
ban hành thông báo nộp tiền tạm ứng án phí số 127/TB-TA ngày 06/10/2014 nhưng
bà T có đơn xin hoãn nộp tạm ứng án phí và tính đến ngày giải quyết sơ thẩm bà T
cũng không đóng tạm ứng án phí. Đồng thời, Viện kim sát nhân dân thành phố Đà
Lạt (nay là Viện kim sát nhân dân khu vực 1- Lâm Đồng) ban hành văn bản yêu
14
cầu Toà án hướng dẫn cho bà T làm đơn miễn án phí đ thụ lý yêu cầu của bà T
nhưng Toà án không thực hiện nên yêu cầu khởi kiện của bà T chưa được thụ lý.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập nhiều lần nhưng bà T vắng mặt
không có lý do nhưng phần quyết định của bản án vẫn chia cho bà T được hưởng
di sản thừa kế của cụ K1 là không đúng. Nội dung kháng nghị của Viện trưởng
Viện kim sát nhân dân thành phố Đà Lạt (nay là khu vực 1 - Lâm Đồng) là có căn
cứ. Trong trường hợp này được xem bà T không có yêu cầu khởi kiện.
[3.2] Về nội dung:
[3.2.1] Trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa các đương sự thừa
nhận: cụ Nguyễn Thành C1 và cụ Nguyễn Thị K1 (1935-2001) là vợ chồng. Quá
trình chung sống có được 7 người con, gồm: ông Nguyễn Thanh P (1952-1972);
bà Nguyễn Thị H1; bà Nguyễn Thị T; ông Nguyễn Thành M; ông Nguyễn Thành
C; bà Nguyễn Thị B; bà Nguyễn Thị H2. Ngoài ra cụ K1, cụ C1 không có con
riêng, con nuôi, con chung nào khác. Cụ K1 chết không đ lại di chúc. Do đó, xác
định hàng thừa kế của cụ Nguyễn Thị K1 gồm: cụ Nguyễn Thành C1 và 6 người
con, gồm: bà Nguyễn Thị H1, bà Nguyễn Thị T; ông Nguyễn Thành M; ông
Nguyễn Thành C; bà Nguyễn Thị B; bà Nguyễn Thị H2.
Bà Nguyễn Thị H1 chết năm 2022, có chồng đã ly hôn, không có con chung
nên xác định hàng thừa kế thứ nhất của bà H1 là cụ Nguyễn Thành C1.
Bà Nguyễn Thị H2 (1956-2001) nên xác định hàng thừa kế thứ nhất của bà
H2 là ông Nguyễn Vinh T1, ông Nguyễn Vinh Q; bà Nguyễn Thị Thục Q1; bà
Nguyễn Thị Ngọc Q2 và cụ Nguyễn Thành C1.
[3.2.2] Về tranh chấp di sản thừa kế:
Nhà đất tại thửa 600, tờ bản đồ 46 D, Phường H, thành phố Đ (nay là phường
L - Đ). Các đương sự thừa nhận nhà và đất tại thửa đất 600 diện tích 1.442,5m
2
(trong đó có một phần thửa 421, một phần thuộc đường đi) đây là di sản của cụ
K1 đ lại trong phần tài sản thuộc sở hữu chung với cụ C1 chưa chia và đồng ý
chia phần diện tích đất này theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Căn cứ Điều
92 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đây là những tình tiết sự kiện không
phải chứng minh.
Đối với các thửa đất số 601; 602; 603; 604; 605; 605A; 606; 607; 608 các
bên có tranh chấp. Nguyên đơn cho rằng đây là tài sản chung của cụ K1 và cụ C1
nên yêu cầu chia phần di sản của cụ K1 đ lại. Còn bị đơn cụ C1, ông M, bà B
trình bày đây là tài sản riêng của cụ C1 nên không đồng ý chia.
15
Hồ sơ vụ án th hiện: theo đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất thì các thửa
đất 605A, 606, 607, 608, 604, 603, 602, 601, 605 tờ bản đồ 13, Phường H, thành
phố Đ (nay là phường L - Đ) của cụ Nguyễn Thành C1 ngày 01/7/1994 ghi nội
dung “nguồn gốc đất khai phá năm 1954 lúc này cụ C1 và cụ K1 đang tồn tại quan
hệ vợ chồng). Toà án cấp sơ thẩm nhận định nguồn gốc các thửa đất trên đã được
đưa vào Hợp tác xã năm 1978, khi Hợp tác xã giải th thì cụ C1 được đăng ký kê
khai đứng tên cá nhân, đồng thời cụ C1 cung cấp cho Toà án đơn xin xác nhận ngày
05/9/2014 có xác nhận của ông Lê Đình L1 là chủ nhiệm Hợp tác xác Nông Nghiệp
Đa Thiện 1 xác nhận cụ C1 là lao động của Hợp tác xác Nông Nghiệp Đa Thiện 1
và có 02 con là Nguyễn Thành M, Nguyễn Thị T2 được chia diện tích đất: cụ C1
được chia diện tích 1.804m
2
; ông M được chia diện tích 2.164m
2
” nên xác định đây
là tài sản riêng của cụ C1 là không phù hợp với chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Quá trình giải quyết vụ án, các bên đương sự, k cả cụ C1 thừa nhận nguồn
gốc ban đầu, đất đưa vào Hợp tác xã và nhận lại đất từ Hợp tác xã, quan hệ hôn
nhân giữa cụ C1 và cụ K1 vẫn còn tồn tại. Khi thực hiện việc đăng ký kê khai bản
thân cụ C1 chỉ đăng ký đứng tên cụ C1 tại các thửa đất 605A, 606, 607, 608, 604,
603, 602, 601, 605 tờ bản đồ 13, Phường H, thành phố Đ (nay là phường L - Đ).
Sau đó cụ C1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tiếp tục tặng cho
ông M, ông B1, bà B và ông B1, bà B đã chuyn nhượng cho người khác.
Xét đây là tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân giữa cụ C1 và cụ K1, việc
cụ C1 tặng cho toàn bộ tài sản này là không đúng. Tuy nhiên, tại thời đim tặng
cho các con của cụ K1 trong đó có cả nguyên đơn cũng không có ý kiến gì. Do vậy,
đ ổn định các giao dịch và quyền lợi của những người được tặng cho, chuyn
nhượng và việc tặng cho này do một mình cụ C1 tự định đoạt, tại thời đim định
đoạt các bên đương sự đều biết nên cần giữ nguyên các giao dịch này và hiện nay
cụ C1 vẫn còn tài sản thuộc sở hữu của mình tại thửa 600 và chỉ xác định di sản
của cụ K1 trong khối tài sản chung với cụ C1 đối với các thửa đất này và buộc cụ
C1 thanh toán lại bằng tiền cho hàng thừa kế nhất của cụ K1 là phù hợp, có tính
đến công sức tôn tạo giữ gìn di sản cho cụ C1 1 phần trong di sản do cụ K1 đ lại.
[3.2.3] Theo kết quả định giá ngày 12/10/2021 của Công ty TNHH G đối với
toàn bộ diện tích đất tại các thửa 600, 601, 602, 603, 604, 605, 605A, 606, 607,
608 tờ bản đồ 13, Phường H, thành phố Đ (nay là phường L - Đ) có giá
40.870.720.000 đồng.
Trong đó xác định phần của cụ C1 là ½ có giá trị 20.435.360.000 đồng; của
cụ K1 ½ có giá trị 20.435.360.000 đồng. Trong giá trị di sản của cụ K1 đ lại cần
16
tính đến công sức đóng góp và giữ gìn di sản của cụ C1 được 1 phần vì trên thực
tế sau khi cụ K1 chết, cụ C1 đã tặng cho ông B1, bà B và ông B1, bà B đã chuyn
nhượng cho người khác các thửa đất từ 605A, 605, 606, 607; 608 đ cụ sinh sống
và chia cho các con trong gia đình trong đó có ông C là phù hợp. Như vậy, phần
của cụ K1 được xác định 08 phần, cụ C1 được nhận 3 phần (01 phần của cụ C1,
01 phần công sức tôn tạo và 01 phần của bà H1), ông M, bà T, bà B, bà H2 (đã
chết do chồng, các con và cụ C1 được nhận), ông C mỗi người được nhận 1 kỷ
phần của cụ K1.
Xác định 01 kỷ phần của cụ K1 đ lại là 20.435.360.000 đồng/8 =
2.554.420.000 đồng.
[3.2.4] Trong vụ án này, sau khi thay đổi địa vị tố tụng chỉ có ông C yêu cầu
chia di sản thừa kế, còn lại những người con khác ông M, bà B, bà H2 (đã chết do
chồng, các con và cụ C1), k cả bà T như phân tích tại mục [3.1.2] nên toàn bộ kỷ
phần này tạm giao cho cụ C1 quản lý, các bên có tranh chấp được quyền khởi kiện
bằng vụ án khác.
Còn kỷ phần cùa ông C được nhận cần buộc cụ C1 có nghĩa vụ thanh toán
cho ông C 1 kỷ phần của cụ K1 là 2.554.420.000 đồng và giao toàn bộ diện tích
đất tại thửa thửa 600 tờ bản đồ 46 D, Phường H, thành phố Đ (nay là phường L -
Đ) cho cụ C1 được quyền quản lý sử dụng. Sau khi thanh toán xong kỷ phần của
cụ K1 cho ông C, ông M, bà B, bà T, (chồng và các con bà H2) thì cụ C1 được
trọn quyền quản lý sử dụng nhà và đất tại thửa 600 tờ bản đồ 46 D, Phường H,
thành phố Đ (nay là phường L - Đ) và được quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền đ đăng ký cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa 600
tờ bản đồ 46 D, Phường H, thành phố Đ (nay là phường L - Đ).
[3.4] Từ những phân tích trên, Tòa án cấp sơ thẩm có những vi phạm về tố
tụng và nội dung về phần chia di sản của cụ K1 cho bà T, nhưng do bà T không
có yêu cầu như phân tích tại mục [3.1.2] và phần không chấp nhận đối với các
thửa đất thửa 601, 602, 603, 604, 605, 605A, 606, 607, 608 tờ bản đồ 13, Phường
H, thành phố Đ (nay là phường L - Đ) được xác định là di sản của cụ K1 đ lại
trong khối tài sản chung với cụ C1, lẽ ra cần hủy bản án đ giải quyết lại. Tuy
nhiên, do vụ án đã thụ lý từ năm 2011 và bản chất của vụ án này chỉ có nguyên
đơn ông Nguyễn Thành C là người khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ
K1 đ lại trong khối tài sản chung với cụ C1, các tài sản đã được xác định giá trị
và các bên đồng ý dùng giá trị này đ giải quyết vụ án. Do đó, cần chấp nhận một
phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kim sát nhân dân thành phố Đà Lạt (nay
17
là Viện trưởng Viện kim sát nhân dân khu vực 1 - Lâm Đồng); chấp nhận một
phần kháng cáo của ông C; sửa bản án theo hướng đã nhận định trên.
[4] Chi phí tố tụng:
Chi phí đo đạc, xem xét thẩm định giá 110.481.000 đồng (ông C tạm nộp và
được Toà án quyết toán xong). Do yêu cầu được chấp nhận đối với chia di sản
nên ông C phải chịu chi phí tố tụng 2/3 số tiền là 73.654.000 đồng. Cụ C1 phải
chịu 1/3 với số tiền là 36.827.000 đồng.
[5] Về án phí:
Tòa án cấp sơ thẩm chia cho ông C được hưởng di sản thừa kế là số tiền
691.142.857 đồng nhưng tuyên buộc ông C phải chịu án phí phần di sản được
nhận số tiền 105.429.107 đồng và chịu án phí trên yêu cầu khởi kiện không được
chấp nhận là không chính xác. Do vậy cần sửa lại phần án phí ông C phải chịu án
phí dân sự sơ thẩm trên số tiền 2.554.420.000 đồng là một kỷ phần của cụ K1 là
phù hợp.
Cụ C1 trên 60 tuổi và có đơn xin miễn án phí nên cần miễn toàn bộ án phí
dân sự sơ thẩm cho cụ C1.
Do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận ông C không phải chịu án phí dân sự
phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Đình chỉ 01 phần kháng nghị của của Viện trưởng Viện kim sát nhân dân
thành phố Đà Lạt (nay là Viện trưởng Viện kim sát nhân dân khu vực 1 - Lâm
Đồng) về nội dung: chấp nhận yêu cầu khởi kiện chia thừa kế của ông C đối với
các thửa đất 605A, 605, 606, 607, 608, tờ bản đồ 46D, Phường H, thành phố Đ
(nay là phường L - Đ), tỉnh Lâm Đồng.
Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kim sát nhân dân thành
phố Đà Lạt (nay là Viện trưởng Viện kim sát nhân dân khu vực 1 - Lâm Đồng).
Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Thành C.
18
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 34/2024/DS-ST ngày 19/8/2024 của Tòa án
nhân dân thành phố Đà Lạt (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lâm Đồng).
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thành C về việc chia di sản
thừa kế đối với cụ Nguyễn Thành C1, ông Nguyễn Thành M, bà Nguyễn Thị B.
1.1 Xác định hàng thừa kế thứ nhất của cụ K1 gồm: cụ Nguyễn Thành C1 và
6 người con, gồm: bà Nguyễn Thị H1, bà Nguyễn Thị T; ông Nguyễn Thành M;
ông Nguyễn Thành C; bà Nguyễn Thị B; bà Nguyễn Thị H2.
Bà Nguyễn Thị H1 chết năm 2022, có chồng đã ly hôn, không có con chung
nên xác định hàng thừa kế thứ nhất của bà H1 là cụ Nguyễn Thành C1.
Bà Nguyễn Thị H2 (1956-2001) nên xác định hàng thừa kế thứ nhất của bà
H2 là ông Nguyễn Vinh T1, ông Nguyễn Vinh Q; bà Nguyễn Thị Thục Q1; bà
Nguyễn Thị Ngọc Q2 và cụ Nguyễn Thành C1.
1.2 Xác định di sản của cụ K1 đ lại:
Xác định ½ nhà đất tại thửa 600 tờ bản đồ 46 D, Phường H, thành phố Đ
(nay là phường L - Đ) diện tích 1.442,5m
2
(trong đó có một phần thửa 421, một
phần thuộc đường đi) và ½ các thửa đất 605A, 606, 607, 608, 604, 603, 602, 601,
605 tờ bản đồ 13, Phường H, thành phố Đ (nay là phường L - Đ) là di sản của cụ
K1 đ lại chưa chia.
Tổng giá trị di sản của cụ K1 là 20.435.360.000 đồng.
Xác định 01 kỷ phần của cụ K1 có giá trị là 2.554.420.000 đồng.
1.3 Nghĩa vụ thanh toán:
Buộc cụ Nguyễn Thành C1 có nghĩa vụ thanh toán giá trị 01 kỷ phần cho
ông Nguyễn Thành C là 2.554.420.000 đồng.
Tạm giao các kỷ phần của ông M; bà B; bà H2, bà T có tổng giá trị là
10.217.680.000 đồng cho cụ Nguyễn Thành C1 quản lý.
Giao cho cụ C1 được quyền quản lý sử dụng diện tích đất nhà tại thửa 600
tờ bản đồ 46 D, Phường H, thành phố Đ (nay là phường L - Đ). Sau khi thanh toán
xong kỷ phần của cụ K1 cho ông C, ông M, bà B, bà T, (chồng và các con bà H2
trong đó có phần của cụ C1 được nhận từ bà H2) thì cụ C1 được trọn quyền quản
lý sử dụng nhà, đất tại thửa 600 tờ bản đồ 46 D, Phường H, thành phố Đ (nay là
phường L - Đ) và được quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đ
19
đăng ký cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa 600 tờ bản đồ 46 D,
Phường H, thành phố Đ (nay là phường L - Đ).
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thành C về việc yêu
cầu cụ Nguyễn Thành C1 khôi phục lại căn nhà theo giấy chứng nhận nhà cửa số
5110 NĐ/XD Q30 do Sở Xây dựng tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 05/7/1989.
3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thành C về việc hủy
hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ Nguyễn Thành C1 và ông Nguyễn
Thành M và giữa cụ Nguyễn Thành C1 và vợ chồng ông Lê Văn B2, bà Nguyễn
Thị B được Ủy ban nhân dân Phường H7, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng chứng
thực ngày 04/01/2008.
4. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thành C về việc hủy
Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AL 041419 do Ủy ban nhân dân thành
phố Đ cấp cho ông Nguyễn Thành M vào ngày 05/3/2008 và giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, số AL 041418 do Ủy ban nhân dân thành phố Đ cấp cho ông
Lê Quang B1, bà Nguyễn Thị B vào ngày 05/3/2008.
5. Về chi phí tố tụng:
Buộc cụ Nguyễn Thành C1 trả lại cho ông Nguyễn Thành C số tiền
36.827.000 đồng.
6. Về án phí:
6.1 Án phí dân sự sơ thẩm
Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho cụ Nguyễn Thành C1.
Buộc ông Nguyễn Thành C phải chịu 45.193.370 đồng án phí được khấu trừ
vào số tiền 4.553.500 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số
AA/2013/0001758 ngày 16/9/2014 và số tiền 600.000 đồng ông C đã nộp tạm ứng
án phí theo biên lai thu số 0001478 và số 0001479, ngày 24/01/2022 của Chi cục
Thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng (nay là Phòng Thi hành án
dân sự khu vực 1 - Lâm Đồng). Ông Nguyễn Thành C còn phải nộp 40.039.870
đồng án phí dân sự còn thiếu.
Hoàn trả bà Nguyễn Thị T số tiền 833.333 đồng đã nộp tạm ứng án phí chung
đối với yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn Nguyễn Thành C1, Nguyễn Thị T,
Nguyễn Vinh Q, Nguyễn Thị Thục Q1, Nguyễn Thị Ngọc Q2, Nguyễn Thị H1,
Nguyễn Thị B và Nguyễn Thanh M4 trong vụ án dân sự thụ lý số 79/2011/DS-ST
ngày 11-7-2011 về việc “Yêu cầu chia tài sản chung và tranh chấp di sản thừa
20
kế” của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 -
Lâm Đồng) theo biên lai thu số AA/2010/03918, ngày 04/7/2011 của Chi cục Thi
hành án dân sự thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng (nay là Phòng Thi hành án dân
sự khu vực 1 - Lâm Đồng).
6.2 Án phí dân sự phúc thẩm
Ông Nguyễn Thành C không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả
cho ông Nguyễn Thành C số tiền 300.000 đồng đã tạm nộp theo biên lai thu số
0001707 ngày 16/01/2025 của Chi cục Thi hành dân sự thành phố Đ, tỉnh Lâm
Đồng (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Lâm Đồng).
7. Nghĩa vụ thi hành án:
K từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc k từ ngày có đơn yêu cầu thi
hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người
được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải
chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại
Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi
hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật k từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Lâm Đồng;
- Phòng GĐKT;TTr&THA;
- TAND Khu vực 1 - Lâm Đồng;
- Phòng THADS khu vực 1 - Lâm Đồng;
- Người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ vụ án, án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký và đóng dấu)
Nguyễn Thành Tâm
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 21/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 16/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 16/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 13/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 07/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 06/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm