Bản án số 57/2018/HS-ST ngày 30/07/2018 của TAND huyện Ba Vì, TP. Hà Nội về tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 57/2018/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 57/2018/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 57/2018/HS-ST ngày 30/07/2018 của TAND huyện Ba Vì, TP. Hà Nội về tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi |
|---|---|
| Tội danh: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Ba Vì (TAND TP. Hà Nội) |
| Số hiệu: | 57/2018/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 30/07/2018 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BV - TP. HÀ NỘI
–––––––––––––––
Bản án số: 57 /2018/HS-ST
Ngày 30/7 /2018
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
–––––––––––––––––––––––––––––––
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BV - TP. HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Minh Tuấn - Chủ tịch Hội nông dân xã CS - huyện
BV - TP. Hà Nội.
Bà Chu Lan Hƣơng - Phó Hiệu trưởng trường Tiểu học xã VL - huyện
BV - TP. Hà Nội
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyên
BV - tp. Hà Nội
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện BV tham gia phiên tòa: Ông
Đặng Văn Út - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện BV -
thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm
vụ án hình sự sơ thẩm
thụ lý số: 57/2018/TLST-
HS ngày 02 tháng 07 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
62/2018/QĐXXST- HS ngày 19 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo:
1. Bị cáo:
NGUYỄN VĂN S - Sinh năm 1951; Nơi sinh: xã KT- huyện BV - TP Hà
Nội; Nơi cư trú: Thôn SH - xã K T - huyện BV - TP Hà Nội; Nghề nghiệp: Làm
ruộng; Trình độ văn hóa: 6/10; Dân tộc: Mường; Con ông: Nguyễn Văn K, sinh
năm 1926 ( đã chết) và bà: Nguyễn Thị T2, sinh năm 1926 ( đã chết); Vợ: Đinh
Thị D - sinh năm 1954 và có 04 con, con lớn nhất sinh năm 1974 và con nhỏ
nhất sinh năm 1989; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn

2
chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
2. Người bị hại:
Cháu Nguyễn Ngọc M - sinh ngày 10/7/2005
Nơi cư trú: Thôn SH - xã KT - huyện BV - TP. Hà Nội.
- Người đại diện theo pháp luật cho người bị hại:
Bà Nguyễn Thị T - sinh năm 1978 (mẹ đẻ cháu M).
Nơi cư trú: Thôn SH - xã KT - huyện BV - TP. Hà Nội.
- Người bảo vệ quyền lợi cho người bị hại:
Ông Phan Hoành S - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp
lý Nhà nước thành phố Hà Nội.
(cháu M có đơn xin xét xử văng mặt, chị T và ông S có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 10/4/2018, Công an xã KT - huyện BV đã tiếp nhận đơn của chị
Nguyễn Thị T là mẹ đẻ của cháu Mai tố giác Nguyễn Văn S có hành vi dâm ô
đối với cháu Nguyễn Ngọc M ( là con gái chị T) tại nhà chị T tối ngày
09/4/2018.
Ngày 11/4/2018, Nguyễn Văn S đã ra cơ quan điều tra đầu thú về hành vi
phạm tội của bản thân ngày 09/4/2018. Quá trình điều tra đã xác định:
Khoàng 19 giờ ngày 09/4/2018, Nguyễn Văn S đến nhà chị T chơi. Lúc này
có chị T và 02 con của chị T là cháu Nguyễn Ngọc M và cháu T1 đang ở nhà.
Một lúc sau thì mẹ chồng của chị T là bà Đinh Thị B về. Sản ngồi chơi với mọi
người đến khoảng 21 giờ cùng ngày thì bà B đi ra sân nhà văn hóa để đánh bóng
chuyền, chị T và cháu T1 đi tập thể dục. Lúc này chỉ có Sản và cháu M ở nhà.
Sản nảy sinh ý định sờ ngực và sờ bộ phận sinh dục của cháu M để thỏa mãn
nhu cầu sinh lý của bản thân chứ không có nhu cầu quan hệ tình dục với cháu
M. S đã gọi cháu M đi lên gian buồng ( bên trái, phía trong từ sân nhìn vào) ngôi
nhà đang xây dựng của gia đình chị T để nhờ chút việc. Khi cháu M đến nơi thì
S dùng tay trái đẩy cháu M sát vào tường, dùng tay phải kéo quần cháu M xuống
tới hai đầu gối và sờ bộ phận sinh dục của cháu M, còn tay trái luồn vào trong áo
sờ, bóp ngực bên phải của cháu M. Lúc này, ông Nguyễn Ngọc H - sinh năm
1965 là hàng xóm sát vách nhà chị T đi ra ngoài rọi đèn pin nhìn thấy S và cháu
3
M đang trong khu nhà mới xây nên đã đi sang và gọi cháu M thì cháu M đi ra và
mếu máo, ông H bảo cháu M đứng đây rồi ông ra ngoài sân bóng chuyền gọi bà
Đinh Thị B về. Sau đó, tại sân nhà chị T có bà B, ông Hoa, chị T và cháu M, S
có nói “ tôi biết tội của tôi rồi, tôi xin lỗi”.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn S đã khai nhận toàn bộ hành vi của
mình.
Ngày 13/4/2018 Cơ quan điều tra ra quyết định trưng cầu số 76 để giám
định tổn thương bộ phận sinh dục, sức khỏe của cháu M nhưng cháu M và gia
đình đã từ chối giám định.
Về sân sự: Tại cơ quan điều tra, truy tố cháu Mai và gia đình không yêu
cầu Nguyễn Văn S phải bồi thường về dân sự.
* Bản cáo trạng số 58/CT-KSĐT ngày 28 tháng 6 năm 2018 của Viện kiểm
sát nhân dân huyện BV - TP. Hà Nội đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Sản về tội
“Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi” theo quy định tại khoản 1 Điều 146 Bộ luật
hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của
mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân
huyện BV, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà giữ quyền công tố phát biểu
luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp
dụng như nội dung bản Cáo trạng.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
*Áp dụng khoản 1 điều 146; Điểm i, s khoản 1 và khoản 2 điều 51; Điều
38; Bộ luật hình sự 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S từ 09 đến 12 tháng tù
giam.
Về dân sự : Áp dụng điều 592, điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015:
Buộc bị cáo Nguyễn Văn S phải bồi thường cho cháu Nguyễn Ngọc M số
tiền tù 7.000.000đ đến 10.000.000đ ( Mười triệu đồng).
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Trợ giúp viên pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại:
Nhất trí ý kiến như Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về điều luật,
áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt đối
với bị cáo. Về dân sự cũng nhất trí như ý kiến của Kiểm sát viên đề nghị Hội
đồng xét xử nên buộc bị cáo phải bồi thường về tổn thất tinh thần và danh dự
4
nhân phẩm cho cháu Nguyễn Ngọc M số tiền là 10.000.000đ. Vì đây là vụ án
mà dư luận xã hội rất quan tâm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
* Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện BV, điều
tra Viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B V, Kiểm sát viên trong quá trình điều
tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của
Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị
cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về quyết định, hành vi của Cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng
quy định của pháp luật.
* Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn S đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành
vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân
dân huyện BV đã nêu. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của
bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, người làm chứng cùng các
tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy Hội đồng xét xử đã có đủ
cơ sở để xác định: Khoảng 21 giờ ngày 09/4/2018 lợi dụng nhà chị Nguyễn Thị
T đi vắng, ở nhà chỉ có một mình cháu Nguyễn Ngọc M, S đã gọi cháu Mai lên
nhà gian buồng ngôi nhà đang xây dựng của gia đình chị T, S đã đẩy cháu Mai
sát vào tường, dùng tay phải kéo quần cháu Mai xuống tới hai đầu gối tay phải
sờ vào bộ phận sinh dục của cháu M, còn tay trái luồn vào trong áo sờ và bóp
lên ngực phải của cháu M nhằm thỏa mãn nhu cầu sinh lý của S. Cơ quan điều
tra đã ra quyết định trưng cầu giám định nhưng cháu M và chị T đã có đơn từ
chối giám định vì đã đi khám ở trạm y tế xã KT bộ phận sinh dục của cháu Mai
không bị tổn thương. Khi S thực hiện hành vi sờ, bóp lên bộ phận sinh dục của
cháu M, cháu M lúc này mới đủ 13 tuổi 8 tháng 29 ngày . Hành vi của bị cáo
Nguyễn Văn Sản trong vụ án này đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Dâm ô đối với
người dưới 16 tuổi” theo quy định tại khoản 1 điều 146 Bộ luật hình sự. Do vậy
Viện kiểm sát nhân dân huyện BV, thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Nguyễn
Văn S về tội danh và điều luật như trên là đúng qui định của pháp luật.

5
Xét tính chất của vụ án: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nó đã
trực tiếp xâm phạm đến quyền được bảo vệ về thân thể ,tình dục, nhân phẩm,
danh dự và sự phát triển bình thường về tâm sinh lý của trẻ em, và trật tự an toàn
xã hội, gây bức xúc trong dư luận quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng xấu đến
tình hình trật tự trị an địa phương, thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Do vậy
cần phải xử phạt nghiêm khắc trước pháp luật để giáo dục bị cáo và răn đe
phòng ngừa chung.
Xét tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu
thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều
thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi thực hiện hành vi Dâm ô đối với
cháu M, Nguyễn Văn S đã ra cơ quan điều tra đầu thú, bị cáo là người dân tộc
thiểu số nên Hội đồng xét xử sẽ áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s
khoản 1 và khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung
năm 2017.
Qua phân tích các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo Nguyễn Văn S là người tuổi đời đã cao, đã có
gia đình, vợ cùng các con, cháu đầy đủ và có quan hệ họ hàng với cháu Mai, là
bậc ông của cháu M lẽ ra bị cáo phải sống gương mẫu để các con, các cháu của
bị cáo học tập, tôn trọng bậc làm cha và làm ông trong gia đình nhưng chỉ vì
lòng ham muốn thấp hèn, muốn thỏa mãn nhu cầu sinh lý của bản thân mà bị
cáo đã có những hành vi tụt quần của cháu Mai xuống rồi dùng tay sờ vào bộ
phận sinh dục và ngực của cháu M nhằm thỏa mãn dục vọng của mình làm ảnh
hưởng xấu đến tinh thần và tâm sinh lý phát triển bình thường của cháu Nguyễn
Ngọc M, đây là hành vi xấu mà đạo lý trong gia đình không cho phép, đạo đức
xã hội đều bất bình, lên án và pháp luật nghiêm cấm. Do vậy cần phải cách ly bị
cáo ra khỏi đời sống xã hội theo điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 mới đủ sức
giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt.
Về dân sự: Tại phiên tòa chị Nguyễn Thị T là người đại diện theo pháp luật
cho cháu Nguyễn Ngọc M yêu cầu Nguyễn Văn S phải bồi thường về tổn thất
tinh thần, danh dự và nhân phẩm cho cháu Nguyễn Ngọc M theo qui định của
pháp luật.
6
Theo quy định tại điều 592 Bộ luật dân sự năm 2015: quy định về thiệt
hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm hại và nghị quyết số 03/2006/NQ-
HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng
dẫn áp dụng một số quy định của bộ luật dân sự về bồi thường thiệt hại, mức bồi
thường do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho
một người có danh dự nhân phẩm, uy tín xâm hại không quá mười lần mức
lương cơ sở do Nhà nước quy định. Xét yêu cầu của chị Nguyễn Thị T Hội
đồng xét xử xét thấy có căn cứ để chấp nhận một phần tổn thất tinh thần, danh
dự và nhân phẩm cho cháu M. Vì vậy cần buộc bị cáo Nguyễn Văn S phải bồi
thường tổn thất về tinh thần, danh sự và nhân phẩm cho cháu Nguyễn Ngọc M
số tiền là 10.000.000 đồng ( Mười triệu đồng) là phù hợp với qui định của pháp
luật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1/. Xử : Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “ Dâm ô đối với
người dưới 16 tuổi”.
2/. Áp dụng: Khoản 1 điều 146, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 điều 51,
điều 38 Bộ luật hình sự hình sự năm 2015.
Xử phạt : Nguyễn Văn S 18 ( mười tám ) tháng tù thời hạn tù của bị cáo
tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
3./Về dân sự: Áp dụng điều 592, điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015:
Buộc bị cáo Nguyễn Văn S phải bồi thường cho cháu Nguyễn Ngọc M số
tiền 10.000.000đ ( Mười triệu đồng).
Kể từ khi án có hiệu lực pháp luật cháu Nguyễn Ngọc M, chị Nguyễn Thị
T là đại diện theo pháp luật cho cháu M có đơn yêu cầu thi hành án. Chi cục Thi
hành án dân sự huyện Ba Vì ra quyết định thi hành án thì bị cáo
7
Nguyễn Văn S phải chịu lãi suất phát sinh trên số tiền chưa thi hành án theo mức
lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước qui định.
4/ Án phí : Áp dụng điều 135, điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm
2015 ; khoản 1điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.
Bị cáo Nguyễn Văn S phải nộp 200.000đ ( hai trăm nghìn đồng) án phí
hình sự sơ thẩm và 500.000đ ( Năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
5/. Về quyền kháng cáo: Áp dụng điều 331, điều 333 Bộ luật tố tụng
hình sự năm năm 2015.
Bị cáo, người đại diện theo pháp luật, người bảo vệ quyền lợi cho người
bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày nhận được tống đạt bản án hợp lệ.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi haàn án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều
6,điều 7 và điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực
hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự ”.
Nơi nhận T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TANDTP. Hà Nội. Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa
- VKSND huyện BV
- Công an huyện BV
- CCTHADS BV
-- Những người tham gia tố tụng.
- Lưu HS, VP
Nguyễn Thị Dung
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 10/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Bản án số 80/2026/KDTM-PT ngày 05/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 04/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 04/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 02/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 02/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm