Bản án số 56/2022/DS-ST ngày 29/11/2022 của TAND huyện Phong Điền, TP. Cần Thơ về tranh chấp hụi và hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 56/2022/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 56/2022/DS-ST ngày 29/11/2022 của TAND huyện Phong Điền, TP. Cần Thơ về tranh chấp hụi và hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Phong Điền (TAND TP. Cần Thơ)
Số hiệu: 56/2022/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/11/2022
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

- 1 -
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN P Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Bản án số: 56/2022/DS-ST
Ngày: 29/11/2022
V/v tranh chấp Hụi và
Hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Liêng Thị Hồng Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Tạ Quang Đức
2. Ông Võ Văn Tường
- Thư ký phiên tòa: Đinh Thanh Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân huyện
P, thành phố Cần Thơ
Trong các ngày 24, 29 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện
P, thành phố Cần Thơ, xét xử thẩm công khai vụ án thụ số 99/2022/TLST-
DS ngày 16 tháng 8 năm 2022 về việc Tranh chấp hụi và Hợp đồng vay tài sản”,
theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử thẩm số 169/2022/QĐXXST-DS ngày 13
tháng 10 năm 2022, giữa các đương sự :
Nguyên đơn: Bằng Như H, sinh năm 1984; nơi cư trú: ấp B, T, huyện
P, thành phố Cần Thơ – Có mặt.
Bị đơn: 1. ông Bằng Văn T1, sinh năm 1967 – Vắng mặt
2. bà Lê Thị Bé T2, sinh năm 1971 – Vắng mặt
Nơi cư trú: ấp B, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn Bằng Như H trình bày: ngày 20/5/2020 âl, cho vợ
chồng ông Bằng Văn T1 Thị T2 mượn số tiền 300.000.000 đồng
(mượn 02 lần: sáng mượn 100.000.000 đồng, chiều mượn 200.000.000 đồng), hai
bên thỏa thuận lãi theo quy định pháp luật, thời hạn vay 12 tháng, làm biên
nhận cho vay tiền. Ông T1, T2 đóng lãi được 07 tháng, mỗi tháng 12.000.000
đồng (lãi suất 4%/tháng) x 7 tháng = 84.000.000 đồng. Sau đó, bị đơn đã ngưng
đóng lãi, đã nhiều lần liên hệ yêu cầu trả nợ nhưng bị đơn không thực hiện.
Ngoài ra, vợ chồng ông T1 và T2 còn tham gia các dây hụi dolàm chủ hụi,
- 2 -
đều đã hốt hụi (có giấy giao hụi) nhưng sau đó ngưng đóng hụi chết nên còn thiếu
lại số tiền từng dây hụi như sau:
- Hụi 5.000.000 đồng/tháng mở ngày 10/9/2020 âl, mở 02 dây hụi gồm dây
A dây B, mỗi dây gồm 17 phần, vợ chồng ông T1 T2 tham gia mỗi dây
01 phần (dây A số thứ tự 10, dây B số thứ tự 11, tên trong giấy hụi
“Thiếm 9 T1”), mãn hụi tháng 01/2022 âl. Dây A bị đơn hốt hụi số tiền
61.000.000 đồng đồng, đóng hụi được 13 lần, còn thiếu lại 04 lần hụi chết
5.000.000 đồng x 04 lần = 20.000.000 đồng. Dây B bị đơn hốt hụi số tiền
71.920.000 đồng đồng, đóng hụi được 13 lần, còn thiếu lại 04 lần hụi chết
5.000.000 đồng x 04 lần = 20.000.000 đồng.
- Hụi 5.000.000 đồng/tháng mở ngày 20/4/2021 âl, mở 02 dây hụi gồm dây
A dây B, mỗi dây gồm 26 phần, vợ chồng ông T1 T2 tham gia mỗi dây
01 phần (dây A, dây B đều số thứ tự 10; tên trong giấy hụi Thiếm 9
T1”). Bị đơn hốt hụi dây A, dây B lần thứ nhất với tổng số tiền 195.000.000
đồng, nh đến mãn hụi còn 16 lần hụi chết phải đóng 5.000.000 đồng x 02
phần x 16 lần = 160.000.000 đồng.
Đối với phần hụi tháng 5.000.000 đồng mở ngày 20/4/2021 âl cho ông
T1, T2 chơi với mục đích cấn trừ qua số tiền 200.000.000 đồng ông T1,
T2 đã mượn, đbị đơn đóng hụi trả từ từ, nhưng ông T1, T2 không đóng
hụi nên không đòi phần hụi này, yêu cầu bị đơn trả số tiền vay. Nay
khởi kiện yêu cầu ông T1, T2 trả tiền nợ 02 dây hụi năm 2020 40.000.000
đồng + nợ vay 300.000.000 đồng = 340.000.000 đồng, yêu cầu tính lãi từ ngày
10/10/2021 cho đến ngày xét xử.
Tại bản tự khai biên bản bản hòa giải, đối thoại cùng ngày 11/4/2022, bị
đơn – ông Bằng Văn T1, bà Lê Thị Bé T2 thống nhất có mượn của bà H số tiền là
300.000.000 đồng, lãi suất 4%/tháng bằng số tiền 12.000.000 đồng, đã đóng
được cho H 07 tháng tiền lãi. Đến ngày 20/4/2021 âl thì cấn trừ qua 02 phần
hụi 5.000.000 đồng/tháng. Đồng thời, ông T1, bà T2 thừa nhận có tham gia nhiều
dây hụi do bà H làm chủ hụi, trong đó hụi mở ngày 10/9/2020 âl bị đơn còn nợ bà
H 10.000.000 đồng/tháng, còn 04 lần chưa đóng bằng số tiền 40.000.000 đồng.
Do dịch bệnh nên bị đơn đã ngưng đóng lãi và tiền hụi cho bà H từ tháng 9/2021.
Ông T1 T2 thống nhất còn nH số tiền 351.000.000 đồng đồng ý
trả.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- 3 -
[1] Theo đơn khởi kiện ngày 16/3/2022, đơn khởi kiện bổ sung ngày
13/10/2022 bà Bằng Như H yêu cầu vợ chồng ông Bằng Văn T1 bà Lê Thị Bé
T2 trả tiền hụi chưa đóng và nợ vay. Đây là tranh chấp về hụi và hợp đồng vay tài
sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn nơi trú tại ấp B, T,
huyện P, thành phố Cần Thơ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
nhân dân huyện P, thành phố Cần Thơ theo quy định tại các Điều 26, 35, 39 của
Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Bị đơn Bằng Văn T1 và Lê Thị Bé T2 đã được Tòa án đã tống đạt hợp lệ
Thông báo thụ vụ án các văn bản tố tụng nhưng ông không đến Tòa án
để tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Tòa án đưa vụ án
ra xét xử, triệu tập bị đơn tham dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt,
nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 227 của Bộ
luật Tố tụng dân sự.
[3] H yêu cầu ông T1, T2 trả số tiền vay 300.000.000 đồng theo biên
nhận ngày 20/5/2020 âl. Tại bản tự khai ngày 11/4/2022 của ông T1, T2, biên
bản hòa giải ngày 11/4/2022 của Trung tâm hòa giải, đối thoại tại Tòa án nhân
dân huyện P thì bị đơn thừa nhận vay 300.000.000 đồng nhưng tiền vốn còn
thiếu 101.000.000 đồng. Tại đơn khởi kiện ngày 16/3/2022, H yêu cầu bị
đơn trả số tiền vay lần lượt ngày 25/4/2021 50.000.000 đồng (lãi suất 2%),
ngày 25/4/2021 31.080.000 đồng (lãi suất 4%), ngày 20/9/2021 20.000.000
đồng, tổng cộng 101.080.000 đồng. Theo nguyên đơn xác định số tiền vay
ngày 20/5/2020 là 300.000.000 đồng, sau đó bị đơn tham gia 02 phần hụi
5.000.000 đồng, mở ngày 20/4/2021 âl, 26 phần, hốt hụi với số tiền
195.000.000 đồng cấn trừ vào số tiền vay 300.000.000 đồng, còn nợ lại
100.000.000 đồng. Dây hụi này bị đơn đã đóng được 06 lần, còn nợ lại 20 lần hụi
chết tương đương số tiền 200.000.000 đồng. Nay nguyên đơn yêu cầu không thực
hiện cấn trừ phần nợ này yêu cầu bị đơn trả số tiền vay theo biên nhận ngày
20/5/2020 âl. Tuy nhiên, việc các bên thỏa thuận cấn trừ nợ đã thực hiện xong từ
ngày 20/4/2021, quá trình nguyên đơn khởi kiện hòa giải các bên đều thống
nhất phần vốn này bị đơn trả xong, chỉ còn thiếu lại tiền hụi chưa đóng. Do đó,
nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả nợ theo biên nhận ngày 20/5/2020 không
sở. Bị đơn đồng ý số tiền hụi còn thiếu tính đến ngày 11/4/2022 40.000.000
đồng tiền hụi chết còn phải đóng 16 tháng 160.000.000 đồng, đây sự
thừa nhận của bị đơn nên Hội đồng xét xử ghi nhận nghĩa vụ của bị đơn phải trả.
[4] Đối với nợ vay 100.000.000 đồng còn lại của biên nhận ngày 20/5/2020
âl, nguyên đơn, b đơn đều thống nhất ngày 20/4/2021 bị đơn lần lượt 03 lần
- 4 -
mượn số tiền tổng cộng 101.000.000 đồng để trả số tiền vay này. Do đó, tiền
vốn vay bị đơn còn thiếu nguyên đơn đến nay 101.000.000 đồng thì phải
trách nhiệm trả theo quy định tại Điều 466 của Bộ luật dân sự.
[5] Về tiền lãi, hai bên thỏa thuận khoản vay 50.000.000 đồng lãi suất
2%/tháng, khoản vay 31.000.000 đồng lãi suất 4%/tháng, mỗi tháng bị đơn trả
tiền lãi 2.200.000 đồng, đã đóng lãi được 06 tháng, đến ngày 20/10/2021 thì
ngưng đóng lãi đến nay. Do lãi suất hai bên thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn
được quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự nên mức lãi suất vượt quá không
hiệu lực. Tiền lãi bị đơn đã đóng 6 tháng vượt mức 5.100.000 đồng được khấu
trừ vào tiền lãi phải trả. Tiền lãi từ ngày 20/10/2021 đến ngày 29/11/2022 bằng số
tiền (81.000.000 đồng x 20%/năm x 13 tháng) 5.100.000 đồng = 12.450.000
đồng.
[6] Ngoài ra, ông T1, T2 còn tham gia hụi do H làm chủ hụi gồm: 01
phần hụi 5.000.000 đồng/tháng, mở ngày 10/9/2020 âl, dây A gồm 17 phần, hốt
hụi với số tiền 61.000.000 đồng, đóng được 13 lần, còn thiếu lại 04 lần hụi chết
tương đương số tiền 20.000.000 đồng; 01 phần hụi 5.000.000 đồng/tháng, mở
ngày 10/9/2020 âl, dây B gồm 17 phần, hốt hụi với số tiền 71.920.000 đồng,
đóng được 13 lần, còn thiếu lại 04 lần hụi chết tương đương số tiền 20.000.000
đồng. Tổng cộng tiền hụi bị đơn còn thiếu nguyên đơn các dây hụi mở ngày
10/9/2020 âl 40.000.000 đồng, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả bị đơn đều
thừa nhận thống nhất với nguyên đơn.
[7] Tổng số tiền bị đơn phải trả cho nguyên đơn gồm nợ vay 101.000.000
đồng + tiền lãi 12.450.000 đồng + tiền hụi 240.000.000 đồng = 353.000.000
đồng. Bị đơn nộp án phí 5% tương ứng nghĩa vụ phải thực hiện.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 471 Bluật dân sự, khoản 3
Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227 Bộ
luật tố tụng dân sự; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính
phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Buộc ông Bằng Văn T1, Thị T2 trả cho Bằng Như H stiền
353.000.000 đồng (Ba trăm năm mươi ba triệu đồng).
- 5 -
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành xong, bên
phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo
mức lãi suất nquá hạn bằng 150% mức lãi suất trong hạn quy định tại khoản 2
Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Án phí dân sự sơ thẩm: bị đơn phải nộp 17.650.000 đồng. Nguyên đơn được
nhận lại 8.800.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0007450 ngày
16/8/2022 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện P.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể
từ ngày tuyên án, đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo
trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b 9
Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Nơi nhận
: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
-
Các đương sự;
- TAND Tp. Cần Thơ;
- VKSND H. P;
- THA H. P;
- Lưu (HS - 2b).
Liêng Thị Hồng Hoa
Tải về
Bản án số 56/2022/DS-ST Bản án số 56/2022/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất