Bản án số 55/2022/HS-ST ngày 24-06-2022 của TAND tỉnh Bắc Ninh về về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 55/2022/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 55/2022/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 55/2022/HS-ST ngày 24-06-2022 của TAND tỉnh Bắc Ninh về về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức |
|---|---|
| Tội danh: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Bắc Ninh |
| Số hiệu: | 55/2022/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 24/06/2022 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC NINH
Bản án số: 55/2022/HS-ST
Ngày: 24/6/2022.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Nam.
Thẩm phán: Ông Hoàng Tuấn Anh.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Diêm Trọng Khoa
2. Ông Đinh Văn Duân
3. Bà Nguyễn Thị Bẩy.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Hải.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Ông
Hoàng Văn Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2022, tại Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ
thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 14/2022/TLST-HS ngày 14 tháng 3
năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2022/QĐXXST-HS ngày 14
tháng 3 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Tuyết M, sinh năm 1982, HKTT: Khu 3, phường V, thành phố B,
tỉnh Bắc Ninh. Chỗ ở: Thôn Ngh, xã H, huyện Th, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp:
Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân
tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Văn Phú (đã chết) và bà Đỗ Thị
Hồng (đã chết); Chồng là Đào Anh Phương, sinh năm 1980 và có 04 con, con lớn
sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm ngày 13/2/2021; Tiền án, tiền sự: Không; Bị áp
dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, hiện tại ngoại; (Có mặt).
* Người bào chữa cho bị cáo M: Ông Nguyễn Mạnh Hùng – Luật sư thuộc
Văn phòng luật sư Hùng Long- Đoàn luật sư tỉnh Bắc Ninh.
Địa chỉ: Số 75, Nguyễn Huy Tưởng, phường Suối Hoa, thành phố Bắc Ninh,
tỉnh Bắc Ninh (Có mặt).
* Bị hại: 1. Chị Nguyễn Thị Kim Ng, sinh năm 1972; HKTT: Khu 4, phường
V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh ( Vắng mặt).
2
2. Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1978; HKTT: Số 240, đường Tr, thành phố
B, tỉnh Bắc Ninh ( Có mặt).
3. Chị Lương Thị Lan A, sinh năm 1991; HKTT: Khu 2, phường Th, thành
phố B, tỉnh Bắc Ninh ( Có mặt).
4. Anh Trần Văn H, sinh năm 1991; HKTT: Thôn H, xã M, huyện L, tỉnh
Bắc Ninh ( Vắng mặt).
5. Anh Nguyễn Đức H, sinh năm 1969; HKTT: Thôn V, xã Th, huyện Gi,
tỉnh Bắc Ninh ( Có mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Nguyễn Thị Hồng Nh, sinh năm 1990; HKTT: Nguyễn Trãi, phường
N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh ( Vắng mặt).
2. Chị Nguyễn Thị Nh, sinh năm 1986; HKTT: Khu Hud, phường V, thành
phố B, tỉnh Bắc Ninh ( Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Tuyết M làm nghề lao động tự do. Để có tiền chi tiêu và trả nợ cá
nhân, trong khoảng thời gian từ tháng 7/2018 đến tháng 8/2021 M đã thực hiện
hành vi gian dối đối với những người thân, quen, bằng thủ đoạn đưa ra thông tin
với các bị hại về việc bản thân có khả năng mua được nhiều lô đất có giá rẻ tại các
xã, phường tại tỉnh Bắc Ninh, tỉnh Bắc Giang rồi bán lại sẽ có lãi. Để các bị hại tin
tưởng, không đòi tiền M đã đặt làm giả 05 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và
02 phiếu thu giả cụ thể như sau:
1. Hành vi đối với chị Nguyễn Thị Kim Ng:
Đầu năm 2018, chị Nguyễn Thị Kim Ng quen biết với Nguyễn Tuyết M.
Khoảng giữa tháng 6/2018, M rủ chị Ng chung tiền mua đất rồi bán lấy tiền lãi chia
nhau. Ngày 04/7/2018, chị Ng bắt đầu đưa nhiều lần tiền cho M để mua đất, vị trí lô
đất, giá mỗi lô đất thì chỉ M là người đi mua nên việc M mua đất ở đâu, giá bao
nhiêu chị Ng không biết. Mỗi lần chị Ng góp tiền mua đất với M từ
100.000.000đồng đến 300.000.000đồng. Mỗi lần góp vốn mua, bán đất, thời gian từ
1 tuần đến 10 ngày, M đều báo cho chị Ng số tiền lãi mỗi người được hưởng từ
10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng. M đưa số tiền lãi cho chị Ng trước, còn tiền
gốc M nói với chị Ng là để đầu tư mua lô khác và chị Ng đồng ý. Thời gian đầu, từ
tháng 7/2018 đến tháng 10/2018, M cầm tiền của chị Ng mang đi mua đất rồi bán
đất thuận lợi nên trả tiền lãi từ việc bán đất cho chị Ng đầy đủ. Sau đó M vay tiền
3
nhiều người để mua đất và bị thua lỗ, không có tiền trả nợ. Để có tiền trả nợ cá nhân,
M nói dối chị Ng là có nhiều lô đất vị trí đẹp, muốn chị Ng đưa thêm tiền cho M đi
mua đất nhưng thực tế M muốn lấy tiền của chị Ng để mang đi trả nợ. Sau khi M
nhận được tiền của chị Ng thì M đã mang đi trả nợ cá nhân hết, không mua, bán đất
như đã nói với chị Ng. M khai cứ 10 ngày M lại nghĩ ra một khoản tiền lãi rồi báo
cho chị Ng đây là tiền lãi từ việc bán đất để chị Ng tin tưởng không đòi tiền gốc đã
góp với M. Quá trình chị Ng đưa tiền cho M thì hai bên không lập loại giấy tờ gì. Từ
ngày 10/01/2019 đến ngày 21/6/2019, M đưa cho chị Ng tổng số tiền là
1.320.000.000đồng, đây là tiền lãi từ việc bán đất mà M tự nghĩ ra đưa cho chị Ng.
Do quá trình giao nhận tiền giữa chị Ng và M không lập giấy tờ, để có căn cứ M đã
nhận tiền của chị Ng thì ngày 10/7/2019, chị Ng và M đã chốt lại số tiền M cầm
bằng “Giấy vay tiền” đề ngày 10/7/2019. Nội dung:“Hôm nay, ngày 10/7/2019, tôi
là Nguyễn Tuyết M có số CMT 125023674 cấp ngày 16/12/2014 ở tại Hoài Thượng
-Thuận Thành - Bắc Ninh có vay của chị Ng số tiền là 5.300.000.000 đồng. Hẹn chị
Ng ngày 10/8/2019 sẽ trả chị Ng số tiền là 1.500.000.000 đồng. Số còn lại M sẽ trả
dần chị Ng trong tháng 9, 10/2019. Nếu sai tôi xin chịu trách nhiệm trước pháp luật
và với chị Ng”. M khai viết giấy vay tiền mục đích để cam kết là M sẽ trả nợ cho chị
Ng chứ không phải M vay tiền chị Ng thật. Để có thêm thời gian M trả tiền chị Ng
ngày 22/10/2019, M viết tiếp “Giấy cam kết”, có nội dung: “Hôm nay, ngày
22/10/2019, tôi Nguyễn Tuyết M số CMND 125023674 cấp ngày 16/12/2014 ở tại
Nghĩa Vy-Thuận Thành-Bắc Ninh xin cam kết với chị Nguyễn Thị Kim Ng như sau.
Ngày 25/10/2019 sẽ phải thanh toán cho chị Ng số tiền 2.600.000.000 đồng, vì đang
làm thủ tục vay ngân hàng nên tôi hẹn chị đến đúng ngày trên sẽ thanh toán số tiền
trên cho chị Ng. Ngày 06/11/2019, tôi sẽ thanh toán tiếp cho chị Ng số tiền là
500.000.000 đồng” và ngày 07/12/2019, M viết “Giấy cam kết”, có nội dung:
“Hôm nay ngày 07/12/2019, tôi là Nguyễn Tuyết M số CMND 125023674 cấp ngày
16/12/2014 ở tại Nghĩa Vy - Hoài Thượng - Thuận Thành - Bắc Ninh cam kết như
sau: ngày 10/7/2019 tôi có nhận của chị Nguyễn Thị Kim Ng số tiền 5.300.000.000
đồng với mục đích đầu tư bất động sản. Tôi xin cam kết đến ngày 10/12/2019 sẽ trả
chị Ng số tiền 600.000.000đồng cùng với 01 sổ đỏ tại Võ Cường- TP Bắc Ninh có số
sổ là CQ 351598, thửa đất số 83, tờ bản đồ số 72 diện tích là 72m
2
. Số còn lại hẹn
chị Ng đến ngày 30/12/2019 sẽ trả chị Ng thêm 800.000.000 đồng”. Tôi xin cam kết
sẽ hoàn thành đúng những gì đã cam kết trên. Nếu sai tôi sẽ chịu trách nhiệm trước
pháp luật. Sau một thời gian giao tiền cho M, chị Ng đã đòi tiền M nhiều lần nhưng
M không có tiền trả, M tiếp tục nói dối chị Ng là M đã sử dụng số tiền của chị Ng
vào việc mua đất rồi, nhưng chưa bán được. Chị Ng yêu cầu M đưa giấy chứng nhận
4
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (gọi tắt là sổ
đỏ) của các thửa đất M đã mua cho chị Ng để chị Ng bán. Để có các sổ đỏ đưa cho
chị Ng, thì M nghĩ ra việc làm giả các sổ đỏ bằng cách: M lên mạng Internet vào hội
nhóm buôn bán bất động sản trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh tìm kiếm các thông tin như:
Số Seri Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất,kèm số lô, số thửa, địa chỉ thửa đất của những người đăng thông tin
bán đất. M lưu lại thông tin của 04 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thông tin
01 thửa đất của chính M và chồng là Đào Anh Phương, sinh năm 1980, thửa đất này
đang thế chấp tại Quỹ tín dụng nhân dân thị trấn Hồ, Thuận Thành. Sau đó, M tiếp
tục lên mạng Internet vào trang “Google.com” tìm kiếm người làm Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất giả. M liên hệ với một người đàn ông không quen biết tên
tuổi và địa chỉ nhận làm 05 sổ đỏ giả theo thông tin M cung cấp với giá
10.000.000đồng/01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài
sản khác gắn liền với đất (BL 676, 680). Cụ thể như sau:
- 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT 305301, số vào sổ cấp
GCN: CS 02966 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Ninh cấp ngày
22/01/2020 đối với thửa đất số 289, tờ bản đồ số 31, diện tích 95.7 m
2
, địa chỉ:
Phường Vân Dương, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh mang tên Nguyễn Tuyết
M, sinh năm 1982, CMND số 125023674; địa chỉ thường trú: Phường Vệ An,
thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
Xác minh tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Bắc Ninh xác định: Ngày
22/01/2020, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Ninh cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mang tên
anh Bùi Văn Huấn, sinh năm 1987 và chị Vũ Thị Thùy Dung, sinh năm 1987, địa
chỉ: Khu 1, phường Suối Hoa, thành phố Bắc Ninh; số phát hành GCN: CT305301;
số vào sổ CS02966 tại thửa đất số 289, tờ bản đồ số 31, diện tích 95.7 m
2
, địa chỉ
thửa đất: Phường Vân Dương, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
Ngày 25/5/2020, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Ninh cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
mang tên anh Hoàng Mạnh Duy, sinh năm 1990 và cùng sử dụng với anh Nguyễn
Văn Long sinh năm 1990; số phát hành GCN: CT621189 và CT621190; Số vào sổ
CS03067 và 03068 tại thửa đất số 289, tờ bản đồ số 31, diện tích 95.7 m
2
, địa chỉ
thửa đất: Phường Vân Dương, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh (nhận chuyển
nhượng của anh Bùi Văn Huấn, sinh năm 1987 và chị Vũ Thị Thùy Dung, sinh
năm 1987).
5
Anh Bùi Văn Huấn và chị Vũ Thị Thùy Dung trình bày: Ngày 22/01/2020,
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Ninh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất trên cho hai vợ chồng. Khoảng tháng 4/2020 hai vợ, chồng đã bán thửa đất này
cho anh Duy và anh Long. Vợ chồng anh Huấn, chị Dung không quen biết ai là
Nguyễn Tuyết M.
- 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT 122951, số vào sổ cấp
GCN: CS 00989 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Ninh cấp ngày
11/11/2019 đối với thửa 513, tờ bản đồ 4P, diện tích 111,6 m
2
, mang tên hộ ông
Đào Văn Huê, sinh năm 1969, CMND số 125114226 và bà Nguyễn Thị Ngọc, sinh
năm 1969, CMND số 125441032 địa chỉ thường trú: Thôn Nghĩa Vy, xã Hoài
Thượng, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh (BL510).
Xác minh tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Bắc Ninh xác định: Ngày
11/11/2019, Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Ninh cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mang tên
ông Đào Văn Huê và bà Nguyễn Thị Ngọc, địa chỉ: thôn Nghĩa Vy, xã Hoài
Thượng, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, số phát hành GCN: CT122951: số
vào sổ CS00989 tại thửa đất số 513, tờ bản đồ 4P, diện tích 111,6 m
2
địa chỉ thửa
đất: thôn Nghĩa Vy, xã Hoài Thượng, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
Ngày 22/11/2019, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Thuận Thành xác
nhận biến động đất đai trên trang 3 của Giấy chứng nhận: “Chuyển nhượng cho
ông Đào Anh Phương, sinh năm 1980 và bà Nguyễn Tuyết M, sinh năm 1982, địa
chỉ: Lê Phụng Hiểu, phường Vệ An, thành phố Bắc Ninh theo hồ sơ số
05133.TC001.2019 (BL535).
Xác minh tại Quỹ tín dụng nhân dân thị trấn Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh
Bắc Ninh xác định ngày 08/5/2020 anh Đào Anh Phương, sinh năm 1980 và
Nguyễn Tuyết M, sinh năm 1982, HKTT: phường Vệ An, thành phố Bắc Ninh,
tỉnh Bắc Ninh đăng ký hợp đồng vay KW:2020-1-02-00076 tại Phòng giao dịch
Hoài Thượng thuộc Quỹ tín dụng nhân dân thị trấn Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh
Bắc Ninh vay số tiền 200.000.000đồng, ngày trả nợ 08/11/2020, khi vay tiền hai
vợ chồng có thế chấp cho Quỹ tín dụng nhân dân thị trấn Hồ giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất của hai vợ chồng tại thửa 513, tờ bản đồ 4P, diện tích 111,6 m
2
nêu trên (BL541).
Đào Anh Phương (chồng M) và Nguyễn Tuyết M trình bày: Vợ chồng M
mua thửa đất nêu trên, nhưng M đã tự lấy thông tin để làm sổ đỏ giả đưa cho chị
Ng. Anh Phương xác định thông tin trong sổ là đúng và không biết việc M làm giả
(BL 724).
6
- 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN 848109 số vào sổ cấp
GCN: CS 00905, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Ninh cấp ngày
26/12/2018 đối với thửa đất số 86, tờ bản đồ số 30, diện tích 80m
2
, địa chỉ: Xã Đại
Đồng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh mang tên Nguyễn Tuyết M, sinh năm
1982,CMND số 125023674; địa chỉ thường trú: Phường Vệ An, thành phố Bắc
Ninh, tỉnh Bắc Ninh (BL504)
Xác minh tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Bắc Ninh xác định: Ngày
26/12/2018, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Ninh cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mang tên
Nguyễn Thị Thủy, sinh năm 1986, địa chỉ thường trú: Phường Ninh Xá, thành phố
Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh; số phát hành GCN: CN848109; số vào sổ CS00905 tại
thửa đất số 86, tờ bản đồ số 30, diện tích 80m
2
, địa chỉ: Xã Đại Đồng, huyện Tiên
Du, tỉnh Bắc Ninh (BL535).
Quá trình điều tra chị Nguyễn Thị Thủy trình bày: Chị Thủy có biết Nguyễn
Tuyết M làm nghề môi giới bất động sản. Khoảng tháng 11/2019, chị Thủy chụp
ảnh sổ đỏ gửi vào tin nhắn cho M và nhờ M bán hộ thửa đất nêu trên và hiện tại chị
Thủy đã bán lô đất cho người khác. Chị không biết việc M làm giả Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của
chị (BL 546).
- 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ351598, số vào sổ cấp
GCN: CS do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 14/6/2019 đối
với thửa đất số 83, tờ bản đồ số 72, diện tích 72 m
2
, địa chỉ: phường Võ Cường,
thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh mang tên Nguyễn Văn Thảo, sinh năm 1981,
CMND số 125027409 địa chỉ thường trú: xã Nhân Thắng, huyện Gia Bình, tỉnh
Bắc Ninh và Nguyễn Thanh Loan, sinh năm 1985, CMND số 125171558 địa chỉ
thường trú: Khu 6, phường Ninh Xá, thành phố Bắc Ninh.
Xác minh tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Bắc Ninh xác định: Ngày
14/6/2019, Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Ninh cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mang tên
Nguyễn Văn Thảo, sinh năm 1981, địa chỉ thường trú: xã Nhân Thắng, huyện Gia
Bình, tỉnh Bắc Ninh và Nguyễn Thanh Loan, sinh năm 1985 địa chỉ thường trú:
Khu 6, phường Ninh Xá, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh; số phát hành GCN:
CQ351598; số vào sổ CS08288 tại thửa đất số 83, tờ bản đồ số 72, diện tích 72m
2
,
địa chỉ: phường Võ Cường, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
Ngày 03/6/2020, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Bắc Ninh
xác nhận biến động đất đai trên trang 3 của Giấy chứng nhận: “Chuyển nhượng
7
cho anh Nguyễn Quyết Thắng , sinh năm 1975 và chị Nguyễn Thị Ái, sinh năm
1979, địa chỉ: phường Võ Cường, thành phố Bắc Ninh theo hồ sơ số 6350, ngày
02/6/2020”.
Quá trình điều tra anh Nguyễn Văn Thảo và chị Nguyễn Thanh Loan (vợ
anh Thảo) trình bày: Anh Thảo, chị Loan có biết Nguyễn Tuyết M làm nghề môi
giới bất động sản. Chị Loan có chụp ảnh 04 mặt của sổ đỏ gửi cho M nhờ bán hộ
và không biết việc M đã làm giả sổ đỏ này. Tháng 6/2020, anh Thảo và chị Loan
đã bán cho anh Nguyễn Quyết Thắng và chị Nguyễn Thị Ái.
- 01(một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN 835685, số vào sổ cấp
GCN: CS do Ủy ban nhân dân thành phố Bắc Ninh cấp ngày 26/8/2019 đối với
thửa đất số 417, tờ bản đồ số 90, diện tích 80,3 m
2
, địa chỉ: phường Võ Cường,
thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh mang tên Nguyễn Hữu Tuấn, sinh năm 1988,
địa chỉ thường trú: phường Võ Cường, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
Xác minh tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Bắc Ninh xác định: Ngày
21/12/2018, UBND thành phố Bắc Ninh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mang tên anh Nguyễn Văn
Chung sinh năm 1965, địa chỉ: phường Võ Cường, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc
Ninh, số phát hành GNC: CN835685 tại thửa đất số 417, tờ bản đồ số 90, diện tích
80,3 m
2
, địa chỉ: phường Võ Cường, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
Ngày 16/5/2019, Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố Bắc Ninh
xác nhận trên trang 3 Giấy chứng nhận: “Chuyển nhượng cho anh Nguyễn Đình
Hài sinh năm 1963 và chị Phạm Thị Tuyến sinh năm 1966, địa chỉ: Ngăm Lương,
Lãng Ngâm, Gia Bình, Bắc Ninh theo hồ sơ số 4603, ngày 13/5/2019”.
Ngày 14/6/2019, Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố Bắc Ninh
xác nhận biến động đất đai trên trang 3 Giấy chứng nhận:“Chuyển nhượng cho anh
Nguyễn Đức Hài sinh năm 1975 và chị Trương Thị Hồng Hạnh sinh năm 1978, địa
chỉ: phường Suối Hoa, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh theo hồ sơ số 4769
ngày 13/6/2019”.
Quá trình điều tra anh Nguyễn Văn Chung, anh Nguyễn Đình Hài, chị Phạm
Thị Tuyến, anh Nguyễn Đức Hải và chị Trương Thị Hồng Hạnh đều trình bày
không quen biết ai là Nguyễn Tuyết M. Quá trình bán đất chị Tuyến có chụp ảnh
sổ đỏ đăng lên trang bán đấu giá để nhờ văn phòng bất động sản tại thành phố Bắc
Ninh bán hộ đất nhưng nay chị Tuyến không nhớ là đã nhờ văn phòng nào.
Quá trình điều tra M thừa nhận đặt làm giả các Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Sau đó nhận được
8
các sổ đỏ giả nêu trên bằng hình thức chuyển phát nhanh trả tiền bằng hình thức
chuyển khoản và trả tiền vận chuyển.
Ngày 01/01/2020, M giao 01 sổ đỏ cho chị Ng và viết “Giấy xác nhận”, có
nội dung: “Ngày 01/01/2020, tôi Nguyễn Tuyết M có CMND125023674 cấp ngày
16/12/2014 có xác nhận đưa cho chị Nguyễn Thị Kim Ng khu 4-Niềm Xá sổ đỏ lô
đất số 83, tờ bản đồ số 72 phường Võ Cường - TP Bắc Ninh, DT 72m
2
mang tên
Nguyễn Tuyết M + Đào Anh Phương”.
Sau đó, M giao thêm 04 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giả (gồm các số CN848109, CN835685,
CT305301 và CT122951)cho chị Ng. Trước ngày 30/5/2020, M trả được cho chị Ng
390.000.000đồng. Ngày 30/5/2020, M và chị Ng cùng nhau thống nhất chốt lại số
tiền M cần phải trả cho chị Ng là 4.910.000.000 đồng và hẹn đến ngày 31/8/2020,
M sẽ trả hết tiền cho chị Ng, M không trả được.
Chị Ng trình bày: Trong số tiền 4.910.000.000đồng, chị Ng khẳng định có
352.000.000 đồng là tiền M báo là tiền lãi từ việc góp vốn mua chung các lô đất, còn
4.558.000.000 đồng là tiền gốc chị Ng đưa cho M. Các lần chị Ng đưa tiền cho M
đều chốt số tiền gốc nhưng nay chị Ng không nhớ được cụ thể các lần đưa tiền cho
M vào ngày, tháng, năm nào, mỗi lần đưa là bao nhiêu tiền. Tại thời điểm chị Ng
đưa tiền cho M để góp vốn thì không có giấy tờ gì, có những lô đất thì lấy luôn tiền
gốc cộng với tiền lãi mà M báo để đầu tư tiếp lô khác, chỉ sau khi không thấy M trả
tiền thì chị Ng mới yêu cầu viết giấy, ngoài ra trong ngày 04/6/2020 M viết một
“Giấy trả tiền” và “Giấy nhận cọc” M không thực hiện việc trả nợ, thực chất đây
chỉ là hình thức dãn nợ của M.
Bị cáo M trình bày: Trong số tiền 4.910.000.000 đồng, M khẳng định chỉ có
2.500.000.000 đồng là tiền gốc, còn lại 2.410.000.000 đồng là tiền lãi. Số tiền lãi là
do M tự nghĩ ra và báo miệng với chị Ng, thực tế không có số tiền lãi này.
Ngày 24/9/2020, Cơ quan CSĐT (PC02) Công an tỉnh Bắc Ninh ra Quyết
định trưng cầu giám định số 74/PC02, trung cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an
tỉnh Bắc Ninh giám định 05 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT305301,
CT122951, CN848109, CN835685, CQ351598 M giao cho chị Ng, chữ ký, chữ viết
của Nguyễn Tuyết M tại 01 Biên bản xác nhận nợ và cam kết trả nợ đề ngày
30/5/2020 gồm 02 mặt, có chữ ký ghi “Nguyễn Tuyết M” và “Nguyễn Thị Kim
Ng”; 01 Giấy vay tiền đề ngày 15/7/2020 gồm 01 trang, có chữ ký ghi “Nguyễn
Tuyết M” tại cuối trang và 01 Giấy nhận tiền đề ngày 25/7/2020 gồm 01 trang, có
chữ ký ghi “Nguyễn Tuyết M” và “Nguyễn Thị L” tại cuối trang.
9
Ngày 29/9/2020, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh ra Kết luận
giám định số 129/KLGĐTL-PC09 kết luận: 05 Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, tài liệu cần giám định (ký hiệu từ A1 đến A5) là giả; Chữ ký, chữ viết đứng tên
Nguyễn Tuyết M trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A6, A7, A8) so với chữ
ký của Nguyễn Tuyết M trên tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu từ M1 đến M4) do cùng
một người ký, viết ra.
Nguyễn Tuyết M đã có hành vi gian dối ngay từ đầu bằng việc M nói dối chị
Ng về việc bản thân có khả năng mua được nhiều lô đất có giá tốt, tại các địa bàn
trong tỉnh Bắc Ninh rồi bán lại sẽ có lãi ngay. M rủ chị Ng góp tiền vốn với M để
mua chung đất. Chị Ng tin tưởng lời M nói là thật, nên từ 04/7/2018 đến ngày
10/7/2019, chị Ng đã giao cho M tổng số tiền là 4.558.000.000 đồng. Sau khi M
nhận được tiền của chị Ng thì M chi tiêu cá nhân hết không mua đất như đã hứa. M
cũng thường xuyên nghĩ ra một khoản tiền lãi từ việc bán đất rồi đưa cho chị Ng, với
mục đích để chị Ng không đòi tiền gốc mà tiếp tục đưa tiền cho M. Cuối năm 2019,
khi bị chị Ng đòi tiền nhiều thì M đã vào mạng Internet đặt mua 05 Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất giả nhằm mục đích đưa cho chị Ng để che giấu hành vi lừa đảo
trước đó.
2. Hành vi đối với chị Nguyễn Thị L:
Năm 2018, chị Nguyễn Thị L quen với Nguyễn Tuyết M. Khoảng tháng
7/2020. Do M nợ tiền của nhiều người để có tiền trả nợ M đã liên lạc với chị L và
đưa ra thông tin không có thật với chị L là M đang mua đất ở xã Gia Đông, huyện
Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. M rủ chị L góp vốn mua đất chung, mua xong rồi bán
có lãi ngay và sẽ chia nhau tiền lãi. Chị L tin lời M nói là thật nên đã đến Ngân hàng
BIDV chi nhánh Bắc Ninh nộp tiền mặt trực tiếp vào tài khoản số 42310001058444
của Nguyễn Tuyết M 04 lần tiền cụ thể: Ngày 15/7/2020, chị L chuyển cho M số
tiền 100.000.000 đồng, với nội dung “Nguyen Thi Lua Chuyen Coc Mua Dat Chung
Gia Dong Thuan Thanh Bac Ninh”. Ngày 16/7/2020, chị L chuyển cho M số tiền
50.000.000 đồng, với nội dung “Nguyen Thi Lua Chuyen Coc Mua Dat Chung Gia
Dong Thuan Thanh Bac Ninh”. Ngày 17/7/2020, chị L chuyển cho M số tiền
30.000.000đồng, với nội dung “Nguyen Thi Lua Chuyen Coc Mua Chung Lo Dat So
656 To Ban Do 33 87.8M Van Duong TP Bac Ninh”và ngày 21/7/2020, chị L
chuyển cho M số tiền 55.000.000 đồng, với nội dung “Nguyen Thi Lua Chuyen Tien
Coc Chung Lo Dat Son Trung” (BL192, 193, 565, 566, 567). Tổng số 235.000.000
đồng chị L đã chuyển cho M. Sau khi có số tiền này M sử dụng vào việc chi tiêu cá
nhân hết, không sử dụng vào việc mua lô đất nào như đã nói với chị L. Để chị L tin
tưởng và không đòi tiền gốc đã góp vốn với M thì M đã nghĩ ra tổng số tiền lãi từ
10
việc bán các lô đất mà chị L được hưởng là 175.000.000 đồng. M không có tiền để
trả cho chị L nên M lại tiếp tục nói dối chị L là M đã mua thửa đất CL02-37, địa chỉ:
Tự Thôn, Nam Sơn, thành phố Bắc Ninh mang tên Trần Quốc Trịnh và Hoàng Thị
Thành giá 820.000.000đồng, hồ sơ đất M đang gửi tại Văn phòng công chứng M
Phương. M nói với chị L mỗi người góp ½ tiền lô đất này, nhưng thưc tế không có
việc mua bán. Như vậy mỗi người phải góp số tiền 410.000.000đồng (trong đó có
235.000.000đồng chị L chuyển khoản góp mua đất và 175.000.000 đồng là tiền M
báo lãi từ việc bán đất) góp vào mua thửa đất nêu trên với mục đích để chị L không
đòi tiền M. Chị L tin lời M là thật nên đồng ý, ngày 25/7/2020, M viết Giấy biên
nhận giao cho chị L. Đến nay M không có tiền để trả cho chị L.
Xác minh tại Văn phòng công chứng M Phương, địa chỉ tại số 265, đường Hàn
Thuyên, thị trấn Thứa, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh xác định: Nguyễn Tuyết M
không gửi hồ sơ thửa đất CL02-37, địa chỉ: Tự Thôn, Nam Sơn, thành phố Bắc Ninh
mang tên Trần Quốc Trịnh và Hoàng Thị Thành cho Văn phòng công chứng M
Phương.
Nguồn gốc thửa đất trên quá trình điều tra xác định là của ông Phạm Văn
Trung, sinh năm 1943 ở Tự Thôn, phường Nam Sơn, thành phố Bắc Ninh. Năm
2017 nhà nước có chính sách thu hồi đất ruộng và cấp đất dân cư dịch vụ cho những
hộ dân bị thu hồi đất sau đó ông Trung có ghép lô với anh Trần Quốc Trịnh, sinh
năm 1974 cùng vợ là chị Hoàng Thị Thành, sinh năm 1982, HKTT: Tự Thôn,
phường Nam Sơn, thành phố Bắc Ninh được 01 thửa đất CL02-37, địa chỉ: Tự
Thôn, Nam Sơn, thành phố Bắc Ninh. UBND phường Nam Sơn xác định: hiện tại
hồ sơ thửa đất CL02-37, địa chỉ: Tự Thôn, Nam Sơn, thành phố Bắc Ninh mang tên
vợ chồng anh Trịnh, chị Thành. Thửa đất này chưa được cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất. Sau đó ông Trung, anh Trịnh, chị Thành đã bán hồ sơ thửa đất
trên cho anh Trần Văn Đam, sinh năm 1976, HKTT: Tự Thôn, phường Nam Sơn,
thành phố Bắc Ninh với giá 700.000.000 đồng. Ông Trung, anh Trịnh, chị Thành
không quen biết Nguyễn Tuyết M. Sau khi mua đất của ông Trung, anh Trịnh, chị
Thành thì vài ngày sau thấy có lãi nên anh Đam đã bán. Do thời gian đã lâu nên anh
Đam không nhớ bán cho ai.
Ngày 17/7/2020, chị L chuyển cho M số tiền 30.000.000đồng, với nội dung
“Nguyen Thi Lua Chuyen Coc Mua Chung Lo Dat So 656 To Ban Do 33 87.8M Van
Duong TP Bac Ninh”, sau đó M chiếm đoạt số tiền này. Quá trình điều tra xác định
lô đất này là của anh Nguyễn Văn Mạnh, sinh năm 1978, chị Nguyễn Thị Dung, sinh
năm 1981, HKTT: thôn Bất Phí, xã Nhân Hòa, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, anh
Mạnh trình bày: Ngày 19/6/2020, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Ninh cấp
11
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sơ hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất, thửa đất số 656, tờ bản đồ số 33, địa chỉ: phường Vân Dương, thành phố
Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh diện tích: 87,8 m
2
. Anh Mạnh không quen biết Nguyễn
Tuyết M, đến ngày 18/2/2021, anh Mạnh bán thửa đất nêu trên cho anh Tạ Đăng
Thông, sinh năm 1987 và chị Nguyễn Thị Sang, sinh năm 1987 ở thôn Gia Phú, xã
Bình Dương, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh.
Hành vi của Nguyễn Tuyết M đã gian dối với chị L về việc bản thân đang
mua một số lô đất, chỉ cần đặt cọc rồi bán lại là có lãi ngay. M rủ chị L góp
235.000.000đồng cho M để đặt cọc, mua chung đất. Chị L tin tưởng lời M nói là
thật nên từ ngày 15/7/2020, đến ngày 21/7/2020, M đã chiếm đoạt của chị L tổng
số tiền là 235.000.000 đồng.
3. Hành vi làm giả 02 phiếu thu và đối với chị Lương Thị Lan A:
3.1. Hành vi làm giả 02 phiếu thu của Công ty TNHH thương mại và dịch
vụ Anh Phú (viết tắt Công ty Anh Phú) địa chỉ số nhà 244, KĐT Chầu Cau,
phường Võ Cường, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
Quá trình điều tra xác định ngày 29/5/2017, Nguyễn Tuyết M đăng ký mua
căn chung cư số 2, tầng 5, tòa 4, chung cư Thanh Bình của Công ty Anh Phú. M đã
đặt cọc số tiền 100.000.000 đồng cho Công ty Anh Phú và nhận được phiếu thu,
sau đó M đã chụp ảnh lại phiếu thu. Do không có tiền nộp để mua, M đã làm đơn
đề nghị xin lại số tiền đặt cọc từ Công ty Anh Phú. Ngày 29/12/2018 Công ty Anh
Phú đã trả lại M số tiền 100.000.000 đồng. M khai đầu tháng 01/2020, do bị nhiều
người đòi nợ, M không có tiền trả thì chủ nợ có yêu cầu M thế chấp tài sản nên M
đã nghĩ đến việc làm giả phiếu thu tiền khi mua chung cư Thanh Bình. Sau đó, M
tìm hiểu trên mạng Internet xem có ai làm giả giấy tờ thì kết bạn Zalo với người có
tài khoản tên “Smile” có khả năng làm giả giấy tờ này. M gửi mẫu ảnh phiếu thu
mà M đã chụp ảnh trước đó cho “Smile” và bảo người này làm cho 02 phiếu thu
tiền mua căn hộ của chung cư Thanh Bình, trong đó 01 phiếu thu có nội dung như
phiếu thu mà M đã chụp ảnh trước đó, 01 phiếu thu với nội dung đặt cọc tiền đợt
1+2 với số tiền 288.069.000đồng để mua căn hộ số 8, tầng 7, tòa CT2. Phần chữ ký
người nộp tiền thì M bảo “Smile” để trống, sau M ký. M thống nhất với “Smile”
làm giả 02 phiếu thu này với giá 5.000.000đồng. Ngày 02/01/2020, M đã chuyển
khoản từ số tài khoản 25610000313331 (Ngân hàng BIDV chi nhánh Kinh Bắc)
của M vào số tài khoản 0911000056603 (Ngân hàng Vietcombank) mang tên
Nguyễn M Thông số tiền 1.000.000 đồng để đặt cọc làm giả 02 phiếu thu trên. Vài
ngày sau, M nhận được tin nhắn của “Smile” nói đã làm xong 02 phiếu thu tiền giả
và sẽ chuyển phát nhanh về cho M. “Smile” có bảo M khi nào nhận được 02 phiếu
12
thu thì chuyển nốt số tiền còn lại vào tài khoản và chuyển cho người đưa hàng. Sau
đó M đã nhận được 02 phiếu thu tiền giả. Bản thân M không biết người có tài
khoản Zalo là “Smile” và Nguyễn M Thông là ai, ở đâu. Chính M cũng cung cấp
thông tin của 05 sổ đỏ giả mà M giao cho chị Ng để “Smile” làm giả 05 sổ đỏ với
giá 10.000.000đồng/1 sổ. M đã chuyển khoản vào các ngày 02/01/2020,
03/01/2020, 07/01/2020, 09/01/2020, 10/01/2020 và ngày 16/02/2020 số tiền
31.000.000đồng vào tài khoản của Nguyễn M Thông, số tiền còn lại M chuyển trả
cho người síp hàng không biết tên tuổi và địa chỉ.
Ngày 25/02/2021, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc
Ninh đã ủy thác cho Cơ quan CSĐT Công an quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí M
tiến hành xác M đối tượng: Nguyễn M Thông, sinh năm 1998, HKTT: K18, Trung
tâm thương mại Hạnh Thông Tây, Quang Trung, phường 11, quận Gò Vấp, thành
phố Hồ Chí M là người đứng tên tài khoản 0911000056603, Ngân hàng
Vietcombank mà M chuyển tiền để làm 02 phiếu thu giả.
Quá trình điều tra Nguyễn M Thông trình bày: Năm 2017, Thông quen một
người bạn tên Khánh nhưng ít chơi với nhau nên Thông không biết đầy đủ họ tên,
địa chỉ nhà và số điện thoại của Khánh. Tháng 5/2019, Khánh nhờ Thông đến
Ngân hàng Vietcombank mở tài khoản ngân hàng để Khánh chuyển tiền và Thông
đồng ý. Sau đó, Khánh và Thông mở số tài khoản 0911000056603 nhưng sử dụng
số điện thoại của Khánh đăng ký chuyển tiền. Thông không biết mục đích Khánh
nhờ Thông mở số tài khoản để làm gì, sau khi mở tài khoản xong thì Khánh là
người sử dụng, Thông không sử dụng và không biết việc Khánh dùng vào việc
phạm tội. Khánh hiện ở đâu và làm gì Cơ quan CSĐT (PC02) Công an tỉnh Bắc
Ninh chưa tiến hành xác M được.
3.2. Hành vi M nhận tiền của chị Lương Thị Lan A rồi giao 02 phiếu thu
giả:
Khoảng tháng 9/2019, Nguyễn Tuyết M vay và nợ nhiều tiền, không có tiền
để trả nợ. Cùng thời gian này, M quen chị Lương Thị Lan A khi cùng đi đấu giá
đất. Khoảng tháng 11/2019 và đầu năm 2020, M nói dối chị Lan A là ở huyện Gia
Bình, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh đang đấu giá đất và rủ chị Lan A góp tiền để
làm hồ sơ đấu giá đất. Chị Lan A đồng ý. Sau đó, chị Lan A đã nhiều lần chuyển
tiền từ số tài khoản 43210000677749 của chị Lan A vào 02 số tài khoản
43210001058444 và 25610000313331 của M. Việc đấu giá đất ở đâu, bao nhiêu
tiền là do M quyết định, M không nói cho chị Lan A biết. Mỗi lần chị Lan A
chuyển tiền để chung với M đấu giá đất thì M đều mang đi trả nợ cá nhân hết. Để
chị Lan A không nghi ngờ và tiếp tục chuyển tiền cho M thì M đã tự nghĩ ra khoản
13
tiền lãi rồi báo cho chị Lan A. Để chị Lan A tin tưởng thì M có chuyển khoản tiền
từ việc bán đất lại cho chị Lan A, có lần M dùng luôn số tiền mà chị Lan A chuyển
cho M và nói dối đây là tiền lãi từ việc bán đất và chuyển lại cho chị Lan A. Tổng
số tiền chị Lan A chuyển qua tài khoản cho M là 1.270.000.000 đồng và số tiền M
chuyển cho chị Lan A là 620.000.000 đồng. Ngoài việc, chuyển tiền qua tài khoản,
chị Lan A trực tiếp đưa cho M khoảng 1.082.500.000 đồng. Trước ngày
07/01/2020, M và chị Lan A chốt lại số tiền M chưa trả cho chị Lan A là
777.000.000 đồng, trong đó có 600.000.000 đồng là tiền gốc (đây cũng là tiền chị
Lan A góp với M để M đi mua đất), còn tiền lãi M tự báo là 177.000.000 đồng.
Ngày 19/6/2020, chị Lan A cùng M chốt lại với nhau bằng “Giấy nhận vay
tiền” thể hiện nội dung M vay của chị Lan A số tiền 4.920.000.000 đồng. Thời
gian vay là 02 tháng. Đây là số tiền cộng dồn cả lãi và gốc từ các lần chị Lan A
đưa tiền cho M, thực tế hai bên không có việc chị Lan A cho M vay tiền.
Ngày 22/9/2021, Cơ quan CSĐT (PC02) Công an tỉnh Bắc Ninh đã ra Quyết
định trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh giám định chữ ký,
chữ viết của Nguyễn Tuyết M tại “Giấy vay tiền” đề ngày 19/6/2020 và “Hợp đồng
cho cá nhân vay tiền” đề ngày 27/3/2020.
Ngày 01/10/2021, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh có Kết luận
giám định số 137/KLGĐTL-PC09 kết luận: Chữ ký, chữ viết đứng tên Nguyễn
Tuyết M trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A1, A2) so với chữ viết của Nguyễn
Tuyết M trên tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu M1 đến M4) do cùng một người ký, viết
ra.
Quá trình điều tra chị Lan A trình bày, khi M rủ chị Lan A góp vốn đầu tư
đấu giá đất, lợi nhuận có được sẽ chia theo tỷ lệ góp vốn thì chị Lan A đồng ý. Sau
đó, chị Lan A rủ chị Nguyễn Thị Hồng Nh, sinh năm 1990, HKTT: Nguyễn Trãi,
phường Ninh Xá, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh đầu tư chung vốn cùng chị
Lan A thì chị Nh đồng ý. Chị Nh không trực tiếp làm việc với M mà đều đầu tư
tiền qua chị Lan A. Trong các lần chị Lan A chuyển tiền góp vốn cho M thì có
800.000.000 đồng là tiền của chị Nh góp vốn với chị Lan A (chị Nh đưa cho chị
Lan A 04 lần tiền, mỗi lần là 200.000.000 đồng mà không viết giấy tờ gì). Đến
khoảng đầu tháng 5/2020, chị Nh hỏi chị Lan A về tình hình làm ăn thế nào thì chị
Lan A có nói đấu giá có lãi nhưng chưa rút được tiền về và bảo chị Nh được lãi
42.000.000 đồng, số tiền này cộng vào tiền gốc để đấu giá đất tiếp. Khoảng tháng
6/2020, chị Lan A bảo chị Nh đưa thêm tiền để góp vốn với M nhưng chị Nh
không đồng ý. Sau đó, chị Lan A có vay của chị Nh 50.000.000 đồng để đưa cho
M.
14
Do thấy việc góp vốn không rõ ràng nên chị Nh có yêu cầu chị Lan A rút
vốn của M không làm ăn nữa. Lúc này, chị Lan A có bảo M lo tiền để trả cho chị
Nh. Đến khoảng cuối tháng 6/2020, M không lo được số tiền 800.000.000 đồng để
trả cho chị Nh nên chị Lan A có bảo M xem có tài sản gì thì thế chấp cho chị Nh
để chị Nh đỡ đòi tiền chị Lan A, thì M nói với chị Lan A có 02 căn chung cư
Thanh Bình mà M mới đặt cọc tiền chưa thanh toán hết. Chị Lan A bảo M đưa 02
phiếu thu tiền cho chị Lan A để đưa cho chị Nh. Sau đó, M đã ký tên vào phần
người nộp tiền của 02 phiếu thu tiền đã làm giả trước đó đưa cho chị Lan A để đưa
lại cho chị Nh.
Đến ngày 07/7/2020, chị Nh hẹn M và chị Lan A để nói chuyện tại quán cà
phê Climax trên địa bàn phường Ninh Xá, thành phố Bắc Ninh. Tại đây, chị Nh
bảo M viết giấy biên nhận đặt cọc tiền mua 02 căn hộ chung cư trên của M, với số
tiền là 350.000.000 đồng. Đến ngày 14/7/2020, chị Nh hẹn gặp M và chị Lan A
đến quán nước tại công viên Nguyên Phi Ỷ Lan để nói chuyện. Tại đây, chị Nh
tính tổng số tiền M phải trả cho chị Nh là 892.000.000 đồng. Tuy nhiên, 02 phiếu
thu mà M đã đặt cọc tiền là 388.069.000 đồng nên chị Nh đề nghị M làm thủ sang
tên 02 căn chung cư trên cho chị Nh, phần tiền còn thiếu chị Nh sẽ nộp cho chủ
đầu tư. Do M vẫn còn thiếu chị Nh số tiền 500.000.000 đồng nên chị Nh yêu cầu
M phải làm thủ tục sang tên cho chị Nh 01 miếng đất nữa, giá trị chênh lệch chị Nh
sẽ trả cho M. Lúc này, M có cho chị Nh và chị Lan A xem 01 hồ sơ lô đất dân cư
dịch vụ (bản phô tô) của hộ gia đình anh Nguyễn Văn Phụ, sinh năm 1963 và chị
Nguyễn Thị Di, sinh năm 1961, địa chỉ xóm Chiến, thôn Đại Vy, xã Đại Đồng,
huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. M nói lô đất này là của M có giá trị khoảng
840.000.000 đồng. Thấy vậy, chị Nh có bảo M sang tên lô đất này cho chị Nh và
chị Nh yêu cầu M viết giấy biên nhận tiền của chị Nh số tiền 892.000.000 đồng để
mua 02 căn chung cư Thanh Bình và 01 lô đất dân cư dịch vụ ở thôn Đại Vy, xã
Đại Đồng, huyện Tiên Du. Chị Nh đã yêu cầu M làm thủ tục sang tên 02 căn chung
cư và 01 lô đất trên cho chị Nh nhưng M khất hẹn không trả tiền và cũng không
làm thủ tục sang tên cho chị Nh. Đến ngày 31/7/2020, chị Nh đến Công ty TNHH
thương mại và dịch vụ Anh Phú hỏi về hai phiếu thu tiền đặt cọc mà M đưa cho thì
được đại diện Công ty cho biết 02 phiếu thu này là giả. Sau đó, chị Nh và chị Lan
A đã đến Công an thành phố Bắc Ninh trình báo sự việc và giao nộp 02 phiếu thu
trên.
Ngày 03/8/2020, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc
Ninh đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 374, trưng cầu phòng Kỹ thuật hình
15
sự Công an tỉnh Bắc Ninh giám định tài liệu (02 phiếu thu tiền đặt cọc mua chung
cư Thanh Bình mà chị Nh giao nộp cho cơ quan điều tra).
Ngày 02/12/2020 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh đã ra Bản
kết luận giám định số 122/KLGĐTL-PC09 kết luận:
- Hình dấu tròn có nội dung “Công ty TNHH thương mại và dịch vụ Anh
Phú” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A1, A2) so với hình dấu tròn có cùng nội
dung trên tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu M1) không phải do cùng một con dấu đóng
ra.
- Chữ ký dưới mục “Giám đốc” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A1,A2)
so với chữ ký của Nguyễn Văn Thắng trên tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu M2)
không phải do cùng một người ký ra.
- Chữ ký dưới mục “Kế toán trưởng” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu
A1) so với chữ ký của Phạm Thị Loan trên tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu M3)
không phải do cùng một người ký ra.
- Chữ ký dưới mục “Thủ quỹ” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A1) so
với chữ ký của Nguyễn Quỳnh Nga trên tài liệu mẫu cần so sánh (ký hiệu M4)
không phải do một người ký ra.
- Chữ ký dưới mục “Người nộp tiền” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A1,
A2) so với chữ ký của Nguyễn Tuyết M trên tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu M5,
M6, M8, M9) do cùng một người ký ra.
- Chữ ký tại vị trí bên phải dấu tròn trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A1)
so với chữ ký của Nguyễn Thu Hậu trên tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu M7) không
phải do cùng một người ký ra.
Chị Lương Thị Lan A trình bày: Trong số tiền 4.920.000.000 đồng mà chị
Lan A với M chốt với nhau thì số tiền gốc chị Lan A đưa cho M là 4.451.300.000
đồng, còn 468.700.000 đồng là tiền lãi từ việc bán đất M báo cho chị Lan A .
Nguyễn Tuyết M trình bày: Trong số tiền 4.920.000.000 đồng mà chị Lan A
và M chốt với nhau chỉ có 1.895.000.000 đồng tiền gốc mà M còn nợ, còn lại
3.025.000.000 đồng là tiền lãi M báo khống cho chị Lan A (BL712).
Xác minh tại Công ty Anh Phú về 02 phiếu thu mà M giao cho chị Lan A thì
Công ty Anh Phú xác định: Ngày 29/5/2017, M có nộp số tiền 100.000.000 đồng
để đặt mua căn hộ số 2, tầng 5, tòa 4 chung cư Thanh Bình. Tuy nhiên ngày
29/12/2018, M đã làm thủ tục xin rút cọc số tiền 100.000.000 đồng và Công ty
Anh Phú đã trả lại cho M số tiền trên. Đối với căn hộ số 08, tầng 7, tòa CT2, thuộc
dự án nhà ở xã hội đường Nguyễn Cao, phường Ninh Xá, thành phố Bắc Ninh,
Công ty Anh Phú đã bán cho chị Nguyễn Phương Thảo, địa chỉ: thôn Mao Dộc, xã
16
Phượng Mao, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh vào ngày 20/4/2020 chứ không bán
cho Nguyễn Tuyết M.
Quá trình điều tra xác minh về hồ sơ đất dân cư dịch vụ (bản phô tô) ở xóm
Chiền, thôn Đại Vi, xã Đại Đồng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh của hộ gia đình
anh Nguyễn Văn Phụ và chị Nguyễn Thị Di mà M đưa cho chị Nh và chị Lan A
xem thì xác định: Năm 2018, hộ gia đình anh Nguyễn Văn Phụ và chị Nguyễn Thị
Di có bộ hồ sơ lô đất dân cư dịch vụ ở thôn Đại Vi nhưng đã chuyển nhượng lại
cho chị Hà Thị Lê Chung, sinh năm 1979, HKTT: Khu 5, Tiền An, thành phố Bắc
Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Tháng 10/2019, M nói với chị Chung là quen chính quyền địa
phương và chị Chung có chụp ảnh hồ sơ lô đất để gửi qua Zalo cho M, nhờ M xin
chính quyền địa phương cho bốc được lô đất đẹp. Sau đó, M đã in hồ sơ đất để cho
chị Nh và Lan Anh xem và nói đã mua lô đất trên. Chị Chung xác định không bán
đất và cũng không nhờ M bán đất giúp chị.
Hành vi của Nguyễn Tuyết M đã có hành vi gian dối đối với chị Lan A về
việc bản thân có khả năng đặt cọc mua nhiều lô đất có giá rẻ, rồi bán lại ngay sẽ có
lãi. M rủ chị Lan A góp vốn với M để mua chung đất. Chị Lan A tin lời M nói là
thật nên từ tháng 11/2019 đến tháng 6/2020, chị Lan A đã giao cho M tổng số tiền
là 4.451.300.000 đồng. Trong đó có 800.000.000 đồng là tiền của chị Nh tham gia
góp vốn với chị Lan A. Sau khi M nhận được tiền của chị Lan A thì M chi tiêu cá
nhân hết, không mua đất như đã hứa. M cũng thường xuyên nghĩ ra một khoản tiền
lãi từ việc bán đất rồi đưa cho chị Lan A, với mục đích để chị Lan A không đòi tiền
gốc mà tiếp tục đưa tiền cho M. Cuối năm 2019, M đã làm giả 02 phiếu thu của
Công ty Anh Phú, khi bị chị Lan A đòi nhiều lần tiền thì M đã đưa cho chị Lan A 02
phiếu thu giả nhằm mục đích kéo dài thời gian phải trả tiền cho chị Lan A.
4. Hành vi đối với anh Trần Văn H:
Cuối năm 2019 do bị nhiều người đòi nợ tiền, để có tiền trả nợ, M đã nói dối
và rủ anh H cùng góp vốn đấu giá đất ở xã Việt Tiến, xã Bích Sơn, huyện Việt
Yên, tỉnh Bắc Giang lợi nhuận sẽ chia theo tỷ lệ góp vốn. Anh H tin lời M nói là
thật và đồng ý. Ngày 21/01/2020, anh H đưa cho M hai lần tiền, lần 1 là
140.000.000 đồng, lần 2 là 50.000.000 đồng để đi đấu giá đất. Sau khi nhận tiền
của anh H thì M sử dụng vào mục đích cá nhân hết, không mang đi đấu giá đất như
M đã hứa. Khoảng 01 tuần sau, M tự nghĩ ra số tiền lãi từ việc đi đấu giá đất mà
anh H được hưởng là 60.000.000 đồng. M tiếp tục nói với anh H là sẽ mang tiền
gốc, tiền lãi nêu trên đi đấu giá đất tiếp. M bảo anh H chuyển thêm tiền cho M để
M đi đấu giá thêm các lô đất khác. Anh H tin tưởng M nên đã chuyểntừ tài khoản
của mình số 19023851951025 mở tại Ngân hàng TMCP kỹ thương chi nhánh Bắc
17
Ninh và trên Bảng sao kê số tài khoản 44310000319856 của anh H mở tại Ngân
hàng TMCP đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh Bắc Ninh vào số tài khoản
25610000313331 mở tại Ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển Việt Nam chi
nhánh Bắc Ninh cho M tổng số tiền là 59.000.000 đồng (cụ thể ngày 06/01/2020 là
30.000.000 đồng, ngày 07/01/2020 là 20.000.000 đồng). Mỗi lần đi đấu giá đất thì
M đều báo lãi là từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng. Đến ngày 21/01/2020, M
chuyển khoản cho anh H được 17.000.000 đồng (đây là M trả tiền lãi từ việc bán
đất) và hai bên đã chốt lại số tiền mà anh H đưa cho M cả gốc và lãi là
339.000.000 đồng. Trong đó có 249.000.000 đồng tiền gốc và 90.000.000 đồng
tiền lãi. Việc chốt số tiền 339.000.000 đồng bằng “Biên bản thỏa thuận góp vốn”
đề ngày 21/01/2020 thể hiện Nguyễn Tuyết M nhận của anh Trần Văn H
339.000.000 đồng, mục đích góp vốn là mua đất chung. Thời hạn góp vốn đến
ngày 25/02/2020 sẽ chia lợi nhuận theo thỏa thuận. Bản gốc anh H đã xé đi.
Sau đó, đến cuối tháng 01/2020 và đầu tháng 02/2020, M tiếp tục nói với
anh H là có nhiều lô đất, đầu tư sẽ sinh lời muốn anh H góp tiền vốn chung. Anh H
đưa nhiều lần tiền mặt cho M với tổng số tiền là 155.000.000 đồng, lần thì
45.000.000; lần 20.000.000 đồng; lần 90.000.000 đồng và M cũng có chuyển
khoản tiền lại cho anh H 42.000.000đồng và đưa tiền mặt là 100.000.000 đồng. Số
tiền M giao lại cho anh H gồm cả gốc và lãi, trong tổng số 142.000.000 đồng thì cụ
thể gốc bao nhiêu, lãi bao nhiêu thì hai người không nhớ. Đến ngày 27/3/2020, M
và anh H chốt với nhau bằng 01“Hợp đồng cho cá nhân vay tiền” đề ngày
27/03/2020 thể hiện Nguyễn Tuyết M vay của Trần Văn H số tiền 333.000.000
đồng. Thời hạn vay từ ngày 27/3/2020 đến 27/5/2020. Việc chốt bằng hợp đồng
nêu trên để M có trách nhiệm trả tiền cho anh H, thực tế M không vay của anh H.
Trong tổng số tiền 333.000.000 đồng thì tiền gốc anh H góp vốn với M là
295.000.000 đồng, M báo khống tiền lãi từ việc bán đất là 38.000.000 đồng. Tháng
4/2021, M trả được cho anh H số tiền 17.000.000 đồng.
Nguyễn Tuyết M đã có hành vi gian dối ngay từ đầu là nói dối anh H về
việc M đi đặt cọc để đấu giá đất rồi bán lại là có lãi ngay. M rủ anh H góp vốn với
M. Anh H tin lời M nói là thật nên đã giao cho M tổng số tiền là 295.000.000 đồng.
Sau khi M nhận được tiền của anh H thì M chi tiêu cá nhân hết, không mua đất như
đã hứa.
5. Hành vi đối với anh Nguyễn Đức H:
Anh Nguyễn Đức H có quan hệ quen biết với Nguyễn Tuyết M. Cuối tháng
02/2021, bản thân M biết chị Nguyễn Thị Nh, sinh năm 1986, HKTT: Khu Hud,
phường Võ Cường, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh đang muốn bán lô đất dãy
18
LK1 lô số 29 dự án Đức Việt ở Thuận Thành với tổng số tiền là 1.780.000.000
đồng. M muốn đặt cọc tiền lô đất trên rồi bán kênh giá lấy tiền lãi. Tuy nhiên, M
không có tiền đặt cọc và để trả nợ nên M nói với anh H là M có mối mua được lô
đất trên trực tiếp của chủ đầu tư với giá 1.780.000.000 đồng và muốn anh H góp ¼
số tiền vốn, tương ứng với số tiền là 445.000.000 đồng, anh H đồng ý. Từ ngày
26/2/2021 đến ngày 8/3/2021, anh H đã chuyển tiền từ tài khoản số
9990166661968 mở tại Ngân hàng TMCP Quân Đội (MB) chi nhánh Bắc Ninh
đến tài khoản số 25610000313331 mở tại Ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển
Việt Nam chi nhánh Bắc Ninh cho Mvới số tiền 445.000.000 đồng cho M. Sau khi
nhận được số tiền 445.000.000 đồng thì M đặt cọc 150.000.000 đồng cho Nguyễn
Thị Nh, sinh năm 1986 để mua đất dãy LK1 lô số 29 dự án Đức Việt với tổng số
tiền là 1.780.000.000 đồng. Thời gian đặt cọc là 02 tuần. Mục đích đặt cọc là chỉ
để có thời gian tìm khách bán ngay kiếm lãi. Xong M không có tiền để lấy nên đã
chấp nhận bỏ mất số tiền cọc này. M không nói cho anh H biết sợ anh H đòi tiền và
tiếp tục nói dối là lô đất này đã vào tên M rồi. Số tiền còn lại 295.000.000đồng M
vẫn giữ. Sau khoảng 10 ngày M báo với anh H là lô đất đã vào tên M. Để anh H tin
tưởng M thì ngày 22/3/2021, M bảo anh H chuyển cho M 40.000.000 đồng để góp
tiền đặt cọc lô đất ở Kim Chân còn cụ thể lô đất nào thì M không nói. Anh H nhờ
cháu là Lê Thị Bích Nhàn, sinh 1980, HKTT: thôn Vạn Ty, xã Thái Bảo, huyện Gia
Bình, tỉnh Bắc Ninh chuyển 40.000.000 đồng từ khoản khoản số 0351001222954
mở tại Ngân hàng Techcombank chi nhánh Bắc Ninh của mìnhvào tài khoản số
109800121282 mở tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam, chi nhánh Bắc
Ninh cho M. Ngày hôm sau, M báo lãi mỗi người được 12.500.000đồng và M
chuyển lại luôn cho anh H 50.000.000 đồng (còn thiếu 2.500.000 tiền lãi đến ngày
13/4/2021 M đã chuyển nốt số tiền này). Đến ngày 26/3/2021, M lại rủ anh H góp
180.000.000 đồng để chung với M đấu giá lô đất L3-11, Khu Tiên Xá, phường Hạp
Lĩnh, thành phố Bắc Ninh. Anh H đồng ý. Anh H chuyển khoản cho M số tiền
160.000.000 đồng và nhờ chị Nhàn chuyển cho M 10.000.000đồng, nhờ anh
Nguyễn Quang Phúc, sinh năm 1989, HKTT: phường Võ Cường, thành phố Bắc
Ninh chuyển 10.000.000 đồng. Sau khi M nhận đủ 180.000.000 đồng thì M lấy
121.700.000 đồng trong số tiền 445.000.000 đồng (đã nêu ở trên) để đặt cọc
301.700.000 đồng đấu giá lô đất L3-11 Khu Tiên Xá, phường Hạp Lĩnh, thành phố
Bắc Ninh, nhưng đứng tên anh H. Lô đất này M đi đấu giá trúng với giá
3.440.000.000 đồng (118,7m
2
). Sau khi đấu giá thì anh H và M không có tiền để
nộp theo quy định nên UBND thành phố Bắc Ninh đã thu hồi lại. Lô đất này anh H
chấp nhận mất 180.000.000 đồng tiền cọc. Còn 173.300.000 đồng từ 445.000.000
19
đồng (đã nêu trên) thì M sử dụng vào chi tiêu và trả nợ cá nhân hết (BL 629, 635,
637, 639, 730, 769). Để anh H không đòi tiền M, ngày 29/3/2021, M bảo anh H
góp 35.000.000 đồng với M để M đặt cọc lô đất ở xã Ngọc Xá, huyện Quế Võ.
Anh H đồng ý. Anh H chuyển 35.000.000 đồng cho M. Ngày hôm sau, M báo lãi
mỗi người được 12.500.000 đồng và M chuyển lại luôn cho anh H 40.000.000đồng
(còn thiếu 7.500.000 tiền lãi đến ngày 02/4/2021 M đã chuyển lại trả đủ). Tiếp đến
ngày 31/3/2021, M nói dối anh H là đang có lô đất ở xã Ngọc Xá, huyện Quế Võ,
đặt cọc bán sẽ có lãi ngay và muốn anh H góp với M 45.000.000 đồng. Anh H
đồng ý. Số tiền này sau khi nhận được M chi tiêu cá nhân hết. Cũng với thủ đoạn
nêu trên, ngày 13/4/2021, anh H góp với M 25.000.000 đồng để đặt cọc lô đất ở
Đồng Mái, Hòa Long, thành phố Bắc Ninh còn cụ thể lô đất nào thì M không nói.
Sau khi nhận được tiền thì M đã chiếm đoạt số tiền này để trả nợ cá nhân hết.Đến
cuối tháng 4/2021, anh H hỏi M về lô đất ở dự án Đức Việt thì M khất nhiều lần
không cho anh H xem giấy tờ. Anh H tìm hiểu thì biết M không mua đất như đã
nói. Ngày 12/8/2021, M viết cho anh H “Giấy biên nhận” thể hiện M đã nhận
445.000.000 đồng của anh H để đầu tư mua lô đất ở dự án Đức Việt và 70.000.000
đồng đầu tư đất (BL501, 730A).
Ngày 29/12/2021, Cơ quan CSĐT (PC02) Công an tỉnh Bắc Ninh đã ra Quyết
định trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh giám định chữ ký,
chữ viết của Nguyễn Tuyết M tại “Giấy biên nhận” đề ngày 12/8/2021 (BL 498)
Ngày 31/12/2021, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh ra Bản kết luận
giám định số:09/KLGĐTL-PC09 kết luận:Chữ ký, chữ viết đứng tên Nguyễn Tuyết
M trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ viết của Nguyễn Tuyết M trên
tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu M1, M2) do cùng một người ký, viết ra (BL499).
Quá trình điều tra ông Nguyễn Bình Đông chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần tập
đoàn Đức Việt cho biết Công ty là chủ đầu tư dự án khu nhà ở Đức Việt có địa chỉ
tại thôn Tam Á, xã Gia Đông, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh và xác định ngày
17/12/2020, Công ty ký hợp đồng đặt cọc lô đất LK1- 29 của dự án nêu trên với
anh Nguyễn Văn Tuấn, sinh năm 1986 ở Xuân Lâm, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc
Ninh, ngày 12/01/2021 chuyển sang tên cho chị Dương Thị Hà, sinh năm 1980 ở
xã Trí Quả, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, ngày 02/3/2021 chuyển cho chị
Nguyễn Thị Nh, sinh năm 1986, trú tại Ninh Xá 3, phường Ninh Xá, thành phố
Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh và ngày 28/6/2021 chuyển cho anh Nguyễn Ngọc Hải ở
thôn Thượng, Phù Khê, Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Công ty không ký hợp đồng đặt
cọc lô đất nêu trên với Nguyễn Tuyết M.
20
Nguyễn Tuyết M đã có hành vi gian dối ngay từ đầu đối với anh H về việc
M trực tiếp mua đất của chủ đầu tư dự án Đức Việt. M rủ anh H góp vốn với M.
Anh H tin lời M nói là thật nên đã giao cho M tổng số tiền là 445.000.000 đồng.
Sau khi M nhận được tiền của anh H thì M tự ý đặt cọc 150.000.000 đồng cho chị
Nhiên, số tiền còn lại 295.000.000 M chiếm đoạt của anh H.
Quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Tuyết M đã thành khẩn khai nhận toàn bộ
hành vi phạm tội nêu trên. Về trách nhiệm dân sự cho đến nay Nguyễn Tuyết M
chưa bồi thường khắc phục hậu quả cho các bị hại nêu trên.
Với nội dung trên, bản Cáo trạng số 14/CT-VKS-P2 ngày 14/3/2022 của
VKSND tỉnh Bắc Ninh đã truy tố Nguyễn Tuyết M về tội:“Lừa đảo chiếm đoạt tài
sản” quy định tại điểm a, khoản 4, Điều 174 Bộ luật Hình sự và tội: “Làm giả con
dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” quy định tại điểm a khoản 3, Điều 341 Bộ luật
Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại
phiên tòa phát biểu luận tội, sau khi phân tích hành vi phạm tội của các bị cáo,
phân tích vai trò, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi cũng như các tình tiết
tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo trong vụ án, đã đề nghị giữ
nguyên tội danh truy tố với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuyết M phạm tội:“Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
và tội: “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”; Áp dụng điểm a khoản 4
Điều 174; điểm a khoản 3 Điều 341 điểm n, s khoản 1, Khoản 2 Điều 51, điểm g
khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 55 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuyết
M 20 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và từ 3 đến 4 năm tù về tội “Làm
giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chấp
hành hình phạt chung của hai tội là từ 23 đến 24 năm tù, thời hạn tù được tính từ
ngày bắt thi hành án.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị HĐXX miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự : Buộc bị cáo phải bồi thường cho những người bị hại
chị Nguyễn Thị Kim Ng số tiền 4.558.000.000 đồng ; chị Lương Thị Lan A số tiền
4.376.300.000 đồng ; anh Nguyễn Đức H số tiền 515.000.000 đồng, anh Trần Văn
H số tiền 295.000.000 đồng và chị Nguyễn Thị L số tiền 223.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

21
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Tuyết M trình bày:
- Về tội danh đồng ý với cáo trạng của VKSND tỉnh Bắc Ninh đã truy tố đối
với bị cáo M về tội :“Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản
4 Điều 174 Bộ luật hình sự và tội: “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ
chức” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 341 Bộ luật hình sự.
- Sau khi bị cáo bị khởi tố bị cáo đã khắc phục hậu quả bằng cách hoàn trả
cho người bị hại là chị Lan A được 75.000.000đ và chị L được 12.000.000đ nên đề
nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm
nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Do bị cáo có 3 tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 và 1 tình tiết giảm nhẹ ở khoản
2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 54
Bộ luật hình sự xử bị cáo ở mức dưới khung hình phạt.
- Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo lời trình bày của bị cáo tại phiên tòa
bị cáo chỉ nhận của chị Ng và chị Lan A thực tế mỗi người hơn hai tỷ đồng, còn cụ
thể bao nhiêu thì bị cáo M không nhớ rõ, số tiền còn lại của chị Ng và chị Lan A là
tiền do Ngân báo lãi ảo rồi chốt nợ với chị Ng và chị Lan A.
Bị cáo M, không có ý kiến gì bổ sung và nhất trí với lời bào chữa của người
bào chữa cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát trong phần tranh luận không nhất trí với lời bào chữa
của người bào chữa cho bị cáo M về tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo điểm b
Khoản 1 Điều 51 và Điều 54 Bộ luật hình sự và giữ nguyên điều luật và mức hình
phạt đã đề xuất áp dụng đối với bị cáo M.
Bị cáo không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc
Ninh mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố
Bắc Ninh và Cơ quan điều tra Công an tỉnh Bắc Ninh, Điều tra viên; Viện kiểm sát
nhân dân tỉnh Bắc Ninh, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực
hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về

22
hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó,
các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố
tụng đã thực hiện đều đúng pháp luật.
[2] Tại phiên tòa hôm nay bị cáo M đã khai nhận:. Để có tiền chi tiêu và trả nợ
cá nhân,trong khoảng thời gian từ tháng 7/2018 đến tháng 8/2021 M đã thực hiện
hành vi gian dối đối với những người thân, quen, bằng thủ đoạn đưa ra thông tin
với các bị hại về việc bản thân có khả năng mua được nhiều lô đất có giá rẻ tại các
xã, phường, tỉnh Bắc Ninh, tỉnh Bắc Giang rồi bán lại sẽ có lãi suất cao. Để các bị
hại tin tưởng, không đòi tiền M đã đặt làm giả 05 Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất giao cho chị Nguyễn Thị Kim Ng và 02 phiếu thu giả của Công ty Anh Phú
giao cho chị Lương Thị Lan A và chị Nguyễn Thị Hồng Nh. Quá trình điều tra và
tại phiên tòa hôm nay đã chứng M làm rõ tổng số tiền M chiếm đoạt của các bị hại
là: 10.054.300.000đồng. Trong đó chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Kim Ng, số tiền
4.558.000.000đồng, chị Lương Thị Lan A, số tiền 4.451.300.000đồng, anh Nguyễn
Đức H, số tiền là 515.000.000đồng, anh Trần Văn H số tiền 295.000.000đồng và
chị Nguyễn Thị L số tiền 235.000.000đồng. Như vậy, xác định tổng số tiền M
chiếm đoạt của các bị hại là: 10.054.300.000 đồng (Mười tỷ không trăm năm mươi
tư triệu ba trăm nghìn đồng) như cáo trạng truy tố.
Do đó hành vi của bị cáo Nguyễn Tuyết M đã phạm tội: “Lừa đảo chiếm
đoạt tài sản” quy định tại điểm a, khoản 4, Điều 174 Bộ luật Hình sự và tội: “Làm
giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” quy định tại điểm a khoản 3, Điều 341
Bộ luật Hình sự như cáo trạng đã truy tố là đúng người, đúng tội đúng pháp luật.
[3]. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội bị cáo đã lợi dụng
sự tin tưởng của các bị hại, bị cáo dùng thủ đoạn gian dối đưa ra thông tin không
đúng sự thật, không có việc đi mua bán đất, không có giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, không có việc mua nhà chung cư, bị cáo đã thuê người làm đúng những
con dấu, tài liệu giả mà bị cáo cung cấp sau đó nhận lại các giấy tờ giả đưa cho các
bị hại mục đích để chiếm đoạt tiền, các lần nhận tiền của các bị hại còn thể hiện
qua việc chuyển khoản “tiền” mà bị cáo nhận của các bị hại, quá trình điều tra đã
chứng M làm rõ hành vi của bị cáo, bị cáo cho rằng số tiền chiếm đoạt của các bị
hại không như vậy, xong bị cáo không có bất cứ tài liệu, giấy tờ gì chứng M, mặt
khác giữa bị cáo và các bị hại đã chốt số tiền nợ với nhau. Hành vi bị cáo lợi dụng
sự tin tưởng của các bị hại, mong muốn làm giàu nhanh chóng trong việc buôn bán
bất động sản, bị cáo là người không có vốn để kinh doanh đã lợi dụng sự tin tưởng
các bị hại chuyển tiền để chi tiêu cá nhân và trả nợ hết. Chính vì vậy cần phải đưa

23
ra xử lý nghiêm M trước pháp luật và có hình phạt tương xứng với tính chất, hành
vi phạm tội của bị cáo, như vậy mới có tác dụng cải tạo giáo dục riêng đối với bị
cáo và răn đe giáo dục, phòng ngừa chung.
[3.1]. Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự của bị cáo HĐXX thấy: Trong vụ án này bị cáo dùng thủ đoạn gian dối để thực
hiện nhiều hành vi phạm tội và đối với nhiều bị hại nên cần áp dụng tình tiết tăng
nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1
Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo là phù hợp. Tuy nhiên bị cáo có nhân thân
tốt, chưa có tiền án, tiền sự, trong quá trình điều tra truy tố xét xử bị cáo đều thành
khẩn khai báo, ăn năn hối cải, người phạm tội là phụ nữ có thai, mặt khác tại phiên
tòa hôm nay người bị hại là anh Nguyễn Đức H xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Chính vì vậy cần áp dụng điểm n, s khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm
nhẹ hình phạt cho bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[3.2]. Về hình phạt bổ sung : Đối với M xét thấy bị cáo không có nghề
nghiệp ổn định mặt khác hiện bị cáo đang nuôi con, do vậy nên miễn hình phạt bổ
sung cho cho M theo Khoản 5 Điều 174 Bộ luật hình sự là phù hợp.
[4] Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo M và đại diện Viện kiểm sát
đều cho rằng cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ là phụ nữ có thai, thành khẩn khai báo,
tỏ thái độ ăn năn hối cải và tại phiên tòa hôm nay người bị hại là anh H xin giảm
nhẹ hình phạt cho bị cáo theo điểm n, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 52 Bộ luật hình
sự đối với bị cáo M. Xét đề nghị này của người bào chữa và đại diện Viện kiểm sát
là có cơ sở, do đó đề nghị của người bào chữa và của đại diện Viện kiểm sát về áp
dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo M là phù hợp nên cần
được chấp nhận. Ngoài ra người bào chữa cho bị cáo M cho rằng sau khi phạm tội
và bị khởi tố thì bị cáo M đã bồi thường khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội
của bị cáo gây ra, do vậy nên cần áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm
nhẹ theo quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 51 và Điều 54 Bộ luật hình sự xử cho
bị cáo dưới khung hình phạt. Hội đồng xét xử xét thấy tuy rằng sau khi bị cáo bị
khởi tố cho đến trước ngày xét xử bị cáo đã bồi thường được cho chị Lan A và chị
L tổng số tiền là 87.000.000đ ( Trong đó của chị Lan A là 75.000.000đ và chị L là
12.000.000đ), tuy nhiên so với số tiền mà bị cáo đã chiếm đoạt của các người bị
hại thì số tiền mà bị cáo khắc phục hậu quả là không lớn, do vậy lời đề nghị của
người bào chữa cho bị cáo M áp dụng điểm b Khoản 1 Điều 51 và Điều 54 Bộ luật

24
hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xử bị cáo dưới khung hình phạt là
không có căn cứ nên không được chấp nhận.
[5]. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa hôm nay chị Lan A xác nhận sau
khi M bị khởi tố M đã trả cho chị được số tiền 75.000.000đ nên nay chị Lan A chỉ
yêu cầu M phải trả cho chị số tiền là 4.376.300.000 đồng, còn chị L cũng xác định
M đã trả cho chị được 12.000.000đ nên nay chị L chỉ yêu cầu M phải trả cho chị số
tiền là 223.000.000đồng, tại phiên tòa bị cáo M cũng xác nhận lời khai của chị Lan
A và chị L về việc M đã thanh toán cho chị Lan A số tiền là 75.000.000đ và chị L
số tiền là 12.000.000đ là đúng do vậy cần khấu trừ số tiền trên vào tổng số tiền mà
M đã chiếm đoạt của chị Lan A và chị L là phù hợp.
Do đó cần buộc bị cáo M có trách nhiệm bồi thường cho chị Nguyễn Thị
Kim Ng số tiền 4.558.000.000 đồng; chị Lương Thị Lan A, số tiền 4.376.300.000
đồng; anh Nguyễn Đức H, số tiền là 515.000.000 đồng; anh Trần Văn H số tiền
295.000.000 đồng và chị Nguyễn Thị L số tiền 223.000.000 đồng.
[6]. Về xử lý vật chứng: Đối với 05 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả
và 02 phiếu thu giả xác định đây là vật chứng của vụ án và đang được lưu giữ
trong hồ sơ vụ án do vậy cần tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án là phù hợp với quy
định của pháp luật.
[7]. Những vấn đề khác:
- Đối với số tiền mà chị Lương Thị Lan A nhận từ chị Nguyễn Thị Hồng Nh
là 800.000.000đ để chị Lan A giao cho M góp vốn trong tổng số tiền mà M chiếm
đoạt của chị Lan A là 4.376.300.000 đồng thì chị Lan A phải có trách nhiệm thanh
toán trả cho chị Hồng Nhung, nếu chị Lan A không thanh toán cho chị Nh thì sẽ
được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác khi chị Nguyễn Thị Hồng Nh có đơn
yêu cầu.
- Đối với số tiền mà chị Nguyễn Thị Nh nhận tiền đặt cọc của M là
150.000.000đ đây là số tiền mà M chiếm đoạt từ anh H, nhưng tại phiên tòa hôm
nay M cũng đã xác định giữa M và chị Nhiên đã thỏa thuận trong thời hạn từ 15
đến 20 ngày nếu M tự bỏ cọc thì sẽ bị mất số tiền trên với chị Nhiên, do vậy xác
định đây là thỏa thuận Dân sự giữa chị Nhiên và M, do M tự ý bỏ cọc nên chị M
được hưởng số tiền trên nên không cần buộc chị Nhiên phải nộp lại số tiền trên là
phù hợp.
- Đối với anh Nguyễn M Thông là chủ tài khoản mà M chuyển tiền trả phí
làm giả 05 sổ đỏ và 02 phiếu thu, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bắc Ninh xác định:
25
Thông không sử dụng số tài khoản mà là đối tượng tên Khánh sử dụng nên Cơ
quan điều tra không xem xét xử lý đối với Thông, đồng thời chưa xác định được
đối tượng tên Khánh nên Cơ quan điều tra đang tiếp tục điều tra xác M khi nào có
căn cứ đề nghị xử lý sau.
- Đối với anh Nguyễn Huy Hà, sinh năm 1984, HKTT: Khu Khả Lễ, phường
Võ Cường, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh, quá trình điều tra có đơn tố giác
Nguyễn Tuyết M có hành lừa đảo chiếm đoạt tài sản với số tiền 360.000.000 đồng.
Cơ quan CSĐT (PC02) Công an tỉnh Bắc Ninh tiến hành điều tra, xác định như sau
năm 2016 anh có quen biết với Nguyễn Tuyết M. Khoảng tháng 11/2019, M hỏi vay
tiền anh Hà. Anh Hà đồng ý cho M vay 02 lần tiền, lần 1 là 240.000.000 đồng, lần 2
là 120.000.000 đồng. Thời gian vay là 02 tuần. Anh Hà nhiều lần đòi tiền M nhưng
M không trả. Ngày 15/7/2020, M viết giấy vay tiền với nội dung: M vay anh Hà
360.000.000 đồng hẹn đến ngày 30/8/2020 sẽ hoàn trả số tiền đã vay cho anh Hà.
Tuy nhiên đến nay M không có tiền để trả cho anh Hà.Căn cứ kết quả điều tra, Cơ
quan CSĐT (PC02) Công an tỉnh Bắc Ninh xác đinh việc M vay tiền của anh Hà là
quan hệ dân sự không có dấu hiệu của tội phạm hình sự. Vì vậy không đặt ra giải
quyết trong vụ án này và đã hướng dẫn anh Hà khởi kiện bằng một vụ án dân sự
khác.
[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ
thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuyết M phạm tội:“Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
và tội: “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”
Áp dụng điểm a, khoản 4, Điều 174; điểm a khoản 3, Điều 341; điểm n, s
khoản 1, Khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 55 Bộ luật hình
sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuyết M 19 (Mười chín) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm
đoạt tài sản” và 03 (Ba) năm tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo M phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội
là 22 (Hai mươi hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều
585, Điều 589 Bộ luật dân sự:
- Buộc bị cáo Nguyễn Tuyết M phải bồi thường cho:Chị Nguyễn Thị Kim
Ng số tiền 4.558.000.000 đồng; chị Lương Thị Lan A, số tiền 4.376.300.000 đồng;
26
anh Nguyễn Đức H, số tiền 515.000.000 đồng; anh Trần Văn H số tiền
295.000.000 đồng và chị Nguyễn Thị L số tiền 223.000.000 đồng.
Kể từ ngày bản án phát sinh hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có
đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không thi hành thì hàng tháng
phải chịu một khoản lãi của số tiền chậm thi hành án theo quy định tại điều 468 Bộ
luật dân sự, tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự.
3. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự 2015, Điều 106 Bộ
luật tố tụng hình sự 2015: Lưu hồ sơ vụ án đối với 05 giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất giả và 02 phiếu thu giả
4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và
117.967.300đồng án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt được quyền kháng cáo trong
hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt
bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật./.
Nơi nhận:
- TAND cấp cao;
- VKSND cấp cao;
- VKSND tỉnh Bắc Ninh;
- CQCSĐT Công an tỉnh Bắc Ninh;
- Cục THADS tỉnh Bắc Ninh;
- Bị cáo; những người TGTT khác;
- Lưu HS; Tòa HS;
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
( Đã ký)
Nguyễn Văn Nam
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 10/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Bản án số 80/2026/KDTM-PT ngày 05/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 04/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 04/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 02/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 02/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm