Bản án số 54/2023/KDTM-PT ngày 15/06/2023 của TAND cấp cao tại TP.HCM về tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 54/2023/KDTM-PT

Tên Bản án: Bản án số 54/2023/KDTM-PT ngày 15/06/2023 của TAND cấp cao tại TP.HCM về tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND cấp cao tại TP.HCM
Số hiệu: 54/2023/KDTM-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/06/2023
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: công ty P1 kiện Công ty TNHH C về việc vi phạm bản quyền phần mềm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 54/2023/KDTM-PT
Ngày: 15-6- 2023
V/v Tranh chp quyn s hu trí tu
và bồi thường thit hi
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn An
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Khương
Bà Nguyễn Thị Thúy Hòa
- Thư phiên toà: Ông Nguyễn Văn Cường Thư Tòa án nhân dân
cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc Đảm Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành
phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ
số: 77/2022/TLKDTM-PT ngày 01 tháng 12 năm 2022 về việc: Tranh chp
quyn s hu trí tu và bồi thường thit hi. Do Bản án kinh doanh thương mại
thẩm số 01/2020/KDTM-ST ngày 30 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân
tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1325/2023/QĐ-PT ngày
26 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty P1; Số A S, B, MA B, Hoa Kỳ.
Người đại diện hợp pháp: Aaron C. von S, chức vụ: Phó Chủ tịch, Tổng
Phụ trách pháp chế và Thư ký.
Người đại diện theo ủy quyền: Nguyễn Minh Hương; Địa chỉ: Văn
phòng Luật A Hòa, Số A đường C, Phường E, Quận C, Thành phHồ Chí
Minh (có mặt).
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Tôn Thất
Hồ N Nguyễn Nhật Thùy V - Luật Văn phòng L1, thuộc Đoàn luật
Thành phố H (có).
Cùng địa chỉ: Văn phòng L1, Số A đường C, Phường E, Quận C, Thành
phố Hồ Chí Minh.
2
- Bị đơn: Công ty TNHH C; Địa chỉ: C-2A-CN, KCN M, phường T,
thị xã B, tỉnh Bình Dương;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Kim J - Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn:
+ Trần Thị Hằng N1; Địa chỉ: Số D đường L, phường B, quận B, Thành
phố Hồ Chí Minh (có mặt).
+ Ông Đặng Trần P (vắng mặt);
+ Ông Nguyễn Trung Q (có mặt).
Cùng cư trú tại: F V, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Bùi Anh Đ, sinh m 1991;
địa chỉ: Số A A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt).
- Người kháng cáo:
1. Nguyên đơn: Công ty PTC Inc.
2. Bị đơn: Công ty TNHH C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, đơn sửa đổi đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại
phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn, Nguyễn Minh H trình
bày:
Công ty P1 (sau đây viết tắt Công ty P1) địa chỉ tại A S, B, MA B,
Hoa K là chủ sở hữu quyền tác giả toàn quyền với tất cả các phần mm và phiên
bản phần mềm PTC Creo (tên cũ là: PRO/ENGINEER, Pro/E W) được tạo ra và
phân phối bởi Công ty P1., bao gồm cả phiên bản phần mềm phiên bản PTC Creo
Parametric 3.0 được đăng ký bản quyền tại Hoa Kỳ theo Giấy chứng nhận đăng
bản quyền phần mềm số TX 8-041-376.
Ngày 12/3/2019, Đoàn Thanh tra liên ngành Bộ V1 đã tiến hành kiểm tra
34 máy tính đang hoạt động tại Công ty TNHH C (sau đây viết tắt là Công ty C1)
phát hiện Công ty C1 sao chép, sử dụng tác phẩm (phần mềm máy nh) của
Công ty P1, cụ thể: 01 bản phần mềm PTC Creo Parametric 3.0 không được
phép của Công ty P1, chủ sở hữu quyền tác giả.
Đoàn Thanh tra liên ngành đã lập biên bản vi phạm hành chính về quyền
tác giả, quyền liên quan đối với hành vi vi phạm hành chính ca Công ty C1, cụ
thể là: Sao chép tác phẩm (phần mềm máy tính) mà không được phép của chủ sở
hữu quyền tác giả theo quy định tại khoản 1 Điều 18 Nghị định số 131/2013/NĐ-
CP ngày 16/10/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về
quyền tác giả, quyền liên quan. Tại biên bản vi phạm hành chính này, Công ty C1
thừa nhận có lỗi vi phạm như được ghi nhận tại biên bản.
Ngày 15/3/2019, Chánh thanh tra Bộ V1 ra Kết luận thanh tra số 22/KL-
TTr kết luận Công ty C1 đã có hành vi sao chép tác phẩm (phần mm máy tính)
3
không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả, bao gồm phần mm nêu
trên của Công ty P1.
Quá trình giải quyết hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với phần mềm
máy tính ca Công ty C1 thông qua con đường tự thương lượng, hòa giải ca các
chủ sở hữu quyền tác giả.
Ngày 18/3/2019, đại diện theo y quyền của Công ty C1 là Văn phòng luật
A H1 đã gửi Văn thư số 352-19/LS-KN đến ng ty C1 thông báo đề xuất của
Công ty P1 về việc giải quyết trách nhiệm dân sự của Công ty C1 do hành vi vi
phạm bản quyền phần mm máy tính bằng các biện pháp bao gồm:
- Công ty C1 mua bản mô đun phần mềm PTC Creo có bản quyền thay thế
cho phần mềm trái phép bị tìm thấy.
- Chấp thuận sự giám sát của Công ty P1 trong thời hạn 02 năm kể từ ngày
việc vi phạm quyền tác giả đối với phần mềm của Công ty P1 được giải quyết
xong, thực hiện 01 lần việc kiểm toán các phần mềm để đảm bảo trong các máy
tính của Công ty C1 không có các phần mềm của Công ty P1 bị sao chép, cài đặt
không phép. Lịch trình kiểm toán các phần mm sẽ được thông báo trước đến
Công ty C1.
Đồng thời, yêu cầu Công ty C1 cho biết ý kiến về đề xuất của Công ty P1,
đề xuất một cuộc họp với đại diện thẩm quyền của Công ty C1 vào ngày
22/3/2019 để giải quyết trách nhiệm dân sự của hành vi vi phạm quyền tác giả đối
với phần mềm máy tính.
Ngày 19/3/2019, Công ty C1 gửi email thông báo vì người có trách nhiệm
xử vụ việc của ng ty C1 không mặt tại công ty nên không thể tham dự
cuộc họp với Văn phòng L1 theo thời gian đề xuất và đề nghị dời ngày họp sang
ngày 26/3/2019.
Ngày 26/3/2019, mặc đại diện Công ty C ông Yang Jang K - Tổng
quản lý ông Tăng Anh K1 - nhân viên IT có đến Văn phòng đại diện của Công
ty P1 để gặp đại diện Công ty P1 Luật Nguyễn Minh H - đại diện pháp
theo ủy quyền của Công ty P1 tại Việt Nam nhưng cuộc họp thương lượng không
thể thực hiện được do ông Yang Jang K đã thhiện thái đthiếu tôn trọng đối với
Công ty P1 và bỏ về ngay lập tức sau khi nêu 02 ý kiến:
+ Ông Yang Jang K cho rằng Công ty P1 đã thô lỗ gọi Công ty C1 đến Văn
phòng PTC chỉ để giải quyết vụ việc vớ vẩn do cá nhân sử dụng phần mềm PTC
Creo không phép chCông ty C1 không sử dụng, điều đó làm mất thời gian của
ông Y Jang Keun khi tiền lương của ông được trả theo giờ rất cao.
+ Laptop cài đặt phần mm PTC Creo không phép là laptop cá nhân,
không phải Công ty C1 trang bị. vậy, đây lỗi của nhân viên không phải lỗi
của Công ty C1. Do đó, Công ty C1 không thể mua phần mềm PTC Creo để giải
quyết vụ việc.
Ngày 03/4/2019, Văn phòng L1 gửi Văn thư số 392-19/LS- KN đến Công
ty C1 thông báo các ý kiến của Công ty P1 để giải quyết vụ việc vi phạm bản
4
quyền bằng biện pháp thương lượng. Tại công văn này, Văn phòng Luật A
H1 đã thông báo giá trị của 01 bản PTC Creo Parametric 3.0 bị Công ty C1 sử
dụng không phép là 464.860 USD. Đây là giá trị bồi thường nếu Công ty P1 yêu
cầu Tòa án giải quyết. Để giải quyết vụ việc vi phạm bằng biện pháp thương
lượng, đàm phán, Văn phòng L1 đã thông báo đề xuất của Công ty P1 gồm hai
nội dung mua bản quyền phần mềm thanh toán một khoản tiền cho việc sử
dụng trong quá khứ thể hiện ở bảng dưới đây:
STT
Tên sản phẩm
Số lượng
Giá trị, USD
1
PTC Creo Design Subseription
License
01
63.000
2
Khoản tiền cho việc sử dụng
không phép phần mềm PTC Creo trong
quá khứ
01
63.680
Tổng cộng
126.680
(Bằng chữ: Một trăm hai mươi sáu nghìn sáu trăm tám mươi Đô la Mỹ)
Văn phòng Luật A H1 đã đề nghị Công ty C1 cần gửi ý kiến phản hồi
chậm nhất vào ngày 08/4/2019.
Ngày 11/4/2019, Văn phòng L1 gửi Văn thư số 478-19/LS- KN đến Công
ty C1 để thông báo rằng ngoài Công ty P1, các công ty phần mềm khác thành
viên của Liên minh phần mềm doanh nghiệp (The Softwware Alliance, gọi tắt là
BSA) có phần mềm bị Công ty C1 sử dụng trái phép bị phát hiện trong quá trình
thanh tra theo Kết luận thanh tra số 22/KL-TTr ngày 15/3/2019 cũng thông qua
Văn phòng Luật sư A H1 yêu cầu Công ty C1 giải quyết trách nhiệm dân sự phát
sinh từ hành vi vi phạm quyền tác giả đối với chương trình máy tính. Tại công
văn này, Văn phòng Luật A H1 tiếp tục đề xuất làm việc vào ngày 18/4/2019
với đại diện Công ty C1 giải quyết vụ việc.
Ngày 12/4/2019, Công ty C1 gửi email thông báo yêu cầu Văn phòng L1
làm việc trực tiếp với ng ty L2 Công ty C1 ủy thác việc giải quyết vụ việc
cho Công ty này.
Ngày 17/9/2019, Văn phòng L1 gửi Văn thư số 1214-19/LS- KN đến Công
ty C1 tiếp tục đề nghị làm việc ngày 23/9/2019 để trao đổi, tìm ra phương án giải
quyết vụ việc.
Đến ngày 23/9/2019, Công ty L2 đại diện Luật Nguyễn Anh D theo
ủy quyền của Công ty C1 đã tham gia buổi làm việc với V2 nhưng ch yếu là tìm
hiểu vyêu cầu giải quyết vụ việc từ các công ty phần mm không tiến
triển gì về việc giải quyết trách nhiệm dân sự bằng biện pháp thương lượng.
5
Đến nay, mặc đã nhiều lần liên hệ với Công ty C1 để giải quyết dứt
điểm vụ việc nhưng Công ty C1 không hợp tác với do Công ty C1 không
nhu cầu sử dụng phần mềm PTC Creo và cũng từ chối giải quyết vụ việc với các
công ty phần mềm khác là thanh viên của BSA.
Từ những sự việc và diễn biến nêu trên có thể thấy rằng nguyên đơn đã cố
gắng thuyết phục, hòa giải, thương lượng để giải quyết tranh chấp nhưng Công ty
C1 vẫn cố tình không hợp tác để giải quyết sự việc.
Do đó, để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình, căn cứ Điều 198 202,
204, 205 của Luật Sở hữu trí tuệ, nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Buộc Công ty TNHH C chấm dứt hành vi vi phạm quyền tác giả đối với
phần mềm máy tính của Công ty P1, loại bỏ phần mềm không bản quyền ra
khỏi máy tính;
- Buộc Công ty TNHH C phải bồi thường thiệt hại cho Công ty P1 số tiền
464.860 USD tương đương với số tiền 10.798.697.800 đồng (Mười tỷ bảy trăm
chín mươi tám triệu sáu trăm chín mươi bảy nghìn tám trăm đồng);
- Buộc Công ty TNHH C xin lỗi công khai 03 kliên tiếp trên ít nhất ba tờ
báo phổ biến của Việt Nam B, B1 bằng Tiếng Việt B2 bằng tiếng Anh về
hành vi xâm phạm quyền tác giả của Công ty P1;
- Buộc Công ty TNHH C cam kết rằng tất cả các bản sao Phần mềm máy
tính của Công ty P1 do Công ty TNHH C chiếm hữu, sử dụng trong tương lai sẽ
phải là phần mềm đã được cấp bản quyền cho bị đơn và các phần mềm đó sẽ chỉ
được cài đặt và khai thác công năng sử dụng theo đúng với phạm vi bản quyền đã
được cấp phép cho phần mềm máy tính đó,
- Buộc ng ty TNHH C phải chịu toàn bộ án phí, lệ phí cũng như các
khoản chi phí khác để giải quyết vụ việc thông qua Tòa án.
Ngày 08/9/2020, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn đơn sửa đổi
đơn khởi kiện, xin rút các yêu câu:
- Buộc Công ty TNHH C chấm dứt hành vi vi phạm quyền tác giả đối với
phần mềm máy tính của Công ty P1, loại bỏ phần mềm không bản quyền ra
khỏi máy tính;
- Buộc Công ty TNHH C cam kết rằng tất cả các bản sao Phần mềm máy
tính của Công ty P1 do Công ty TNHH C chiếm hữu, sử dụng trong tương lai sẽ
phải là phần mềm đã được cấp bản quyền cho bị đơn và các phần mềm đó sẽ chỉ
được cài đặt và khai thác công năng sử dụng theo đúng với phạm vi bản quyền đã
được cấp phép cho phần mm máy tính đó;
- Buộc ng ty TNHH C phải chịu toàn bộ án phí, lệ phí cũng như các
khoản chi phí khác để giải quyết vụ việc thông qua Tòa án.
Giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, như sau:
6
- Buộc Công ty TNHH C phải bồi thường thiệt hại cho Công ty P1 số tiền
464.860 USD tương đương với số tiền 10.798.697.800 đồng (Mười tỷ bảy trăm
chin mươi tám triệu sáu trăm chin mươi bảy nghìn tám trăm đồng).
- Buộc Công ty TNHH C xin lỗi công khai 03 kliên tiếp trên ít nhất ba tờ
báo phổ biến của Việt Nam B, B1 bằng Tiếng Việt B2 bằng tiếng Anh về
hành vi xâm phạm quyền tác giả của Công ty P1 Inc.
Quá trình tố tụng, người đại diện hợp pháp của bị đơn Công ty TNHH C
trình bày:
ng ty TNHH C (Công ty C1) không đồng ý toàn bộ nội dung khởi kiện
của Công ty P1 vì các do sau:
Thứ nhất, Công ty C1 không cài đặt sử dụng phần mềm PTC Creo
Parametric 3.0 cũng như không vi phạm quyền tác giả đối với phần mềm máy tính
của Công ty P1.
Được biết, phần mềm PTC Creo là một phần mềm thiết kế cơ khí phục vụ
chủ yếu cho ngành chế tạo máy. Công ty C1 hoạt động chính trong lĩnh vực gia
công, sản xuất các phụ tùng xe hơi (nhãn hiệu xe Hyundai, xe KIA....) (được ghi
nhận trong Giấy chứng nhận đăng đầu tư) cho khách hàng đến từ hai nguồn
chủ yếu là Công ty C2., L (Công ty mẹ Hàn Quốc) các công ty thành viên
(chiếm 80% tổng đơn hàng) khách hàng trong nước (chiếm 20% tổng đơn
hàng). Do sản phẩm sản xuất của Công ty C1 các phụ tùng của các hãng xe hơi
nổi tiếng trên thế giới nên Công ty C1 phải sản xuất theo bản vẽ thiết kế của các
hãng xe này do công ty mẹ, các công ty thành viên khách hàng cung cấp chứ
không được tự thiết kế để sản xuất. Do đó, Công ty C1 không có bộ phận thiết kế
cũng như nhu cầu cài đặt các phần mềm thiết kế (cụ thể phần mềm PTC
Creo) để tự thiết kế sản phẩm sử dụng cho bất kỳ mục đích nào.
Thứ hai, Phần mềm PTC Creo Parametric 3.0 do nhân viên cài đặt sử
dụng ở laptop cá nhân cho mục đích cá nhân.
Tại Biên bản thanh tra ngày 12/3/2019, Thanh tra Bộ V1 đã xác định 01
phần mềm PTC Creo Parametric 3.0 đã được sao chép trong Công ty C1. Tuy
nhiên trên thực tế, phần mềm này được cài đặt trong máy tính nhân của anh
Bùi Anh Đ nhân viên của Công ty C1 chứ không phải được cài đặt trong máy
tính thuộc tài sản của Công ty C1.
Trong buổi làm việc với thanh tra, ông Bùi Anh Đ ng đã xác nhận phần
mềm PTC Creo Parametric 3.0 đã được cài đặt trong laptop cá nhân hãng Del của
ông. Tại Bản tường trình, ông Bùi Anh Đ trình bày do tham gia học thiết kế
sản phẩm cơ khí ở bên ngoài công ty, nên đã cài đặt phần mềm này với mục đích
nghiên cứu của mình. Ngày 12/3/2019, ông Bùi Anh Đ tiết học nên đã mang
theo laptop cá nhân đê tiện tham gia lớp học sau giờ làm. Việc cài đặt phần mềm
này không nhằm mục đích thực hiện bất kỳ công việc nào của Công ty C1.
Đồng thời, Công ty C1 cũng đã có trình bày với Đoàn thanh tra là ông Bùi
Anh Đ tự ý cài đặt phần mềm PTC Creo Parametric 3.0 vào máy tính cá nhân và
7
Công ty C1 không biết việc cài đặt này nhưng Đoàn thanh tra đã không ghi
nhận vấn đề này vào biên bản ngày 12/3/2019.
Bên cạnh đó, ông Bùi Anh Đ nhân viên thuộc phòng nghiên cứu và phát
triển (R&D) của công ty. Công ty lập Phòng R&D để nghiên cứu cải tiến chất
lượng sản phẩm, sử dụng vật liệu phù hợp và tốt hơn, nghiên cứu và phát triển thị
trường. Bộ phận này không có chức năng thiết kế.
Thứ ba, Biên bản vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan
ngày 12/3/2019 chưa ghi nhận đầy đủ sự việc. Ông Bùi Anh Đ đã cài đặt phần
mềm PTC Creo Parametric 3.0 vào máy tính nhân của ông Đ nhưng tại biên
bản làm việc với Đoàn thanh tra đã không thể hiện nội dung này mặc dù Công ty
C1 có trình bày sự việc.
Bên cạnh đó, ngày 12/3/2019, nhân viên phiên dịch tiếng Hàn của Công ty
C1 xin nghỉ phép. Phạm Nguyễn Quế T nhân viên kiểm soát sản phẩm đã
thay thế nhân viên phiên dịch để dịch nội dung nêu trong Biên bản thanh tra
Biên bản vi phạm hành chính cho ông Yang Jang K. Do bà T không phải là nhân
viên phiên dịch và tiếng Hàn của T bị hạn chế nên đã dịch không chính xác nội
dung biên bản nên ông Yang J1 Keun hiểu nhầmcác Biên bản này ghi nhận s
việc Đoàn thanh tra phát hiện có phần mềm PTC Creo Parametric 3.0 tại Công ty
C1 nên yêu cầu phía công ty xác nhận. Nếu tại thời điểm các biên bản này, ông
Yang J1 Keun hiểu nội dung trong các biên bản thhiện công ty C1 cài đặt
phần mềm PTC Creo Parametric 3.0 vào máy tính của Công ty C1 tchắc chắn
rằng ông Yang Jang K sẽ không vào các biên bản đó do nội dung đó không
đúng sự thật, Công ty C1 không cài đặt phần mềm này.
Từ những phân tích trên, Công ty C1 khẳng định Công ty không cài đặt
phần mềm PTC Creo Parametric 3.0 vào máy tính của Công ty để sử dụng cho bất
kỳ mục đích nào của Công ty mà ông Bùi Anh Đ đã tự ý cài đặt phần mềm PTC
Creo Parametric 3.0 vào máy tính cá nhân ca ông Đ để sử dụng vào mục đích
nhân của mình. Công ty C1 không bộ phận thiết kế cũng như không nhu cầu
sử dụng phần mềm PTC Creo Parametric 3.0 100% sản phẩm công ty sản
xuất là phụ tùng xe hơi phải theo phần mềm thiết kế của khách hàng. Do đó, việc
Công ty P1 khởi kiện ng ty C1 cho rằng Công ty C1 đã vi phạm quyền tác
giả do cài đặt phần mềm PTC Creo Parametric 3.0 không sở. vậy,
Công ty C1 không đồng ý bồi thường cho Công ty P1 không thực hiện bất kỳ
yêu cầu nào nêu đưa ra trong đơn khởi kiện.
Quá trình tố tụng, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Anh Đ
có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, nội dung:
Do bận công việc, ông Đ xin được vắng mặt trong suốt qtrình tố tụng tại
Tòa án các cấp. Ngoài ra, ông Đ không còn trách nhiệm nghĩa vụ liên quan đến
Công ty C1. Ý kiến về vụ án: Ông Đ không trách nhiệm liên quan trong việc
Công ty C1 bị xử phạt về việc sử dụng phần mềm PTC Creo 3.0. Ông Đ không có
ý kiến về việc khởi kiện giữa Công ty P1 với bị đơn Công ty C1 trong vụ án
nêu trên.
8
* Tại phiên tòa thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn xin rút
một phần yêu cầu khởi kiện đối với phần bồi thường thiệt hại, cụ thể: Buộc Công
ty TNHH C phải bồi thường thiệt hại cho Công ty P1 số tiền 10.000.000.000đ
(mười tỷ đồng).
Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2020/KDTM-ST ngày 30
tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đã quyết định:
Căn cứ vào Điều 30, 37, 38, 39, 147, 217, 228, 235, 266 Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2015; căn cứ Điều 18, 20, 24, 27, 28, 198, 200, 202, 204 và Điều 205
Luật Sở hữu trí tuệ; căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, giảm, nộp, quản
lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Đình chỉ đối với các yêu cầu:
1.1 Buc Công ty TNHH C chấm dứt hành vi vi phạm quyền tác giả đối
với phần mềm máy tính của Công ty P1, loại bỏ phần mềm không bản quyền
ra khỏi máy tính.
1.2 Buộc Công ty TNHH C cam kết rằng tất cả các bản sao Phần mềm máy
tính của Công ty P1 do Công ty TNHH C chiếm hữu, sử dụng trong tương lai sẽ
phải là phần mềm đã được cấp bản quyền cho bị đơn và các phần mềm đó sẽ chỉ
được cài đặt và khai thác công năng sử dụng theo đúng với phạm vi bản quyền đã
được cấp phép cho phần mềm máy tính đó.
1.3 Buộc Công ty TNHH C phải chịu toàn bộ án phí, lệ phí cũng như các
khoản chi phí khác để giải quyết vụ việc thông qua Tòa án.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty P1 về
việc “Tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ bồi thường thiệt hại” đối với bị đơn Công
ty TNHH C.
2.1 Buộc Công ty TNHH C phải bồi thường thiệt hại cho Công ty P1 số tiền
500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng).
2.2 Buộc Công ty TNHH C1 phải xin lỗi công khai 03 kỳ liên tiếp trên ít
nhất ba tờ báo phổ biến của Việt Nam B, B1 bằng Tiếng Việt và B2 bằng tiếng
Anh về hành vi xâm phạm quyền tác giả của Công ty P1.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên lãi suất chậm thi hành án, về án phí,
trách nhiệm thi hành án và quyền kháng cáo của đương sự theo quy định của pháp
luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 12/10/2020, đại diện ủy quyền của nguyên
đơn Nguyễn Minh H đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa
bản án thẩm, buộc Công ty TNHH C bồi thường thiệt hại cho Công ty P1 số
tiền 10.000.000.000 đồng.
9
Ngày 13/10/2020, bị đơn Công ty TNHH C đơn kháng cáo yêu cầu Tòa
án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Công ty P1 (có đại diện Nguyễn Minh H) thay đổi yêu cầu kháng cáo:
Nguyên đơn kháng cáo một phần Bản án sơ thẩm liên quan đến bồi thường thiệt
hại. Theo quy định tại thông tư số 02 và các quy định khác của pháp luật, dựa vào
thiệt hại thực tế, nguyên đơn đề nghị bị đơn bồi thường 2.184.019.500 đồng chứ
không phải 10.000.000.000 đồng như tại cấp sơ thẩm.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn Luật Nguyễn
Nhật Thùy V trình bày: Việc kiểm tra về phần mềm diễn ra vào ngày 12/3/2019;
ngày 13/3/2019, công ty có yêu cầu ông Đ làm bản tường trình. Ngày 15/3/2019
quan thanh tra mới ban hành biên bản kiểm tra. Nên, Công ty C thời gian
để khiếu nại nhưng hoàn toàn không làm việc này. Việc kiểm tra của ban thanh
tra là trong giờ hành chính. Theo quy định của bộ luật Lao động thì Công ty phải
quản nhân viên trong giờ làm việc. Nên, ông Đ làm việc tại trụ sở công ty, trong
giờ làm việc hành chính thì công ty C phải chịu trách nhiệm cho việc này. Việc
sao chép phần mềm theo quy định thì ràng công ty C1 đã vi phạm. Mặt khác,
quy định thì việc bồi thường thiệt phải dựa vào thiệt hại trên thực tế nên nguyên
đơn mới giảm số tiền yêu cầu bồi thường thiệt hại dựa theo hợp đồng thực tế tương
tự về việc bán bản quyền phần mềm giữa công ty P1 với một công ty làm việc
trong lĩnh vực sản xuất linh kiện ô khác. Nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp
nhận kháng cáo của nguyên đơn, sửa một phần Bản án thẩm về phần số tiền
bồi thường thiệt hại.
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn Trần Thị Hằng N1 trình bày: Theo
như bị đơn trình bày tại đơn kháng cáo, 02 phần mm của ông Đ đã cài đặt vào
máy phần mềm nguyên đơn dựa vào để đối chiếu tương tự không giống
nhau. Thêm vào đó, việc ông Đ cài đặt phần mềm trong vòng 09 tháng nhưng
nguyên đơn lại đưa ra một hợp đồng mua bán phần mềm trong vòng 03 năm
không phù hợp.
H trình bày: Tên phần mềm sự khác biệt do ông Đ cài đặt phần
mềm toàn bộ modurn, còn Công ty P1 bán ra theo hợp đồng mua bán chỉ một
phần tác phẩm. Việc thời gian ông Đ sử dụng là không có ý nghĩa gì đối với việc
thuê phần mềm, việc sử dụng của người sử dụng trong thời gian thuê bao nhiêu
lần là không giới hạn.
N1 trình bày tranh luận: Phần mềm của Công ty P1 rất nhiều phiên
bản, hợp đồng mua bán phần mềm của công ty không nêu phiên bản nào.
Việc nguyên đơn trình bày việc Công ty C1 vi phạm toàn bộ modurn nhưng không
thể chứng minh được. Nên việc nguyên đơn đưa ra giá cho phần mm này không
phù hợp.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát
biểu quan điểm giải quyết vụ án:
10
Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử Tòa án đã
tiến hành đúng quy định của pháp luật; tại phiên tòa người tham gia tố tụng chấp
hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Việc thanh tra thể hiện thực tế bị đơn sdụng trái
phép phần mềm của các công ty phần mềm, việc sao chép của bị đơn chưa được
công ty P2 đồng ý. Công ty C cho rằng máy tính sao chép máy tính cá nhân của
ông Đ nhưng lại không khiếu nại đối với biên bản vi phạm hành chính. Theo biên
bản vi phạm thể hiện trong 34 máy tính hành vi sao chép trái phép phần
mềm của ng ty C1 phần mềm của ng ty P1 nên công ty C phải chịu trách
nhiệm về việc này. Việc kháng cáo của nguyên đơn theo thiệt hại thực tế xảy ra,
dựa trên một hợp đồng kinh tế mua bán bản quyền tương tự là có căn cứ. Nên, đề
nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, buộc bị đơn phải bồi
thường số tiền 2.184.019.500 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm, ý kiến của các
đương sự, quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Đơn kháng cáo của ng ty P1 Công ty TNHH C còn trong hạn
luật định và hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[1.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông
Bùi Anh Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không
do. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 tiến
hành xét xử v án.
[2] Về nội dung:
[2.1] Công ty P1 (có địa chtrụ sở tại Hoa Kỳ) là chủ sở hữu quyền tác giả
toàn quyền với tất cả các phần mềm và phiên bản phần mềm PTC Creo (tên cũ
PRO/ENGINEER, Pro/E Wildfire) được tạo ra và phân phối bởi Công ty P1., bao
gồm cả phiên bản phần mềm phiên bản PTC Creo Parametric 3.0 được đăng
bản quyền tại Hoa Kỳ theo Giấy chứng nhận đăng bản quyền phần mềm số TX
8-041-376.
Thực hiện Quyết định số 65/QĐ-TTr ngày 05/3/2019 của Chánh Thanh tra
Bộ V1 vviệc chấp hành các quy định của pháp luật về quyền tác giả đối với
chương trình phần mềm máy tính; Ngày 12/3/2019 Đoàn Thanh tra liên ngành Bộ
V1 đã tiến hành thanh tra trực tiếp tại Công ty TNHH C; Theo đó khi tiến hành
kiểm tra 34 máy tính đang hoạt động thì phát hiện ng ty C đã hành vi sao
chép các chương trình phần mềm máy tính không được phép của chủ sở hữu
quyền tác giả, trong đó 01 máy tính của Công ty C sdụng bản phần mềm PTC
Creo Parametric 3.0 mà không được phép của chủ sở hữu là Công ty P1.
11
Tại Biên bản thanh tra ngày 12/3/2019 đại diện của ng ty C1 là
ông Yang Jang K đã vào biên bản (BL246-247), thể hiện: Công ty C thừa nhận
hành vi sao chép, sử dụng tác phẩm (chương trình phần mềm máy tính)
không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả là vi phạm pháp luật về sở hữu t
tuệ, Công ty cam kết sẽ chấm dứt hành vi vi phạm...Công ty N2 với nội dung biên
bản thanh tra.
Tại Biên bản vi phạm hành chính ngày 12/3/2019 có đại diện của ng ty
C1 ông Yang Jang K người phiên dịch tiếng Hàn Quốc cho Công ty là
Phạm Nguyễn Quế T vào biên bản, thể hiện: Công ty C thừa nhận lỗi vi
phạm về hành vi sao chép, sử dụng tác phẩm (chương trình phần mềm máy tính)
không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả vi phạm pháp luật về sở hữu
trí tuệ theo khoản 1 Điều 18 Nghị định 131/2013/NĐ-CP ngày 16/10/2013 của
Chính phủ.
Ngày 15/3/2019, Chánh Thanh tra Bộ V1 ban hành Quyết định số 20/QĐ-
XPVPHC, xphạt vi phạm hành chính đối với Công ty C về hành vi Sao chép
tác phẩm (chương trình phần mềm máy tính) không được phép của chủ shữu
quyền tác giả” với số tiền phạt 30.000.000 đồng và yêu cầu Công ty C chấm dứt
hành vi vi phạm, dỡ bỏ ngay bản sao chương trình phần mm máy nh mà không
được phép của chủ sở hữu quyền tác giả.
Quá trình giải quyết vụ án, đại diện Công ty C trình bày Công ty đã nộp
tiền phạt theo Quyết định xử phạt vi phạm hàn chính nêu trên; đng thời Công ty
C1 không có bất kỳ khiếu nại hay khởi kiện đối với Quyết định xử phạt vi phạm
hành chính; Quyết định s20/QĐ-XPVPHC về xử phạt vi phạm hành chính đối
với Công ty C1 đã có hiệu lực pháp luật.
Do đó, Công ty C1 kháng cáo cho rằng việc cài đặt phần mm PTC Creo
Parametric 3.0 vào máy tính là do ông Đ (nhân viên công ty) tự cài đặt vào máy
tính cá nhân của ông Đ để phục vụ mục đích cá nhân của ông Đ, ông Đ không sử
dụng phần mềm y để phục vụ công việc của công ty; mặt khác, ngành nghề kinh
doanh của công ty là gia công, sản xuất phụ tùng xe hơi theo đơn đặt hàng bảng
vẽ thiết kế sẵn của các hãng xe nên công ty không nhu cầu sử dụng phần
mềm PTC Creo Parametric 3.0 của Công ty P1; đề nghị bác toàn bộ yêu cầu khởi
kiện của Công ty P1 là không có cơ sở chấp nhận.
[2.2] Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, Công ty P1 yêu cầu Công
ty C1 bồi thường giá chuyển giao công nghệ phần mềm PTC Creo Parametric 3.0
là 10.000.000.000 đồng. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện của công ty
P1 thay đổi yêu cầu buộc công ty C bồi thường số tiền 2.184.019.500 đồng, dựa
trên các hợp đồng thương mại bán giấy phép sử dụng phần mềm căn cứ theo nhu
cầu của người sử dụng (chỉ mua các gói mô đun là một phần của phiên bản phần
mềm được phát hành). Cụ thể, đối với Hợp đồng kinh tế ngày 26/11/2019 được
kết giữa Công ty TNHH P2 với Công ty TNHH S1 do nguyên đơn cung cấp
(để làm căn cứ cho thiệt hại vật chất có thể thấy được) thể hiện giá bán phần mềm
PTC Creo Parametric bản quyền 3 năm với đơn giá 2.184.019.500 đồng. Tuy
12
nhiên giá này bán cho Công ty sử dụng trong 03 năm được cài đặt vào
các máy tính của Công ty S1; Hợp đồng không nói rõ là Công ty P2 cài đặt phần
mềm cho bao nhiêu máy tính, cài đặt nguyên bộ sản phẩm PTC Creo Parametric
hay chỉ một bộ phận PTC Creo Parametric cài đặt phần mềm PTC Creo
Parametric phiên bản 2016 hay phiên bản sau 2016. Còn đối với trường hợp của
bị đơn chỉ duy nhất 01 máy tính (User name Bùi Anh Đ) cài đặt phần mm
PTC Creo Parametric 3.0 (phiên bản 2016) vào ngày 01/8/2018 đến ngày
05/3/2019 bị thanh tra phát hiện lập biên bản (khoảng 7 tháng) nên việc nguyên
đơn cung cấp hợp đồng kinh tế nêu trên để yêu cầu tuyên buộc bị đơn bồi thường
thiệt hại với số tiền 2.184.019.500 đồng là không phù hợp, không có căn cứ chấp
nhận.
Do nguyên đơn không chứng minh được thiệt hại vật chất thực tế xảy ra
nên Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ điểm c khoản 1 Điều 205 Luật sở hữu trí tuệ quy
định: Trong trường hợp không thể xác định được mức bồi thường thiệt hại về vật
chất theo c căn cứ quy định tại điểm a điểm b khoản này thì mức bồi thường
thiệt hại về vật chất do Toà án ấn định, tuthuộc vào mức độ thiệt hại, nhưng
không quá m trăm triệu đồng”, để tuyên buộc bị đơn bồi thường thiệt hại với
số tiền 500.000.000 đồng cho nguyên đơn; Đồng thời, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ
khoản 2 Điều 202 Luật sở hữu trí tuệ quy định Toà án áp dụng các biện pháp
dân ssau đây đxử lý tổ chức, cá nhân hành vi xâm phạm quyền shữu trí
tuệ:....Buộc xin lỗi, cải chính công khaiđể chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn về việc buộc bị đơn xin lỗi công khai 03 kỳ liên tiếp trên ít nhất 03 tờ
báo của Việt Nam B, B1 bằng tiếng Việt B2 bằng tiếng Anh về hành vi sử
dụng bản phần mềm PTC Creo Parametric 3.0 mà không được phép của nguyên
đơn là đúng quy định của pháp luật.
Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy không căn cứ đ
chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bị đơn; Quan điểm của đại diện Viện
kiểm sát đnghị chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn không có căn cứ nên
không được chấp nhận.
[3] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên nguyên đơn và bị
đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm theo Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[4] Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 18, 20, 24, 27,
28, 198, 200, 202, 204 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ; căn cứ Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa
14 quy định về mức thu, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
13
Tuyên xử:
Không chấp nhận kháng cáo của Công ty P1 Công ty TNHH C. Giữ
nguyên bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm s 01/2020/KDTM-ST ngày
30/9/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
1. Đình chỉ đối với các yêu cầu:
1.1 Buc Công ty TNHH C chấm dứt hành vi vi phạm quyền tác giả đối
với phần mềm máy tính của Công ty P1, loại bỏ phần mềm không bản quyền
ra khỏi máy tính.
1.2 Buộc Công ty TNHH C cam kết rằng tất cả các bản sao Phần mềm máy
tính của Công ty P1 do Công ty TNHH C chiếm hữu, sử dụng trong tương lai sẽ
phải là phần mềm đã được cấp bản quyền cho bị đơn và các phần mềm đó sẽ chỉ
được cài đặt và khai thác công năng sử dụng theo đúng với phạm vi bản quyền đã
được cấp phép cho phần mềm máy tính đó.
1.3 Buộc Công ty TNHH C phải chịu toàn bộ án phí, lệ phí cũng như các
khoản chi phí khác để giải quyết vụ việc thông qua Tòa án.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty P1 về
việc Tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ bồi thường thiệt hạiđối với bị đơn
Công ty TNHH C.
2.1 Buộc Công ty TNHH C phải bồi thường thiệt hại cho Công ty P1 số tiền
500.000.000đ (năm trăm triệu đồng).
2.2 Buộc Công ty TNHH C1 phải xin lỗi công khai 03 kỳ liên tiếp trên ít
nhất ba tờ báo phổ biến của Việt Nam B, B1 bằng Tiếng Việt và B2 bằng tiếng
Anh về hành vi xâm phạm quyền tác giả của Công ty P1.
Kể từ ngày người được thi hành án đơn yêu cầu thi nh án người
phải thi hành án chậm thực hiện việc trả số tiền nêu trên thì hàng tháng người
phải thi hành án còn phải trả thêm tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 B
luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều
2 Luật Thi hành án dân sthì người được thi hành án, người phải thi hành án
được quyền tự nguyện thi hành án, thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án
hoặc b ỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật
Thi hành án dân sự.
3. Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Nguyên đơn – Công ty P1
và bị đơn Công ty TNHH C, mỗi đương s phải chịu 2.000.000 đồng; được khấu
trừ vào tiền tạm ng án phí đã nộp theo các biên lai thu số 0044786 ngày
12/10/2020 0044810 ngày 13/10/2020 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình
Dương.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
14
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN T
Nguyễn Văn Khương Nguyễn Thị Thúy Hòa
Lê Văn An
Tải về
Bản án số 54/2023/KDTM-PT Bản án số 54/2023/KDTM-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất