Bản án số 53/2024/HS ngày 06/03/2024 của TAND tỉnh Thanh Hóa

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 53/2024/HS

Tên Bản án: Bản án số 53/2024/HS ngày 06/03/2024 của TAND tỉnh Thanh Hóa
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Thanh Hóa
Số hiệu: 53/2024/HS
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 06/03/2024
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Giết người
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH THANH HOÁ
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 68/2024/HS-ST.
Ngày: 03-4-2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH H
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:Lê Thị Tố N
Thẩm phán: Lê Thị Phương Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trọng Thúy
Ông Nguyn Danh Lơi
Ông Đầu Khắc Dinh
Thư phiên toà: Ông Nguyễn Phạm Trí Đôn - Thư ký Tòa án nhân n
tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà:
Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá, xét
xử thm công khai vụ án hình sự thụ số: 299/2023/TLST-HS ngày
25/12/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/QĐXXST-HS ngày
09/01/2024 Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2024/HS-QĐ ngày 26/01/2024;
Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2024/HS-QĐ ngày 26/02/2024; Quyết định hoãn
phiên tòa số 20/2024/HS-QĐ ngày 20/3/2024 đối đối với các bị cáo:
1. Họ n: Lê Thanh B; Sinh m 1983 tại huyện Thiệu a, tỉnh
Thanh a; i ĐKHKTT i hiện nay: Tn XN, TD, huyện TH,
tỉnh Thanh Hóa; Giới tính: Nam; n tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; n
giáo: Không; Trình đ n a: 7/12; Nghề nghiệp: Lao đng t do; Con ông:
Lên H; Sinh năm 1961; Con: Lê Th H1; Sinh năm 1962; Gia đình có 03 anh
em, bcáo con đu; V : Trần ThC, sinh m 1985; Nghề nghiệp: Lao
động tdo; bcáo có 02 con, con lớn sinh m 2008, con nhỏ sinh m 2012;
Tiền án, tiền sự: Kng. Bị cáo cháu ruột của bi cáo n H2.
Bcáo bbắt tm giam từ ngày 20/4/2023, đang btm giam tại Tri tạm
giam Công an tỉnh Thanh a. Hiện có mặt tại phiên tòa.
2. Họ tên: Lê Văn T; Sinh m 1989 ti huyện Thiệu a, tnh Thanh
a; i ĐKHKTT và i hiện nay: Thôn XN, xã TD, huyện TH, tỉnh
Thanh Hóa; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; n giáo:
Kng; Trình đ n a: 6/12; Nghề nghiệp: Lao đng tdo; Con ông: Lê Văn
H2; Sinh năm 1963; Con bà: Lê Thị H3; Sinh năm 1968; Gia đình có 03 anh em, b
cáo con thứ 2; V : Lê Thị M, sinh m 1981; Bcáo có 02 con, con lớn
sinh m 2018, con nhỏ sinh m 2022; Tiền án, tiền s: Kng. Bcáo T
con đ của bcáo Lê Văn H3.
2
Bcáo báp dụng biện pp Cm đi khỏi i cư trú.Hiện có mặt tại phn
a.
3. Họ n: Lê n H3; Sinh năm 1963 ti huyện Thiệu Hóa, tnh
Thanh a; i ĐKHKTT i hiện nay: Tn XN, TD, huyện TH,
tỉnh Thanh Hóa; Giới tính: Nam; n tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; n
giáo: Không; Trình đ n a: 3/10; Nghề nghiệp: Lao đng t do; Con ông:
Lê Phượng Lo ( đã chết) và bà: Lê Th X (đã chết); Gia đình 07 anh chem, b
cáo con thứ 6; V : Thị H5, sinh m 1968; Nghề nghiệp: Lao đng t
do; Bị cáo có 03 con, con lớn sinh m 1986, con nhỏ sinh m 1993; Tiền án,
tiền sự: Kng. Bo H3 b đẻ của bo Văn T, chút ruột của bcáo
Thanh B.
Bcáo báp dng biện pp Cm đi khi i cư trú. Hiện vắng mặt ti
phn a. Bị cáo đơn xin t xử vắng mặt
* Người bào chữa cho bcáo Thanh B: Ông Trần Tuấn A (có mặt); Ông
Nguyễn Vĩnh Q (vng mặt).
Công ty Luật Hợp danh Minh Bạch, Đoàn luật sư thành phố Hà Nội.
Địa chỉ: Phòng 703 tầng 7, số 272 Khương Đình, quận Thanh Xuân, thành
phố Hà Nội.
* Người bào chữa cho các bị cáo Văn H3: Trần Phương A (có mặt)
và ông Lê Trọng M (vng mặt).
Địa chỉ: Phòng 311, số 142 Lê Dun, Khâm Thiên, quận Đống Đa, thành
phố Hà Nội.
* Bị hại:
1, Ông Lê Văn H4, sinh m 1963 (vắng mặt);
2, Anh Thanh B; sinh m 1983 (có mặt);
3, Ông n H, sinh m: 1960 (có mặt);
Đều tti:Tn XN, TD, huyện TH, tỉnh Thanh Hóa;
* Người làm chứng:
1, Chị Trần Thị C, sinh năm: 1985 (có mặt).
2, Chị Lê Thị M, sinh năm: 1981(có mặt).
3, Ông Lê Xuân C1, sinh năm: 1950 (có mặt).
4, Anh Lê Văn T1, sinh năm: 1984 (vắng mặt).
Đều tti:Tn XN, TD, huyện TH, tỉnh Thanh Hóa;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15
h
30’ ngày 13/7/2022, Thanh B Trần Thị C (vợ B) tiến hành
xây dựng tường rào trên nền tường cũ, đã được xây dựng từ trước, giáp ranh với
đất của nhà ông Lê Văn H3 (là c ruột của Lê Thanh B).
Trong lúc Lê Thanh B đang xây tường rào thì ông Lên H3 cho rằng B đã
xây lấn sang phần đất nhà ông H3, n đã đứng n phn đất nhà mình ý kiến
là u cầu Bình không được xây dựng tường rào. Thấy B không dừng lại vẫn
tiếp tục xây dựng, ông Hợp gọi điện thoại cho con trai n T, về nhà ông
3
H3 để gii quyết. Sau đó, T chv Lê Thị M, cùng con nhỏ Lê n Anh P
đi đến nhà ông H3.
Tại nhà ông H3, T được ông H3 trao đổi là: Thằng B xây sang đất nhà
mình”, nên T đi sang nhà B để i chuyn. Khi T đang nhà Thanh B nói
chuyện, ông H3 tiếp tc đứng n phần đất nhà mình yêu cầu Bình không
được xây tường rào nữa nhưng B vẫn tiếp tục xây tường rào. Lúc này, ông H3
dùng tay đổ một vài viên gạch mới y trên tường rào, rồi B ông H3 lao
vào ging co, đánh nhau. Trong c đánh nhau, ông Hợp ly được một đoạn ng
tuýp bằng kim loại hình vuông, dạng hộp (rỗng n trong), i 38,5cm, màu xám
để đánh B nhưng bị B đỡ giật được đoạn ng tp, rồi Bình sử dụng ống tp
vừa lấy được từ ông H3 vung lên đánh từ trên xuống trúng vào vùng đầu ông H3.
Thấy ông H3 bđánh, Lê n T chạy đi nhặt một chiếc xẻng (có lưỡi bằng
kim loại, cán m bằng gỗ, i 108cm) tại nơi để vật liu xây dựng cửa cổng
vào nhà Bình, rồi cầm xẻng đập trúng vào đầu của B. Thy đánh nhau, chị Th
M (là vcủa T) Xuân Cự (anh trai của ông Hợp, bác của Bình) cùng
Trần Thị Chiến vào can ngăn. Trong c can ngăn, chị Chiến giằng co chiếc xẻng
với Tài tbị xẻng đập vào vùng đầu gây sưng nề; ông Lê Xuân Cự (là anh trai
của ông Hợp) vào can ngăn thì bị thương tích rách da chảy máu ở vùng khuỷu tay
trái. Sau đó thêm người n khu vực gần đó chạy đến can ngăn, đưa ông
Hợp, Tài và Bình ai vnhà nấy để băng bó, cầm máu vết thương.
Lúc này, ông Lê n Hòa (là bố của Bình) nghe tin việc đánh nhau n
về nhà. Thy tiếng ông Hòa, ông Hợp từ trong nhà mình chạy ra, tiếp tc xảy
ra xô xát với ông Hòa. Trong qtrình xát, ông Hợp sử dụng 01 (một) viên
gạch đánh gây thương tích vùng đầu cho ông Hòa; còn i định chạy ra vị trí
ông Hợp ông Hòa xát tđược anh n Tình ôm ngăn lại. Sau đó,
người dân ở khu vực xung quanh đến can ngăn, sự việc dừng lại.
Hậu quả:
1. Thương tích ca Lê Văn Hợp:
- Tại Biên bản làm việc ghi nhận dấu vết trên thân thể ngày 13/7/2022:
01 vết rách da dài khoảng 10cm, rộng 0,5cm sâu xát ơng tại vùng trán
đỉnh phải;
01 vết tụ máu bầm tím tại hố mắt phải;
01 vết bầm tím tại vùng sau cẳng tay trái kích thước (3x5)cm;
01 vết xây xước da kích thước (5x0,5)cm tại mặt trước cẳng chân trái;
01 vết xây xước da kích thước (5x0,5)cm tại mặt trước cẳng chân phải;
01 vết rách da tại đốt 3 ngón 2 bàn chân trái kích thước (0,3x0,3)cm;
01 vết bầm tím kích thước (10x15)cm tại mặt trong đùi phải.
- Bệnh án của ông n Hợp tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hóa, thể
hin: “Vết thương sọ hở, máu tụ ngoài màng cứng trán phải, lún xương trán
phải”.
- Bn Kết lun giám định giám y v thương tích số 729/TTPY ngày
12/09/2022 của Trung tâm pháp y Thanh Hóa: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương
thể do thương tích gây nên đối với Văn Hợp được tính theo phương pháp
xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 47%.
4
- Bản kết luận giám định pháp y về vật gây thương tích số 736/2022/TTPY
ngày 12/9/2022 của Trung tâm pháp y Thanh Hóa, kết luận:
+ Vết thương rách da, sâu sát ơng tại vùng trán, đỉnh phải: Do tác động
của ngoại lực; được tạo nên bởi vật tày cạnh, hoặc vật cạnh sắc, hoặc vật
có cạnh sắc nhọn;
+ Nếu đối tượng sử dụng hung khí (tuýp sắt) tác động lên thể của ông
Văn Hợp gây ra vết thương rách da, sâu sát ơng vùng trán phải, nếu không
được xử y tế can thiệp y học kịp thời thể ảnh hưởng đến tính mạng của
ông Lê Văn Hợp.
2. Thương tích ca Lê Thanh Bình:
- Tại Biên bản làm việc ghi nhận dấu vết trên thân thể ngày 13/7/2022:
01 vết rách da kích thước (3x1)cm tại vùng đỉnh đầu.
01 vết rách da kích thước (5x1)cm tại vùng đỉnh đầu.
01 vết rách da kích thước (4x0,5)cm tại vùng đỉnh đầu.
01 vết rách da kích thước (3x1)cm tại vùng trán trái sâu sát xương.
01 vết bầm tím kích thước (3x2)cm tại vùng ngực trái, dưới xương đòn 3cm.
Sưng nề vùng sống mũi.
- Bản Kết luận giám định giám y v thương tích số 739/TTPY ngày
14/09/2022 của Trung m pháp y Thanh Hóa, xác định: Tại thời điểm giám định
pháp y về thương tích, tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương thể do thương tích gây
nên đối với Lê Thanh Bình là 05% .
- Bản kết lun giám định pháp y v chế hình thành thương tích số
758/2022/TTPY ngày 14/9/2022 ca Trung tâm pháp y tỉnh Thanh Hóa, kết luận:
03 vết rách da vùng đỉnh đầu; Vết rách da kích thước (3x1)cm tại vùng
trán trái sâu sát xương: do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật tày
cạnh, hoặc vật có cạnh sắc, hoặc vật có cạnh sắc nhọn.
Vết bầm tím kích thước (3x2)cm tại vùng ngực trái, dưới xương đòn 3cm;
Sưng nề vùng sống mũi: do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật tày,
hoặc vật tày có cạnh.
- Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 1234/2022/TTPY ngày
22/11/2022 ca Trung m pháp y Thanh Hóa, xác định: Với thương tích của
anh Thanh Bình như đã ghi nhận, nếu không được cấp cứu kịp thời thì thể
ảnh hưởng đến tính mạng của anh Lê Thanh Bình” .
3. Thương tích ca Lê Văn Hòa:
- Tại Biên bản làm việc xem xét dấu vết tn thân thể ngày 13/7/2022:
01 (một) vết rách da kích thước (2,5 x1) cm tại vùng thái dương trái;
01 (một) vết sưng nề tại cổ tay trái làm biến dạng cổ tay.
- Bản Kết luận giám định giám y v thương tích số 737/TTPY ngày
14/09/2022 của Trung tâm pháp y Thanh Hóa, xác định:
Chấn thương vùng cổ tay trái gây tổn thương gãy đầu dưới xương quay trái:
11%. Sẹo vết thương phần mềm vùng thái dương trái: 01%. Tại thời điểm giám
định pháp y về thương tích, tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích
gây nên đối với Lê Văn Hoà là 12%.
5
* Bn Kết lun giám định pháp y v chế hình thành thương tích số
754/2022/TTPY ngày 14/9/2022 ca Trung tâm pháp y tỉnh Thanh Hóa, kết luận:
Vết rách da kích thước (2,5x1)cm tại ng thái dương trái: Do tác động
của ngoại lực; được tạo nên bởi vật tày cạnh, hoặc vật cạnh sắc, hoặc vật
có cạnh sắc nhọn.
01 vết sưng nề tại cổ tay làm biến dạng cổ tay trái : Do tác động của ngoại
lực; được tạo nên bởi vật tày, hoặc vật tày có cạnh.
- Bản kết lun giám định pháp y về thương tích (về hung khí) số
1235/2022/TTPY ngày 22/11/2022 của Trung m pháp y Thanh Hóa, xác định:
Thương tích gãy đầu dưới xương quay trái của ông Lê Văn Hòa là vết gãy mới
* Hiện trường vụ án: được xác định tại nhà ông n Hòa thôn X
Nhân 1, xã Thiệu Duy, huyn Thiu Hóa, Thanh Hóa.
Nhà ông Hòa phía Bắc giáp nhà ông n Chất, phía Nam giáp nhà
ông n Hợp, pa y giáp nhà ông Thế Vin, phía Đông giáp đường dân
sinh.
Nhà ông Hòa được bố trí gồm 03 nhà, gm: 01 nhà 02 tầng nằm phía Tây
của khu đất; 01 nhà cấp 4 nằm phía y của khu đất. Pa Đôngc ủa khu đất
sân cổng ra o sát với đường ngõ. n nhà ông Hòa chiều rộng n pa
trước cổng là 420cm, chiều i n trong 780cm. n được lát bằng gạch màu
đỏ kích thước (30x30)cm. Tại n bố trí các chậu y cảnh đồ vật liệu y
dựng. Trước cổng nhà ông Hòa,n ngi đường ngõ có để 01 đống cát, 01 đống
đá, 01 đống gạch được sắp sếp theo chiều từ Bắc- Nam. Gạch gạch chỉ màu
nâu đỏ có 02 lỗ tròn bên trong hình chữ nhật.
Hiện trường cụ th nơi xảy ra vụ việc là tạin nhà ông Lê Văn Hòa. Tường
rào ranh giới giữa nhà ông n Hòa ông n Hợp được y bằng gạch.
Phía dưới 01 lớp tường gạch đã cao 87cm, i 283cm được n màu xanh
dương, n trên có 01 lớp tường mới được 1-3 y, chưa được trát tường, vẫn lộ
viên gạch hình hộp chnhật. Hiện tại tường cao từ 87-107cm, cạnh tường
bậc thang nhà hai tầng là 01 xe rùa bằng kim loại đã cũ, bên trên để gạch.
Dưới nền sân nhiều viên gạch đã m dính hồ xi măng. Nơi xảy ra được xác
định là ở khoảng giữa sân nhà ông Hòa từ tớc nhà hai tầng đến nhà cấp 4.
* Vật chứng:quan điều tra đã thu giữ:
01 (một) chiếc xẻng dài 108cm, n xẻng bằng gỗ i 80cm, lưỡi xẻng bằng
kim loạii 28cm, rộng 20cm bị hoen gỉ.
01 (một) đoạn ống tuýp bằng kim loại hình tròn, rỗng bên trong, dài 72,5cm,
màu xám đen.
01 (một) đoạn ng tuýp bằng kim loại hình vuông, rỗng n trong, dài
38,5cm, màu xám.
02 (hai) viên gạch màu đỏ (loại gạch chỉ nung có 02 lỗ tròn), dài 21cm, chưa
qua sử dụng.
01 (một) chiếc búa i 36cm; đầu búa làm bằng kim loại, một đầu tù, một
đầu vát nhọn, dài 10,5cm, rộng 3cm; cán búa bằng gỗ dài 33cm.
quan Cảnh sát điều tra Công an tnh Thanh Hóa trưng cầu Phòng kỹ thuật
hình sự ng an tỉnh Thanh Hóa giám định AND trên vật chứng thu giữ được,
6
kết quả như sau (theo Kết lun giám định số ngày 4071/KL-KTHS ngày
21/11/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa):
Trên đoạn ống tuýp bằng kim loại hình vuông, rỗng bên trong, dài 38,5cm,
màu xám: có máu và mô tế bào của Lê Thanh Bình;
Trên đoạn ống tuýp bằng kim loại hình tròn, rỗng bên trong, i 72,5cm,
màu xám đen: có máu và tế bào của nhiều người nhưng không tách được kiểu
gen riêng biệt của từng người.
Trên chiếc xẻng, 02 viên gạch, chiếc búa: không phát hiện máu tế
bào người.
Số vật chứng này được chuyển đến Cục Thi hành ánn sự tỉnh Thanh Hóa.
* Về trách nhiệm dân sự:
Hin gia đình ông Văn Hòa, Lê Thanh Bình gia đình Lê Văn Hợp, Lê
Văn Tài chưa thỏa thuận bồi thường dân sự được với nhau. Hin yêu cầu bồi
thường dân sự như sau:
- Lê Văn Hợp yêu cầu Lê Thanh Bình phải bồi thường dân sự (chi phí điu
trị, tổn thất tinh thần, thiệt hại do bị thương tích) tổng số tiền là 492.600.226đ.
- Lê Thanh Bình yêu cầu Lê Văn Hợp Văn Tài phi bồi thường dân sự
(chi phí điều trị, tổn thất tinh thần, thiệt hại do bị thương tích) tổng số tiền là
155.000.000đ.
- Ông Văn Hòa yêu cầu Văn Hợp Lê Văn Tài phải bồi thường dân
sự (chi phí điều trị, tổn thất tinh thần, thiệt hại do bị thương tích) tổng số tiền
70.000.000đ.
Cáo trạng số: 07/CT-VKS-P2 ngày 22/12/2023
của Vin kiểm sát nhân n
tỉnh Thanh Hoá truy tố: Lê Thanh Bình, về tội: Giết người”, quy định tại đim n
khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự; Lên Tài Lên Hợp, về tội: “Cố ý gây
thương tích”, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Đại din Vin kiểm sát luận tội đối với các bị cáo vẫn giữ nguyên quyết
định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo
và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
a) Về trách nhiệm hình sự:
Đề nghị áp dụng điểm n Khoản 1 Điều 123; đim b, s Khoản 1, Khoản 2
Điều 51, Điều 15, Điều 54, Điu 57, Điu 38 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố:
Thanh Bình phạm tội: Giết người. Xử phạt Lê Thanh Bình mức án từ 07 năm
đến 08 năm tù.
Đề nghị áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s Khoản 1, Khoản 2
Điều 51, Điều 58, Điu 65 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố: Lê Văn Tài phạm tội Cố ý
gây thương tích. Xử phạt n Tài mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng
cho hưởng án treo, thi gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng.
Đề nghị áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s Khoản 1, Khoản 2
Điều 51, Điều 58, Điu 65 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố: n Hợp phạm tội C
ý gây thương tích. Xử phạt Lê n Hợp mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù
nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng.
b) Về trách nhim dân sự:
7
- Đối với thương ch của Văn Hợp do Thanh Bình gây ra nên buộc
Bình bồi thường chi phí điều trị cho ông Hợp những khoản tiền sau:
+ Chi phí hợp lý cho việc khám chữa bệnh: 44.242.670đ.
+ Tiền mất thu nhập thực tế của ông Hợp: 26.690.000đ x 02 tháng =
33.380.000đ.
+ Tiền mất thu nhập thực tế của người chăm sóc: 4.200.000đ x 2 tháng =
8.400.000đ.
+ Tiền tổn thất tinh thần từ 30-35 tháng lương cơ bản do Nhà nước quy định
tương đương 54tr đến 63tr.
Tổng: 140.000.000đ đến 149.000.000đ, tr đi số tiền bị cáo Bình đã bồi
thường 50.000.000đ. Buộc bị cáo Bình tiếp tục bồi thường cho ông Hợp:
90.000.000đ đến 100.000.000đ.
(Hợp được nhận số tiền 50.000.000đ tại quan Thi hành án do Bình bồi
thường).
- Đối với thương tích của Bình do Tài Hợp gây ra nên cả Tài Hợp
phải liên đới bồi thường chi phí điều trị cho Bình:
+ Chi phí hợp lý cho việc khám chữa bệnh: 1.553.901đ.
+ Tiền mất thu nhập thực tế của Bình: 350.000đ/ngày x 44 ngày =
15.400.000đ.
+ Tiền mất thu nhập thực tế của người chăm sóc: 350.000đ/ngày x 44 ngày
= 15.400.000đ.
+ Tiền tổn thất tinh thần: 3 đến 5 tháng lương cơ bản do Nhà nước quy định,
tương đương 5.400.000đ đến 9.000.000đ.
Tổng: 37.753.901đ, trừ đi số tiền b cáo Tài bcáo Hợp đã bồi thường
cho Bình 5.000.000 đ. Buộc bị cáo Tài và bị cáo Hợp liên đới bồi thường cho Bình
số tiền: 32.753.901đ đến 36.353.901đ. Chia đôi, mỗi bị cáo (Tài và Hợp) chịu ½.
(Bình được nhận số tiền 5.000.000đ tại Cơ quan Thi hành án do Tài và Hợp
bồi thường).
- Đối với thương tích của ông Hòa do Hợp gây ra n Hợp phải bồi
thường chi phí điều trị cho ông Hòa:
+ Chi phí hợp lý cho việc khám chữa bệnh: 1.093.975đ.
+ Tiền mất thu nhập thực tế của ông Hòa: Hòa đã hết tuổi lao động.
+ Tiền mất thu nhập thực tế của người chăm sóc: 350.000đ/ngày x 13 ngày
= 4.550.000đ.
+ Tiền tổn thất tinh thần: 1 đến 2 tháng lương cơ bản do Nhà nước quy định,
tương đương 1.800.000đ đến 3.600.000đ.
Tổng: 7.443.975đ đến 9.243.975đ, trừ đi số tiền Hợp đã bồi thường cho Hòa
5.000.000đ. Buộc Hợp tiếp tục bồi thường cho Hòa: 2.443.975đ đến 4.243.975đ.
(Hòa được nhận 5.000.000đ tại cơ quan thi hành án do Hợp bồi thường).
c) Về vật chứng:
Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình
sự: Tịch thu tiêu hủy vật chứng đã thu giữ gồm:
01 (một) chiếc xẻng i 108cm, n xng bằng gỗ i 80cm, lưỡi xng
bằng kim loại dài 28cm, rộng 20cm b hoen gỉ.
8
01 (một) đoạn ống tuýp bằng kim loại hình tròn, rỗng bên trong, dài
72,5cm, màu xám đen.
01 (một) đoạn ống tuýp bằng kim loại hình vuông, rỗng n trong, i
38,5cm, màu xám.
02 (hai) viên gạch màu đỏ (loại gạch chỉ nung 02 lỗ tròn), i 21cm,
chưa qua sử dụng.
01 (một) chiếc búa i 36cm; đầu búa làm bằng kim loại, một đầu tù, một
đầu vát nhọn, dài 10,5cm, rộng 3cm; cán búa bằng gỗ dài 33cm.
d) Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Khoản
1 Điều 23 Nghị quyết số 326 ca Quốc hội quy định án p, lệ phí Tòa án buộc
các bị cáo Thanh Bình, n Tài phải chịu án ptheo quy định; miễn án
phí đối với Văn Hợp, đã đủ 60 tuổi và có đơn xin miễn án phí.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Lê Thanh Bình có quan điểm:
Đề nghị xem xét vnguyên nhân, điều kiện phạm tội ca bcáo, do bức
xúc hành động thái quá của bị hại mà bcáo đã không m chủ được nh vi
nên đã phạm ti. Bị cáo nhiều tình tiết giảm nhẹ. Điu kiện hoàn cảnh gia
đình khó khăn nên đề nghị xem xét giảm nhhình phạt để bị cáo sớm được trở v
làm ngườiích cho gia đình và xã hội.
Luật bào chữa cho bcáo Văn Hợp bị cáo Văn Tài quan
điểm: Về tội danh: Hai b cáo không phm tội Cố ý gây thương tích, đề ngh
HĐXX áp dụng các tình tiết ng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho b cáo
Hợp và bị cáo Tài được hình phạt như mức án VKS đề nghị.
Li nói sau cùng, các bcáo nhận tội, không tranh luận, xin được hưởng
lượng khoan hồng ca pháp luật, cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ o các tài liệu trong hồ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhn định như sau:
[1].Về tố tụng: Quyết định tố tụng của quan Điều tra Công an tỉnh
Thanh Hóa, Điều tra viên. VKSND tỉnh Thanh Hóa, Kim t viên trong quá
trình điu tra, truy tố đã thực hiện đúng về thm quyn, trình tự, thủ tục theo quy
định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến
hoặc khiếu nại vhành vi, quyết định của quan tiến hành tố tụng, người tiến
hành tố tụng, do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của quan tiến nh tố
tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị cáo Lê Văn Hợp có đơn xin xét xử vng mặt tại phiên tòa ngày
03/4/2024 nên HĐXX n cứ điểm c khoản 2 Điu 290 BLTTHS xét xử vắng
mặt bị cáo Lê Văn Hợp.
Đối với người m chứng là anh Lê Văn Tình vắng mặt tại phiên tòa nhưng
đã đầy đli khai tại quan CSĐT, việc vắng mặt ca anh Tình không y
trở ngi cho việc giải quyết vụ án nên HĐXX căn cứ khoản 1 Điu 293 BLTTHS
vẫn tiến hành xét xử vụ án.
9
[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại quan CSĐT tại phiên
tòa m nay qua thẩm vấn công khai từng bị cáo khai nhn về hành vi phm tội
của mình. Các b cáo đều thừa nhận việc các bị cáo dùng các hung khí khác nhau
gây thương tích cho những người b hại với kết quxem xét dấu vết thân thể
giám định % sức khỏe thật nhưng bcáo Bình không nhất trí việc khởi tố,
truy tố các bcáo vi từng tội danh khác nhau như mô tả trong Kết luận điều tra
Cáo trạng. Bình cho rằng việc bị cáo Tài dùng xng đập vào đầu, bị cáo Hợp
dùng gạch đập vào ngực Bình nhưng Cáo trạng truy tố các b cáo về tội: Cố ý y
thương tích theo quy định tại đim a khoản 1 Điều 134 BLHS là chưa chính xác.
Bị cáo Hợp không thừa nhận việc dùng gạch đập vào ngực Bình, không thừa
nhận bcáo cầm gậy sắt đập Bình trước. Bị cáo i kng thừa nhận thương tích
tay ông Hòa do b cáo y ra. c bị cáo đều đề nghị HĐXX xem xét đảm
bảo thực tế khách quan và quyền lợi của c bị cáo.
Căn ckết quả xét hỏi tại phiên tòa đối vi các bcáo Thanh Bình,
Văn i, Lê n Hợp (vắng mt được ng bố lời khai) và đối vi các bhại
Thanh Bình, Lê n Hợp, Lê Văn Hòa để đối chiếu với thương tích của từng b
hại. HĐXX nhận thấy: Do mâu thuẫn từ việc xác định ranh gii khi y lại
tường rào nên vào khoảng 15
gi 30 phút ngày 13/7/2022 tại gia đình ông Lê Văn
Hòa thuộc thôn XNn 1, Thiệu Duy, huyện Thiệu a, tnh Thanh Hóa
đã xảy ra xô sát giữa những người bị hại và các bị cáo. Cụ thnhư sau:
[2.1].Hành vi phạm tội của Lê Thanh Bình:
Xuất phát từ việc cho rằng Thanh Bình xây tường rào lấn sang phn đất
của nhà mình, nên ông Lê n Hợp đã gọi điện thoại cho con trai anh n
Tài về nhà để cùng ngăn cản Bình xây ờng. Sau đó, hai bố con ông n
Hợp và anh Lê Văn Tài xô xát, đánh nhau với n Bình. Trong qtrình
xát, ông Hợp ly được một đoạn ống tuýp để đánh Bình nhưng bBình đỡ giật
được đoạn ống tuýp, rồi Bình sử dụng ống tuýp vừa lấy được từ ông Hợp đập vào
đầu ca ông Hợp, làm ông Hợp b thương ch rách da, u sát xương sọ gây nên
“Vết thương sọ hở, máu tụ ngoài màng cứng trán phải, n xương trán phải”,
gây tổn hi 47% sức khỏe.
Do u thuẫn nhỏ nhặt, Thanh Bình sdụng ng kim loại hộp vuông
(hung knguy him) đánh vào vùng đầu (vùng trọng yếu trên thể) ca ông
Hợp có thể gây chết người, việc ông Hợp không chết là do được cấp cứu kịp thời.
Vẫn biết rằng bị cáo Bình bức xúc bị cáo Hợp đã chửi mắng, thách thức
đổ tường rào bcáo Bình và v mi xây xong chưa kịp ráo hồ nhưng đó
không thể là n cứ để bcáo dùng ng kim loại gây thương tích cho bhại. Bi
vậy pháp luật nghiêm cấm việc sử dụng mt hành vi vi phạm pháp luật này để
đáp trả lại mt hành vi vi phạm pháp luật khác. Hành vi của Thanh Bình th
hin tính chất n đồ, đã phm tội Giết người”, quy định tại điểm n khoản 1
Điều 123 Bộ luật Hình sự, thuộc trường hp phạm tội chưa đạt.
[2.2]. Hành vi của Lê Văn T và Lê Văn H3:
Đối với thương tích ca anh Lê Thanh B: Mặc dù bị cáo Văn H3 không
thừa nhận việc dùng viên gạch chỉ (là hung k nguy hiểm) đập vào vùng ngực
trái Bình, nhưng kết quxem xét dấu vết trên thân thB 01 vết bầm m tại
10
ngực trái, phù hợp với lời khai của anh B; còn bị cáo Lê Văn T chỉ thừa nhận cầm
xẻng (là hung khi nguy hiểm) đánh trúng 01 i vào vùng đầu (vùng trọng yếu
trên thể) của B. Việc xát, đánh nhau (liên quan đến thương tích của Bình)
chỉ diễn ra giữa 03 người B, T, H3 (không người nào khác tham gia). Căn c
các tài liu chứng cứ đ sở khẳng định: Hành vi của bcáo H3 bcáo T
đồng phạm (tiếp nhận ý chí) với nhau người y thương tích cho anh B. Do
vậy cả hai b cáo đều chịu chung tổn hại 05% sức khỏe gây ra cho anh B.
[2.3]. Đối với vết thương rách da tại vùng thái dương trái của ông Lê n
H4: Sau khi được can ngăn, bcáo Văn H3 b cáo Văn T đã v nhà
mình, sau đó bị cáo Văn H3 chạy sang nhà B, khi đó ông n H4 đi họp
cựu chiến binh vbị Lê n H3 dùng viên gạch chỉ ném vào đầu, bị tổn hi 1%
sức khỏe.
Mặc li khai của các bhại, các b cáo tại quan điều tra tại phiên
tòa đều mâu thuẫn nhau và mâu thuẫn với chính lời khai ca họ nhưng căn cứ vào
các tài liệu chứng cứ trong h vụ án qua thẩm vn ng khai tại phiên tòa
và từ những phân tích trên, HĐXX đủ căn cứ khng định: Tỷ lệ thương tật của
Văn H3 là do bị cáo Lê Thanh B gây ra. Hậu quả H3 b tổn thương cơ thể là 47%
(bốn bảy phn trăm) sức khỏe. Tỷ lệ thương tật th05% (năm phần trăm)
sức khỏe ca Lê Thanh B đều có sự tham gia của bị cáo H3 và bị cáo T. Tỷ lệ tổn
thương thể 01% (một phn trăm) sức khỏe của ông Lê n H4 do b o
n H3 gây ra. Bị cáo Lê Văn H3 dùng gạch y thương tích cho ông H4
là người cùng với bị cáo Lê Văn T gây thương tích cho Bình.
Cáo trạng của VKS truy tố các bcáo Lê Văn H3 n T về tội: Cố
ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự hoàn
toàn có căn cứ, phù hợp với hìnhnh thương tích trênthể của anh Bình.
[3]. Về tính chất vụ án: Đây vụ án có tính chất đặc biệt nghiêm trọng, b
cáo, bị hại mối quan hệ họ hàng rất gần gũi nhưng chỉ mâu thuẫn nh nhặt
trong sinh hoạt mà đã sdụng gậy sắt, gạch, xẻng là những hung knguy hiểm
để tác động vào vùng trọng yếu của thcủa người khác, gây thương tích lẫn
ln cho nhau.
Hành vi của bị cáo B là đặc biệt nghiêm trọng, hành vi của bị cáo H3 b
cáo T nghiêm trọng, nguy him cho hội, đã xâm phm trực tiếp đến tính
mng, sức khỏe của công n được luật pháp bảo v nên cần phải b xử phạt
nghiêm là cần thiết để làm bài học giáo dục răn đe và phòng ngừa chung.
[4]. Xét về nhân thân, tình tiết tăng nng, giảm nhtrách nhim hình sự:
Đối với Thanh B: Bị cáo kng tình tiết ng nặng trách nhiệm hình
sự theo Điu 52 BLHS.
Tình tiết gim nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa đều thành khẩn khai
báo, ăn năn hối hn về hành vi phạm tội; Sau khi phạm tội đã tác động với gia
đình bồi thường một phần chi pđiều trị thương tích cho bị hại; Bị hại xin giảm
nhẹ hình phạt cho bị cáo; Gia đình bị cáo có bố người ng với cách mng,
bác ruột liệt sĩ ; Bị cáo phạm tội Giết người” thuộc trường hợp phm tội chưa
đạt; Do đó bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhtrách nhiệm hình sự theo
đim b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Do nhiều tình tiết giảm nhẹ nên
11
cần áp dụng khoản 2 Điu 54 BLHS cho bị cáo Lê Thanh B được hưởng mức án
dưới mức thấp nhất ca khung hình phạt được áp dụng.
Đối với Lê n T n H3: c bị cáo không tình tiết ng nặng
trách nhiệm hình sự theo Điều 52 BLHS.
Tình tiết giảm nhẹ: c bcáo đều chung tình tiết giảm nhẹ là phạm tội
ln đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, bồi thường
mt phần chi pthiệt hại cho b hi; Bị hại đề nghị xem xét gim nhẹ hình pht
cho bị cáo, gia đình bcáo ng với cách mạng. Đây những tình tiết giảm
nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điu 51, khoản 2 Bộ luật Hình sự.
[6]. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho hội của hành vi phm tội, các
tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố về nhân thân, Hội
đồng xét xử thấy rằng cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo
Thanh B ra khỏi hội một thi gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo, mới đảm
bảo được tính nghiêm minh của pháp lut, đồng thời răn đe, giáo dc phòng ngừa
chung. Đi với các bcáo Lê n H3 Văn T không cần thiết phải cách ly
các bị cáo khỏi đa phương cũng đtác dụng cảo tạo, giáo dục. Xét thấy, mức
hình phạt Đại din viện kim sát đề nghị áp dụng đối với các bcáo phù
hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7]. Về trách nhiệm dân sự:
- Đối với thương tích của n H3 do B gây ra nên B phải chịu trách
nhim bồi thường các chi phí điu trị thương tích cho H3.
Thời gian điều trị gồm 7 đợt: Tngày 13/7/2022 đến ngày 09/3/2023 tại
các cơ sở y tế. Thực tế chi phí:
- Tiền thuốc, vin phí điều trị là: 44.242.67- 6.420.000đ (đơn thuốc gia
đình tmua không có chỉ định ca bác sĩ) = 37.822.670đ.
- Tiền mất thu nhập: 16.690.000đ/tháng x 2 tháng = 33.380.000đ
- Tiền công chăm sóc: 4.200.000đ/tháng x 02 tháng = 8.400.000đ
- Tiền tổn thất tinh thần: 1.800.000đ/tháng x 30 tháng = 54.000.000đ
Tổng cộng: 133.603.000đ.
Gia đình nhà B đã tự nguyện bồi thường thiệt hại trước khi xét xử cho ông
H3 số tin 50.000.000đ nộp tại biên lai thu tin số 0000504 ngày 15/01/2024 tại
Cục thi hành án n sự tỉnh Thanh Hóa. Cần buộc b cáo tiếp tc bồi thường cho
bị hại số tiền: 83.602.670đ.
Gia đình b cáo Văn H3 n T tự nguyện khắc phục hậu quả
trước khi xét xử số tiền 10.000.000đ theo biên lai thu tin số 0000517 ngày
25/01/2024 tại Cục thi hành án n sự tỉnh Thanh Hóa. Trong đó bị cáo H3 bồi
thường cho ông H4 số tin 5.000.000đ, bị cáo T bcáo H3 bồi thường cho
bị cáo B là 5.000.000đ.
Đối với thương tích của B do cả H3 T gây ra nên cả T H3 phi
liên đới bồi thường chi phí điều trị cho B. Thời gian điều trị từ ngày 13/7/2022 đến
ngày 27/8/2022. Lê Thanh B yêu cầu Lê Văn H3 và Lê Văn T phải bồi thường dân
sự (chi phí điều trị, tổn thất tinh thần, thiệt hại do bị thương tích) tổng số tiền
155.000.000đ. Thực tế chi p được tính:
- Tiền thuốc điều trị: 1.553.901đ
12
- Tiền mất thu thập: 44 ngày x 350.000đ/ngày = 15.400.000đ
- Tiền công chăm sóc: 44 ngày x 350.000đ/ngày = 15.400.000đ
- Tiền tổn thất tinh thần: 1.800.000đ/tháng x 5 tháng = 9.000.000đ
Tổng cộng: 41.353.901đ – 5.000.000đ = 36.353.901đ.
Cụ th mỗi bị cáo phải bồi thường 18.177.000đ (mười tám triệu một trăm
bảy bảy nghìn đồng).
Đối với thương tích của ông H4 do H3 gây ra nên H3 phải bồi thường toàn
bộ chi phí điều trị của ông H4. Thời gian điều trị từ ngày 13/7/2022 đến ngày
25/7/2022. Ông Lê Văn Hòa yêu cầu Lê Văn H3 và Lê Văn T phải bồi thường dân
sự (chi phí điều trị, tổn thất tinh thần, thiệt hại do bị thương tích) tổng số tiền
70.000.000đ. Thực tế chi phí được tính:
- Tiền thuốc điều trị: 1.093.965đ.
- Tiền công chăm sóc: 13 ngày x 350.000đ/ngày = 4.550.000đ
- Tiền tổn thất tinh thần: 1.800.000đ/tháng x 2 tháng = 3.600.000đ
Tổng cộng: 9.243.000đ - 5.000.000đ = 4.243.000đ
Ông H4 đã trên 60 tuổi nên không tính tiền mất thu nhập.
[8]. Liên quan đến vụ án:
- Đối với thương tích của chị Trần Thị C:
Chị C bị 01 khối sưng nề kích thước (3x2)cm tại vùng đỉnh đầu, không rách
da, không chy máu, với phần trăm thương tích là 0%. Theo li khai của chị
Chiến: thương tích của chị Chiến do Văn T dùng gậy sắt (dạng ng kim loại
dạng hộp 04 cạnh, rỗng ruột, dài khoảng 50cm) đánh; chị C u cầu Lê n T
phải bồi thường dân sự số tiền là 157.000.000đ. Lê n Tài khai: không đánh ch
C. Không nhân chứng thấy T dùng gậy sắt đánh chị C. Do đó, không đủ n
cứ xác định vết thương của chị Trần Thị C do Lê n T y ra, kng n
cứ xem xét trách nhiệm n sự đối vi T.
- Đối với thương tích của ông Lê Xuân C1:
Ông C1 b 01 vết thương rách da chảy máu vùng khuỷu tay trái, trong khi
can ngăn i Bình đang dùng hung khí đánh nhau. Tuy nhiên, ông C1 không
biết do người nào gây ra, bằng vật gì; không có nhân chứng thấy ông C1 b ai gây
thương tích. Ông C1 không đề nghị xem xét xử về việc bị thương tích. Do đó,
không xem t xử .
- Đối với thương tích vùng cổ tay trái ông n H4 dẫn đến gãy đầu
dưới xương quay trái với thương tích là 11% sức khỏe:
Ông n H4 khai: thương tích y do n T túm, bẻ gãy tay. Tuy
nhiên, Văn T khẳng định không tiếp xúc với ông Hòa, không y thương tích
cho ông H4 được anh n T1 can ngăn (php lời khai Văn T1). Do
đó, chưa đủ căn cứ xác định thương tích làm gãy cổ tay trái của ông Lê Văn H4 là
do người nào gây nên. quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thanh Hóa sẽ tiến
hành điu tra, xem xét xử theo quy định của pháp luật khi n cvụ án
khác.
- Đối với hành vi của n H3 đổ tường rào Lê Thanh B đang xây
dựng. Do B đang y dở không có n ckiểm đếm. Tại thi điểm xy ra vụ án
13
không i liệu thm định giá trị thiệt hi nên chưa căn cứ xác định H3 m
hỏng tài sản của B.
[9]. Về xử vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số vật chứng gồm 01
(một) chiếc xẻng dài 108cm, cán xẻng bằng gỗ dài 80cm, lưỡi xẻng bằng kim loại
dài 28cm, rộng 20cm b hoen gỉ ; 01 (một) đoạn ống tuýp bằng kim loại hình
tròn, rỗngn trong, dài 72,5cm, màu m đen; 01 (một) đoạn ống tp bằng kim
loại hình vuông, rỗng bên trong, dài 38,5cm, màu xám; 02 (hai) viên gạch màu đỏ
(loại gạch chỉ nung 02 lỗ tròn), dài 21cm, chưa qua sử dụng ; 01 (một) chiếc
búa i 36cm; đầu búa làm bằng kim loại, một đầu tù, mt đầu vát nhọn, i
10,5cm, rộng 3cm; cán búa bằng gỗ dài 33cm.
Toàn bộ số vật chứng hiện được thu giữ quản theo biên bản giao nhn
vật chứng số: 61/2024/TV-CTHADS ngày 22 tháng 12 m 2023 hiện đang được
bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.
[10]. Về án p thm: Các b cáo Lê Thanh B Lê Văn T phải chịu án
phí hình sự thẩm án pn sự thẩm. Bị cáo n H3 người cao
tuổi đơn xin miễn tiền án pnên không phải nộp án pHSST và án phí
DSST theo quy định của pháp luật.
[11]. Các bcáo, các bhại được quyền kháng cáo, Viện kim sát nhân n
được quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
n cứ: Điểm n Khoản 1 Điu 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điu 51,
Điều 15, Điều 54, Điều 57, Điều 38BLHS (đối với Lê Thanh B) ; Điểm a khoản 1
Điều 47; Khoản 1 Điều 48 BLHS; Khoản 1 Điu 584; các Điều 585; 590; Điu
587 (đối với Lê Văn H3 và Lê Văn T) BLDS; Khoản 2 Điều 136; Đim a khoản 2
Điều 106; khoản 1 Điều 293; c Điều 331; 333; 336; 337 BLTTHS; Điểm a, c
khoản 1 Điều 23, điểm b khoản 1 Điều 24 Nghị quyết số 326/2016/UBTV-
QH14 ngày 30/12/2016.
Tuyên b: Bị cáo Lê Thanh B phm tội Giết người.
Xử phạt: Thanh B 07 (bảy) năm tù. Thời gian chấp nh hình phạt tù
tính từ ngày 20/4/2024.
Căn cĐiểm a Khoản 1 Điều 134; đim b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51,
Điều 58 Điu 65 BLHS; Đim c khoản 2 Điu 290 BLTTHS; Đim đ khoản 1
Điều 12 (đối với n H3); Điểm a,c khoản 1 Điều 23, điểm b khoản 1 Điu
24 Nghị quyết số 326/2016/UBTV- QH14 ngày 30/12/2016.
Tuyên b: Bị cáo Lê Văn T và Lê Văn H3 phm ti: Cố ý gây thương tích.
Xử phạt: Bị cáo Lê n T 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian
thử thách là 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt: Bị cáo Lê n H3 06 (sáu) tháng cho hưởng án treo, thi gian
thử thách là 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao Lê Văn H3 và Lê Văn T cho UBND Thiu Duy, huyện Thiu Hóa,
tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bcáo thay đổi nơi cư trú tviệc thi hành án được thực hin
theo quy định tại Khoản 2 Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự.
14
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phm
nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án Hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có
th quyết định buộc người đó phi chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho
hưởng án treo.
Trường hợp thực hiện nh vi phạm tội mới tTòa án buộc người đó phải
chấp hành hình phạt của bản án trước tổng hợp với hình phạt ca bản án mi
theo quy định tại Điu 56 của BLHS.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Lê Thanh B bồi thường cho bị hi Lê
Văn H3 số tin chi p điều tr là: 133.603.000đ (một trăm ba ba triệu u trăm lẻ
ba nghìn đồng), được trừ 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) đã bồi thường, n
li 83.603.000đ (tám ba triệu sáu trăm lẻ ba nghìn đồng) cần phải bồi thường tiếp.
Bị hại n H3 được nhn số tin 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng)
hin đang lưu giữ tại Cc thi nh án tỉnh Thanh Hóa theo biên lai thu tiền số
0000504 ngày 15/01/2024 .
Buộc b cáo Lê n H3 Lê n T phải liên đới bồi thường cho b hại
Thanh B số tiền chi pđiu trlà: 41.354.000đ (bốn mốt triệu ba trăm m tư
nghìn đồng) được trừ 5.000.000đ (năm triệu đồng) đã bồi thường, còn lại
36.354.000đ (ba sáu triệu ba trămmnghìn đồng) cần phải bồi thường tiếp. Cụ
th mi bcáo phải bồi thường 18.177.00 (mười m triệu một trăm bảy bảy
nghìn đồng).
Bị hại Thanh B được nhận số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng) hiện
đang lưu giữ tại Cục thi hành án tỉnh Thanh Hóa theo biên lai thu tiền số 0000517
ngày 25/01/2024 tại Cục thi hành ánn sự tỉnh Thanh Hóa.
Buộc bị cáo Lê Văn H3 phải bồi thường cho ông Lê Văn H4 số tiền
9.243.000đ (chín triệu hai trăm bốn ba nghìn đồng) được trừ 5.000.000đ (năm
triệu đồng đã bồi thường, n lại 4.243.000đ (bốn triệu hai trăm bốn mươi ba
nghìn đồng) cần phải bồi thường tiếp.
Bị hại Lê Văn H4 được nhận số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng) hiện đang
lưu giữ tại Cục thi hành án tỉnh Thanh Hóa theo biên lai thu tiền số 0000517 ngày
25/01/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.
Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày đơn yêu cầu
thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho
người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất c các khoản tiền,
hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải
thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Về vật chng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số vật chứng gồm 01 (một) chiếc
xẻng i 108cm, n xẻng bằng gỗ i 80cm, i xng bằng kim loại i 28cm,
rộng 20cm bhoen gỉ ; 01 (một) đoạn ống tuýp bằng kim loại hình tròn, rỗng n
trong, i 72,5cm, màu xám đen; 01 (một) đoạn ng tp bằng kim loại hình
vuông, rỗng n trong, i 38,5cm, màu m ; 02 (hai) viên gạch màu đỏ (loại
gạch chỉ nung có 02 lỗ tròn), dài 21cm, chưa qua sử dụng ; 01 (một) chiếc búa dài
36cm; đầu búa làm bằng kim loại, một đầu tù, một đầu vát nhọn, i 10,5cm,
rộng 3cm; cán búa bằng gỗ dài 33cm.
15
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng số:
61/2024/TV-CTHADS ngày 22 tháng 12 m 2023 hiện đang được bảo quản tại
kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa giữa quan
CSĐT Công an tỉnh Thanh Hóa và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa).
Về án pthẩm: Buộc bị cáo Thanh B phi np 200.000đ án p
HSST và 4.180.000đ án phí DSST.
Buộc b cáo Lê n T phi nộp 200.000đ án pHSST và 909.000đ án p
DSST.
Bị cáo n H3 người cao tui có đơn xin miễn tin án p n
không phải nộp án phí HSST và án phí DSST theo quy định ca pháp luật.
Quyền kháng o: Các bị cáo quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể
từ ngày tuyên án. Người quyn li, nga vụ liên quan quyền kháng cáo
trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được
niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 9 Luật
thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Bị cáo, Luật sư;
- TAND, VKSND Cấp cao HN;
- Sở tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
- VKSND tỉnh Thanh Hoá;
- Công an tỉnh Thanh Hoá;
- Cục THADS tỉnh Thanh Hoá;
- UBND xã Thiệu Duy, Thiệu Hóa
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
(Đã ký)
Lê Thị Tố Như
Tải về
Bản án số 53/2024/HS Bản án số 53/2024/HS

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất