Bản án số 47/2022/DS-ST ngày 29/08/2022 của TAND huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 47/2022/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 47/2022/DS-ST ngày 29/08/2022 của TAND huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Thạnh Phú (TAND tỉnh Bến Tre)
Số hiệu: 47/2022/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/08/2022
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Anh Trần Quốc V tranh chấp HĐMB tài sản với anh Cao Hoàng V
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ – TỈNH BẾN TRE
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Nguyễn Thị Tơ
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Ngọc Sơn
- Bà Phan Thị Cẩm Hồng
Thư phiên tòa: Ông Hồ Văn Thư Tòa án nhân n huyện Thạnh
Phú, tỉnh Bến Tre.
Ngày 08 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú xét x
sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 104/2022/TLSTDS ngày 24 tháng 3 năm 2022 về
tranh chấp “Hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xsố:
48a/2022/QĐXXSTDS ngày 20/5/2022 Quyết định hoãn phiên tòa số
30/2022/QĐST-DS ngày 31 tháng 5 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: anh Trần Quốc V1, sinh năm 1990; địa chỉ: 152/3 ấp T, M,
huyện P, tỉnh Bến Tre.
- Bị đơn: anh Cao Hoàng V2, sinh năm 1993; chị Nguyễn Thị H, sinh năm
1995; cùng địa chỉ: 37/6 ấp AB, xã M, huyện P, tỉnh Bến Tre. Anh V2 vắng mặt; chị
H có đơn xin vắng mặt.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: chị Nguyễn Thị Thu V3, sinh năm
1989; địa chỉ: 152/3 ấp T, xã M, huyện P, tỉnh Bến Tre.
Anh V1 ủy quyền cho chị V3 tham gia tố tụng. Chị V3đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện trong quá trình tố tụng tại Tòa án người đại diện theo
ủy quyền của nguyên đơn-chị Nguyễn Thị Thu V3 trình bày:
Vào năm 2018 anh V2, chị H mua thức ăn tại Đại An Muôn do anh Trần
Quốc V1 làm chủ; mục đích để nuôi tôm thẻ chân trắng. Việc mua bán chỉ lập hợp
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THẠNH PHÚ
TỈNH BẾN TRE
Bản án số: 47/2022/DSST
Ngày: 08-6-2022
V/v tranh chấp “Hợp đồng mua
bán tài sản”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
2
đồng miệng H bên có cam kết anh V1 có nghĩa vụ cung cấp hàng hóa cho anh V2,
chị H trước và sau khi thu tôm anh V2, chị H có nghĩa vụ thanh toán tiền cho anh V1.
Việc mua bán giữa H bên theo dõi bằng sổ do anh V1 quản lý. Vụ nuôi tôm đầu
anh V2 thu tôm lãi nên thanh toán đủ tiền cho anh V1. Sau đó do nuôi thua lỗ
nên anh V2, chị H mất khả năng thanh toán. Trong quá trình thực hiện hợp đồng anh
V1 không chỉ giao thức ăn cho anh V2, chị H cũng gặp trực tiếp với ông Thanh,
Hồng, anh Linh; cũng lần anh Linh nhận thức ăn thay anh V2. Anh V2, chị H
còn sống chung cùng làm kinh tế với ông Thanh, Hồng anh Linh mục đích
nuôi tôm để chăm lo, phát triển kinh tế chung của cả gia đình. Do việc nuôi tôm
thua lỗ nên hiện nay anh V2, chị H, ông Thanh, bà Hồng, anh Linh còn nợ tôi và anh
V1 số tiền 83.439.000 đồng; các lần anh V1 đến gặp gia đình để trao đổi việc trả tiền
thì ông Thanh, bà Hồng yêu cầu chị V3 anh V1 cho gia đình một thời gian để
có tiền thanh toán cho anh V2 và chị H.
Nay anh V1 thay đổi yêu cầu khởi kiện như sau: Anh V1 yêu cầu anh V2, chị
H nghĩa vụ liên đới trả cho anh V1 số tiền nợ gốc 83.439.000 đồng yêu cầu
tiền lãi phát sinh từ ngày 24/3/2022 đến khi Tòa án giải quyết xong vụ án với mức lãi
suất 0,83%/tháng, cụ thể số tiền lãi: 83.439.000 đồng x 02 tháng 14 ngày x
0,83%/tháng = 1.708.274 đồng. Tổng cộng stiền anh V1 yêu cầu anh V2 chị
H nghĩa vụ trả cho anh V1 85.147.274 đồng. Anh V1 không yêu cầu ông
Thanh, Hồng, anh Linh nghĩa vliên đới với anh V2 chị H để trả cho
anh V1 số tiền gốc và lãi như trên. Số tiền nêu trên là tài sản chung của chị V3 và anh
V1.
Theo nội dung Bản tự khai ngày 31/3/2022 trong quá trình tố tụng tại a
án bị đơn Cao Hoàng V2 Nguyễn Thị H trình bày: Vào năm 2018 anh V2
chị H mua thức ăn, thuốc, hóa chất xử tại Đại An Muôn do anh Trần Quốc
V1 làm chủ; mục đích để nuôi tôm thẻ chân trắng. Việc mua bán chỉ lập hợp đồng
miệng và H bên có cam kết anh V1 có nghĩa vụ cung cấp hàng hóa cho anh V2 và chị
H trước sau khi thu tôm anh V2 chị H nghĩa vụ thanh toán tiền cho anh V1.
Việc mua bán giữa H bên có theo dõi bằng sổ do anh V1 quản lý. Vụ tôm đầu tiên do
nuôi tôm lãi nên anh V2 chị H thanh toán đủ tiền cho anh V1 sau vụ nuôi
nhưng 03 vụ nuôi sau đó bị thua lỗ nên anh V2 chị H không thanh toán tiền cho
anh V1 và còn nợ lại anh V1, chị V3 số tiền 83.439.000 đồng. Qua yêu cầu khởi kiện
của anh V1 thì anh V2 chị H ý kiến như sau: anh V2 chị H đồng ý liên đới
để trả cho anh V1 chị V3 số tiền 83.439.000 đồng nhưng yêu cầu trả dần cho
đến hết số nợ nêu trên. Đối với số tiền lãi anh V2 và chị H không đồng ý trả theo yêu
cầu của anh V1 do việc này H bên không có thỏa thuận khi chốt nợ. Đối với Giấy xác
nhận nợ mà anh V1 cung cấp chviết chkỹ của Cao Hoàng V2. Anh V2
chị H không yêu cầu ông Cao Hoài Thanh, bà Võ Thị Cẩm Hồng, anh Cao Hoài Linh
3
nghĩa vụ liên đới với anh V2 chị H đtrả tiền cho anh V1, chị V3 do việc nuôi
tôm anh V2 chị H nuôi để phát triển kinh tế riêng. Anh V2 chị H trực tiếp
giao dịch mua bán thức ăn với anh V1, chị V3 anh V2, chị H thuê ao hồ để nuôi
chứ không liên quan đến ông Thanh Hồng, anh Linh. Ông Thanh, Hồng,
anh Linh không sử dụng chung tiền với anh V2 chị H. Khi anh V1 giao thức ăn
nếu anh V2 chị H không có nhà khi anh Linh nhận thay thức ăn cho anh V2
chị H chứ anh Linh hoàn toàn không tham gia nuôi tôm chung cũng không sử
dụng tiền thu tôm cùng anh V2 và chị H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa
Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật: Đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án.
[2] Về thẩm quyền: Bị đơn Cao Hoàng V2 Nguyễn Thị H hiện đang sinh
sống đăng hộ khẩu tại 37/6 ấp A B, M, huyện P, tỉnh Bến Tre do đó vụ án
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú theo quy định tại
khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Chị Nguyễn Thị Thu V3 và Nguyễn Thị H đơn xin vắng mặt; anh
Cao Hoàng V2 đã được toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ H nhưng vẫn vắng mặt
không có lý do nên căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét
xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.
[4] Về nội dung vụ án: Anh V1 yêu cầu anh V2, chị H nghĩa vụ liên đới
trả cho anh V1 stiền nợ gốc 83.439.000 đồng yêu cầu tiền lãi phát sinh từ ngày
24/3/2022 đến khi Tòa án giải quyết xong vụ án với mức lãi suất 0,83%/tháng, cụ thể
số tiền lãi: 83.439.000 đồng x 02 tháng 14 ngày x 0,83%/tháng = 1.708.274 đồng.
Tổng cộng số tiền anh V1 yêu cầu anh V2 và chị H có nghĩa vụ trả cho anh V1
85.147.274 đồng. Anh V1 không yêu cầu ông Thanh, bà Hồng, anh Linh nghĩa vụ
liên đới với anh V2 và chị H để trả cho anh V1 số tiền gốc và lãi như trên. Số tiền
nêu trên là tài sản chung của chị V3 và anh V1.
[5] Xét yêu cầu khởi kiện của anh V1, xét thấy: hợp đồng mua bán tài sản giữa
anh V1 anh V2, chị H được xác lập trên sở tự nguyện bình đẳng không
bên nào bị lừa dối hoặc bị ép buộc không vi phạm quy định tại Điều 430 của Bộ
luật Dân sự năm 2015 nên được xem hợp đồng hợp pháp. Chứng cứ sự thừa
nhận của anh V2 chị H về việc hiện nay anh V2, chị H còn nợ anh V1, chị
4
V3 số tiền nợ gốc 83.439.000 đồng. Đây tình tiết không phải chứng minh theo quy
định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do vậy làm phát sinh quyền
nghĩa vụ giữa các bên nên các bên phải trách nhiệm thực hiện các thỏa thuận đã
cam kết. Quá trình thực hiện anh V2 chị H đã vi phạm hợp đồng H bên đã
thỏa thuận làm phát sinh tranh chấp. Lẽ đó việc anh Trần Quốc V1 yêu cầu anh Cao
Hoàng V2 nghĩa vụ liên đới với chị Nguyễn Thị H trả cho anh Trần Quốc V1
chị Nguyễn Thị Thu V3 số tiền nợ gốc và lãi tổng cộng 85.147.274 đồng phù
hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Xét yêu cầu trả nợ dần của anh V2, chị H, xét thấy: anh V2 chị Bé H
đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho anh V1, chị V3 trong một thời gian dài làm ảnh
hưởng đến quyền lợi của anh V1, chị V3; mặc khác anh V2 và chị Bé H không chứng
minh được gia đình đang gặp khó khăn anh V1, chị V3 không đồng ý với yêu cầu
trả nợ dần của anh V2 và chị Bé H. Do đó yêu cầu trả nợ dần của anh V2 và chị Bé H
không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Anh Cao Hoàng V2 chị Nguyễn Thị H nghĩa vụ liên đới chịu án
phí theo quy định của pháp luật được tính như sau: 5% x 85.147.274 đồng =
4.257.363 đồng.
[8] Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 26, điểm b, khoản 1 Điều 35, 39, 147, 266 của Bộ luật tố tụng
dân sự; Điều 430, 440, 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 27 Luật hôn nhân gia
đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản s dụng
án phí, lệ phí của Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Quốc V1. Buộc anh Cao Hoàng
V2 chị Nguyễn Thị H nghĩa vụ liên đới trả cho anh Trần Quốc V1 chị
Nguyễn Thị Thu V3 số tiền là 85.147.274 đồng.
Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp quan thi
hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu
thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người
được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu
khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2
Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
5
2. Án phí dân sự sơ thẩm:
Anh Cao Hoàng V2 chị Nguyễn Thị H nghĩa vụ liên đới chịu
4.257.363 đồng.
Anh Trần Quốc V1 được Chi Cục thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú hoàn
trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.414.000 đồng theo biên lai thu số 0004475
ngày 22 tháng 3 năm 2022.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15
ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo
quy định.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi
hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Bến Tre;
- Đương sự;
- VKSND huyện Thạnh Phú;
- THADS huyện Thạnh Phú;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
(Đã ký)
Nguyễn Thị Tơ
6
7
8
9
10
Tải về
Bản án số 47/2022/DS-ST Bản án số 47/2022/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất