Bản án số 467/2026/DS-PT ngày 26/05/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 467/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 467/2026/DS-PT ngày 26/05/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng
Quan hệ pháp luật: Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 467/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 26/05/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Lê Văn S - Trần Quang V - Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 467/2026/DS-PT Bản án số 467/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 467/2026/DS-PT Bản án số 467/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 467/2026/DS-PT
Ngày: 26-5-2026
V/v tranh chấp: “Bồi thường
thiệt hại do tính mạng, tài sản bị
xâm phạm”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệp Thúy
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Ngọc Thái Dũng
Ông Lê Thành Tôn
- Thư phiên tòa: Ông Ngô Phúc Thẩm - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân n
tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Ông Huỳnh Hữu Nghi - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 5 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 225/2026/TLPT-DS ngày 20 tháng 3 năm
2026 về tranh chấp “Bồi thường thiệt hại do tính mạng, tài sản bị xâm phạm.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 222/2025/DS-ST ngày 16 tháng 12 năm 2025
của Toà án nhân dân khu vực 4 – Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 903/2026/QĐ-PT ngày
07 tháng 4 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Ông Lê Văn S, sinh năm 1952.
Địa chỉ: Ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp B, xã B, tỉnh Đồng
Tháp).
2. Bà Lê Thị T, sinh năm 1956;
Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp T, xã B, tỉnh Đồng
Tháp).
3. Chị Lê Thị Ngọc M, sinh năm 1986;
Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp T, xã B, tỉnh Đồng
Tháp).
2
Đại diện ủy quyền của ông S, bà T, chị M: Chị Nguyễn Thị Kim N, sinh năm
1998 (có mặt).
Địa chỉ: số A, đường L, khu phố C, phường E, thị xã C, tỉnh Tiền Giang (nay
là số A, đường L, khu phố C, phường C, tỉnh Đồng Tháp).
(Văn bản ủy quyền ngày 01/7/2024).
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp ông S, T, chị M: Ông Võ Thanh
V Luật Công ty TNHH Một Thành Viên T3, thuộc Đoàn Luật tỉnh Đ (có
mặt).
- Bị đơn: Anh Trần Quang V1, sinh năm 2004 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp C, P, huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay ấp I, xã T, tỉnh Đồng
Tháp).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Cháu Lê Khánh T1, sinh ngày 29/3/2015.
Đại diện hợp pháp cháu T1: Chị Lê Thị Ngọc M, sinh năm 1986 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp T, xã B, tỉnh Đồng
Tháp).
- Người kháng cáo: Bị đơn Trần Quang V1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm;
Nguyên đơn ông Văn S, Thị T, chị Lê Thị Ngọc M trình bày trình
bày:
Khoảng 14 giờ 50 phút ngày 06/02/2024 anh Trần Quang V1 điều khiển xe
mô tô biển số 63P1-150.53 chở anh Nguyễn Thanh Q lưu thông trên tỉnh lộ 874
hướng từ Quốc Lộ A đi thị trấn M, huyện T, tỉnh Tiền Giang, khi đi đến đoạn ấp
T, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang thì xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 63B3-
198.81 do anh Lê Văn Cường E (anh C Em là con ruột của ông S, bà T chồng
của ch M), hậu quả anh Cường E bị thương nặng được đưa đi cấp cứu tại
Bệnh viện Đ, chuyển viện đến bệnh viện tỉnh T bệnh viện C1 để điều trị đến
ngày 07/02/2024 thì anh Cường E tử vong.
Theo kết luận giám định số 953/TB-ĐTTH của quan cảnh sát điều tra
công an thị C ngày 27/3/2024 kết luận nguyên nhân anh C Em tử vong do
“Chấn thương sọ não kín do xuất huyết màng dưới màng cứng, dưới nhện toàn
bộ hai bán cầu não. Xuất huyết thân não, xuất huyết tiễu não, dập não trán hai
bên, vỡ vòm sdo tai nạn giao thông”. Ngày 02/4/2024 quan cảnh sát điều tra
Công an thị xã C báo cáo số 1013/BC-ĐTTH về việc kết thúc giải quyết nguồn
tin về tội phạm và ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự số 415/QĐ-ĐTTH
ngày 02/4/2024 với do không sự việc phạm tội xảy ra theo quy định tại khoản
1 Điều 157 Bộ luật tố tụng hình sự.
3
Nhưng từ khi anh C Em chết đến nay phía anh V1 vẫn chưa thực hiện việc
bồi thường cho gia đình ca anh C Em các chi phí để bù đắp thiệt hại cho gia đình
bị hại gồm các khoản chi phí như sau:
+ Chi phí điều trị tại bệnh viện gồm: Chi phí thuốc men, viện phí, dụng cụ y
tế 1.271.374 đồng; Chi phí xe cấp cứu 4.500.000 đồng; T2 mua quan tài các
vật dụng cần thiết cho việc khâm liệm, khăn tang, hương, nến, hoa, thuê xe tang
tổng cộng 36.000.000 đồng; Chi phí cho việc xây mộ 23.633.000 đồng.
+ Tiền cấp dưỡng cho mẹ anh Cường E là bà Lê Thị T mỗi tháng 3.000.000
đồng đến khi T chết tiền cấp dưỡng cho con anh C Em cháu Khánh
T1, sinh ngày 29/3/2015 mỗi tháng 3.000.000 đồng đến khi cháu tròn 18 tuổi, lao
động được.
+ Bồi thường tổn thất tinh thần cho gia đình anh C Em 100 lần x 2.340.000
đồng = 234.000.000 đồng.
+ Bồi thường chi phí sửa xe biển số 63B3-198.81 số tiền 5.949.000
đồng.
Do đó, nay ông S, bà T và chị M yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết:
Buộc anh Trần Quang V1 nghĩa vụ bồi thường cho các nguyên đơn các
khoản thiệt hại với tổng số tiền 305.353.000 đồng; Tiền cấp dưỡng nuôi cháu
Khánh T1, sinh ngày 29/3/2015 mỗi tháng 3.000.000 đồng đến khi cháu T1 tròn
18 tuổi, lao động được tiền cấp dưỡng cho Thị T mỗi tháng 3.000.000
đồng đến khi bà T chết.
Bị đơn anh Trần Quang V1 trình bày:
Về sự việc xảy ra tai nạn giao thông giữa anh V1 với anh Lê Văn C Em xảy
ra vào khoảng 14 giờ 50 phút ngày 06/02/2024 như quan cảnh sát điều tra công
an thị C xác định đúng, trong vụ tai nạn giao thông này theo anh V1 xác định
anh không lỗi, nên quan cảnh sát điều tra Công an thị C ra quyết định
không khởi tố vụ án hình ssố 415/QĐ-ĐTTH ngày 02/4/2024 với do không
sviệc phạm tội xảy ra theo quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật tố tụng
hình sự.
Do khi sự việc tai nạn giao thông xảy ra thì gia đình có đến gặp gia đình anh
C Em để thỏa thuận về bồi thường, lúc đó bên anh V1 đồng ý bồi thường
70.000.000 đồng, đưa trước 20.000.000 đồng nhưng gia đình anh C Em không
chịu nên quan cảnh sát điều tra công an thị xã C không lập biên bản hai bên
thỏa thuận được. Nay các nguyên đơn yêu cầu bồi thường các khoản tổng cộng số
tiền 305.353.000 đồng tiền cấp dưỡng nuôi mẹ con anh Cường E thì anh V1
không đồng ý.
Nay anh V1 chỉ đồng ý bồi thường số tiền 20.000.000 đồng đã đưa cho các
nguyên đơn xong, nên nay anh V1 không đồng ý bồi thường theo yêu cầu của các
nguyên đơn ông S, bà T và chM.
Chị Thị Ngọc M đại diện theo pháp luật cháu Khánh T1 người
quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:
4
Chị M thống nhất với ý kiến trình bày của chị N là đại diện theo y quyền
của các nguyên đơn về việc yêu cầu anh V1 nghĩa vụ bồi thường cho các
nguyên đơn các khoản thiệt hại với tổng s tiền 305.353.000 đồng; Tiền cấp
dưỡng nuôi cháu Khánh T1, sinh ngày 29/3/2015 mỗi tháng 3.000.000 đồng
đến khi cháu T1 tròn 18 tuổi, lao động được tiền cấp dưỡng cho Thị T
mỗi tháng 3.000.000 đồng đến khi bà T chết.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 222/2025/DS-ST ngày 16 tháng 12 năm 2025
của Toà án nhân dân khu vực 4 Đồng Tháp đã quyết định áp dụng: Điều 584,
585, 589, 591, khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự; Điều 271, 272, 273 Bộ luật Tố
tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí lệ phí Toà án; Nghị quyết số
02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hi đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao hướng dẫn áp dụng một squy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm
bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, x:
1. Chấp nhận mt phần yêu cầu khởi kiện ca ôngVăn S, bà Lê Thị T và
chị Lê Thị Ngọc M.
Buộc anh Trần Quang V1 nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho các nguyên
đơn ông Văn S, Thị T và chị Thị Ngọc M số tiền 40.581.000 đồng
(Bốn mươi triệu năm trăm tám mươi mốt ngàn đồng) và cấp dưỡng nuôi cháu
Khánh T1, sinh ngày 29/3/2015 mi tháng 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm
ngàn đồng), thực hiện cấp dưỡng từ ngày 07/02/2024 đến khi cháu T1 tròn 18
tuổi, lao động được.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn ông Văn S,
Lê Thị T chị Lê Thị Ngọc M về việc yêu cầu anh Trần Quang V1 có nghĩa
vụ bồi thường cho các nguyên đơn ông S, T chM các khoản thiệt hại với
số tiền 244.772.000 đồng (Hai trăm bốn mươi bốn triệu bảy trăm bảy mươi hai
ngàn đồng); Tiền cấp dưỡng nuôi cháu Khánh T1, sinh ngày 29/3/2015 mỗi
tháng 1.800.000 đồng (Một triệu tám trăm ngàn đồng) đến khi cháu T1 tròn 18
tuổi, lao động được và tiền cấp dưỡng cho bà Lê Thị T mi tháng 3.000.000 đồng
(Ba triệu đồng) đến khi bà T chết.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, nghĩa vụ chậm thi hành án quyền
kháng cáo của các đương sự theo quy định pháp luật.
Ngày 22/12/2025 bị đơn Trần Quang V1 đơn kháng cáo bản án sơ thẩm
yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án thẩm, xét xphúc thẩm đảm bảo tôn
trọng thực tế khách quan và hoàn cảnh bị đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn anh Trần Quang V1 vẫn giữ nguyên yêu cầu
kháng cáo, không đồng ý bồi thường cho nguyên đơn stiền 40.581.000 đồng,
đại diện của nguyên đơn không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của bị đơn, đề nghị
giữ nguyên bản án thẩm. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về
việc gải quyết vụ án.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Bị đơn
kháng cáo nhưng không có chứng cứ, chứng minh nên không có sở chấp nhận.
5
Anh V1 có chạy xe quá tốc độ, có sử dụng rượu bia khi tham gia giao thông nên
anh V1 có lỗi một phần trong vụ tai nạn này, do đó nguyên đơn yêu cầu bị đơn
bồi thường là căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét không chấp nhận yêu
cầu kháng cáo bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến: Về tố
tụng việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết ván của Thẩm
phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân
sự, kể từ khi thụ vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng
theo pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ kết luận của quan Cảnh sát điều tra Công an thị
C xác định lỗi dẫn đến vụ tai nạn giao thông do anh Văn C Em điều khiển
phương tiện xe mô tham gia giao thông không đội bảo hiểm, không đảm
bảo các quy tắc an toàn trong khi chuyển hướng. Anh Trần Quang V1 điều khiển
xe mô tô tham gia giao thông mà trong máu nồng độ cồn vượt mức quy định,
không giảm tốc độ đến mức thể dừng lại một cách an toàn trong trường hợp
điều khiển phương tiện khi xuống dốc biển báo hiệu cảnh báo nguy hiểm.
Tuy nhiên, vụ việc đã được Công an thị C ra Quyết định không khởi tố vụ án
hình sự đối với vụ tai nạn trên với do không sự việc phạm tội xảy ra theo
quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Xét anh V1 cũng có một phần lỗi trong vụ tai nạn, căn cứ khoản 3 Điều 601
Bộ luật Dân sự anh V1 trách nhiệm bồi thường. Tòa án cấp thẩm xử buộc
anh V1 có trách nhiệm bồi thường cho gia đình anh Cường Ecó cơ sở. Anh V1
kháng cáo nhưng không cung cấp chứng cứ mới nên không sở chấp nhận.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không
chấp nhận kháng cáo của anh V1, giữ nguyên bản án thẩm của Tòa án nhân
dân khu vực 4 - Đồng Tháp.
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án, nội dung
yêu cầu kháng cáo của bị đơn, lời trình bày của các đương sự, Luật sư và kết quả
tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát
nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Thủ tục kháng cáo của bị đơn anh V1 được thực hiện đúng
quy định tại các Điều 271, 272 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án được xem
xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Về quan hệ pháp luật phát sinh tranh chấp: Tòa án cấp thẩm xác định quan
hệ tranh chấp thụ vụ án tranh chấp “Bồi thường thiệt hại do tính mạng, tài
sản bxâm phạm đúng quy định Bộ luật Dân sự điều chỉnh và thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 6 Điều 26 Bộ luật Tố tụng
dân sự.
[2] Về nội dung:
6
Vào khoảng 14 giờ 50 phút, ngày 06/02/2024 anh Trần Quang V1 sinh năm
2004, thường trú ấp C, P, huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp I, T, tỉnh
Đồng Tháp) điều khiển xe mô BKS 63P1-150.53 chở Nguyễn Thanh Q sinh
năm 2003 lưu thông trên tỉnh lộ 874 theo hướng từ QL1 đi thị trấn M, huyện T,
tỉnh Tiền Giang. Khi đi đến đoạn thuộc ấp T, T, thị C, Tiền Giang thì xảy
ra va chạm với xe BKS63B3-198.81 do anh Lê Văn C Em sinh năm 1984
cư trú ấp T, xã Đ, huyện C, Tiền Giang (nay là ấp T, xã B, tỉnh Đồng Tháp). Hậu
quả làm anh C Em bị thương nặng và được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện Đ, cùng
ngày anh C Em được chuyển đến bệnh viện T và Bệnh viện C1 để điều trị đến
ngày 07/02/2024 anh C Em tử vong.
Căn cứ kết luận của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã C xác định lỗi
dẫn đến tai nạn giao thông nói trên, do anh Lê Văn C Em điều khiển phương tiện
xe mô tham gia giao thông không đội nón bảo hiểm, không đảm bảo các quy
tắc an toàn trong khi chuyển hướng do Trần Quang V1 điều khiển xe
tham gia giao thông trong máu nồng độ cồn vượt mức quy định, không
giảm tốc độ đến mức thể dừng lại một cách an toàn trong trường hợp điều khiển
phương tiện khi xuống dốc và có biển báo cảnh báo nguy hiểm. Tuy nhiên, hành
vi điều khiển xe mô không đảm bảo các quy tắc an toàn trong khi chuyển hướng
của anh Lê Văn C Em nêu trên được xác định là nguyên nhân và lỗi chính gây ra
vụ tai nạn.
Anh Trần Quang V1 kháng cáo không đồng ý bồi thường cho gia đình anh
C Em vì anh không có khả năng bồi thường.
Xét thấy: quan cảnh sát điều tra Công an thị C đã kết luận, hành vi
điều khiển xe mô tô không đảm bảo các quy tắc an toàn trong khi chuyển hướng
của anh Lê Văn C Em nêu trên được xác định là nguyên nhân và lỗi chính gây ra
vụ tai nạn quyết định không khởi vụ án hình sự đối với anh Trần Quang V1.
Tuy nhiên, anh V1 điều khiển xe BKS 63P1-150.53 nguồn nguy hiểm
cao độ gây tai nạn, căn cứ tại khoản 3 Điều 601 Bộ luật Dân sự quy định: Chủ
sở hữu, người chiếm hữu sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt
hại cả khi không lỗi, trừ trường hợp: Thiệt hại xảy ra hoàn hoàn do lỗi cố ý
của người bthiệt hại.b) thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc
tình thế cấp thiết trừ trường hợp pháp luật có qui định khác”.
Tại phiên tòa phúc thẩm, anh V1 cũng thừa nhận anh có mt phần lỗi trong
vụ tai nạn hậu quả làm anh C Em tử vong. Tòa án cấp sơ thẩm xác định lỗi của
anh C Em 60%; lỗi của anh V1 40% buộc anh V1 trách nhiệm bồi
thường thiệt hại số tiền 40.581.000 đồng là có căn cứ.
Xét kháng cáo của anh V1 không đồng ý bồi thường không cở vì, vụ
tai nạn giao thông xảy ra anh V1 cũng một phần lỗi hậu quả là anh Cường E tử
vong bỏ lại vợ và con nhỏ (trong khi anh C Em là lao động chính trong gia đình).
Anh Cường E chết nổi đau, mất mát quá lớn của gia đình anh Cường E không
đắp được tổn thất trên. Tòa án cấp thẩm xử chỉ buộc anh V1 bồi thường
một phần thiệt hại nhưng anh V1 kháng cáo cho rằng không thu nhập, không
có khả năng để không phải thường là không có cơ sở chấp nhận.
7
[3] Từ những phân tích trên, xét kháng cáo của anh V1 không sở
nên Hội đồng xét xử không chấp nhận. Quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm
sát là có căn cứ nên được chấp nhận.
Xét lời trình bày của Luật bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên
đơn là có căn cứ nên được chấp nhận.
[4] Về án phí phúc thẩm: Bị đơn anh Trần Quang V1 phải chịu án phí phúc
thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Trần Quang V1. Giữ nguyên bản án
thẩm số 222/2025/DS-ST ngày 16 tháng 12 năm 2025 của Toà án nhân dân
khu vực 4 – Đồng Tháp.
Căn cứ Điều 584, 585, 589, 591, khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự; Điều 271,
272, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí lệ phí
Toà án; Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân
sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng;
Tuyên x:
1. Chấp nhận mt phần yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn S, Thị T
chị Lê Thị Ngọc M.
Buộc anh Trần Quang V1 nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho các nguyên
đơn ông Văn S, Thị T và chị Thị Ngọc M số tiền 40.581.000 đồng
(Bốn mươi triệu năm trăm tám mươi mốt ngàn đồng) và cấp dưỡng nuôi cháu
Khánh T1, sinh ngày 29/3/2015 mi tháng 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm
ngàn đồng). Thực hiện cấp dưỡng từ ngày 07/02/2024 đến khi cháu T1 tròn 18
tuổi, lao động được.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn ông Văn S,
Lê Thị T và chị Lê Thị Ngọc M về việc yêu cầu anh Trần Quang V1 có nghĩa
vụ bồi thường cho các nguyên đơn ông S, bà T chị M các khoản thiệt hại với
số tiền 244.772.000 đồng (Hai trăm bốn mươi bốn triệu bảy trăm bảy mươi hai
ngàn đồng); Tiền cấp dưỡng nuôi cháu Khánh T1, sinh ngày 29/3/2015 mỗi
tháng 1.800.000 đồng (Một triệu tám trăm ngàn đồng) đến khi cháu T1 tròn 18
tuổi, lao động được và tiền cấp dưỡng cho bà Lê Thị T mi tháng 3.000.000 đồng
(Ba triệu đồng) đến khi bà T chết.
Kể từ ngày đơn thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản
tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các
khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số
8
tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật
dân sự.
3. Về án phí:
Về án phí phúc thẩm: Anh Trần Quang V1 phải chịu 300.000 đồng án phí
phúc thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0011038 ngày
22/12/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp nên xem như anh V1 đã nộp
xong án phí phúc thẩm.
Về án phí thẩm: Miễn toàn bộ số tiền 12.238.000 đồng (Mười hai triệu
hai trăm ba mươi tám ngàn đồng) án phí cho các nguyên đơn ông Văn S,
Lê Thị T và chị Lê Thị Ngọc M.
Buộc anh Trần Quang V1 phải chu 2.029.000 đồng án phí dân sự thẩm
300.000 đồng tiền án phí cấp dưỡng, tổng cộng 2.329.000 đồng (Hai triệu ba
trăm hai mươi chín ngàn đồng).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 9 Luật thi hành
án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui đnh tại điều 30 Luật thi
hành án dân sự.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Đồng Tháp;
- TAND Khu vực 4 – Đồng Tháp;
- THADS tỉnh Đồng Tháp;
- Đăng cổng thông tin điện tử;
- Các đương sự;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Diệp Thúy
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 467/2026/DS-PT Bản án số 467/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 467/2026/DS-PT Bản án số 467/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất