Bản án số 447/2025/DS-PT ngày 30/12/2025 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 447/2025/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 447/2025/DS-PT ngày 30/12/2025 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lâm Đồng
Số hiệu: 447/2025/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/12/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Vinh
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thế Hạnh
Ông Dương Hà Ngân
- Thư phiên tòa: Ông Nguyn Trí - Thư viên của a án nhân n
tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa:
Bà Vương Thị Bắc - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng -
sở 02 xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý s: 354/2025/TLPT-
DS, ngày 28 tháng 10 năm 2025 v vic “Tranh chấp hợp đồng đặt cc.
Do Bản án dân s sơ thẩm s13/2025/DS-ST ngày 29-8-2025 ca Tòa án nn
dân khu vực 8 - m Đồng bị kng cáo. Theo Quyết đnh đưa vụ án ra xét xử pc
thẩm số: 581/2025/QĐ-PT ngày 11 tng 11 năm 2025, gia c đương sự:
- Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Như H, sinh m 1975; địa chỉ: s958/65/22
L, phường T, Tnh phHồ Chí Minh - Vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:
1. Đỗ Thanh T, sinh năm 1988; địa chỉ: snhà 12 L, T8, khu phố 3,
phường R, Thành phố Hồ Chí Minh - Vắng mặt.
2. Nguyễn Thị N, sinh năm 1991; địa chỉ: số 22 L, ấp 26, H, Thành
phố Hồ Chí Minh - Có mặt.
- Bđơn: chị H’N, sinh năm 1992; địa chỉ: bon Đ, Đ, tỉnh Lâm Đồng -
Vắng mặt.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 447/2025/DS-PT
Ngày 30 - 12 - 2025
V/v tranh chấp hợp đồng
đặt cọc”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
Ni đại diện hp pháp của bđơn: ông Thái Phan Quang H1, sinh năm
1997; địa chỉ: S 11 T, T 5, xã Đ, tỉnh m Đồng - Vắng mt.
Người được y quyền lại của người đại diện theo ủy quyền của bị đơn:
ông Đồng Văn N, sinh m 1988; địa chỉ: s 11 T, T5, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng
- Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Lâm Mỹ P, sinh năm 1972; địa chỉ: s12/6 khu phố 2, H, Thành
phố Hồ Chí Minh - Có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Chị Thị T, sinh năm 1987; địa chỉ: thôn 3, Đ, tỉnh Lâm Đồng -
Vắng mặt.
3. Bà H’L, sinh năm 1980 (đã chết);
Người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của H’L: bà H’D, sinh năm
1944; địa chỉ: bon Đ, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng - Vắng mặt.
- Người làm chứng: Ông Minh T; địa chỉ: thôn B, K, tỉnh Đắk Lắk -
Vắng mặt.
- Người kng cáo: Bđơn H’N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ny 16-12-2024, đơn thay đi, sửa đi bổ sung ngày 28-8-
2025, quá trình giải quyết v án tại phiên a nguyên đơn Nguyễn ThNhư H,
người đại diện theo uỷ quyn của nguyên đơn bà ĐThanh T trình y:
H và H’N thoả thuận sang nhượng thửa đất số 09, tờ bản đồ số 31,
diện tích 12.212,4m
2
đứng tên H’N, đất toạ lạc tại thôn 6, Đ, tỉnh Lâm
Đồng (địa chỉ cũ: Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông), giá trị chuyển nhượng
370.000.000 đồng, các bên lập hợp đồng đặt cọc viết tay lần 1 vào ngày 13-7-
2024, số tiền đặt cọc 40.000.000 đồng, hẹn 60 ngày thì làm thủ tục sang tên, ông
Lê Minh T làm chứng và ký vào hợp đồng.
Đến hạn, do chưa m thủ tục sang n n các bên thoả thuận lập hợp đồng
đặt cọc lần 2 vào ngày 18-9-2024, số tiền đặt cọc ghi tổng số tiền đặt cọc của
lần 1 và lần 2 tổng cộng 245.000.000 đồng, hẹn ngày 30-10-2024 các bên hoàn tất
thủ tục sang tên, khi có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì trả hết số tiền còn
lại, H’N cam kết đất không tranh chấp. Trường hợp bên chuyển nhượng vi
phạm thì bị phạt gấp 02 lần tiền đặt cọc và ngược lạin mua vi phạm thì mất tiền
cọc. Tuy nhiên, hết hạn bà H u cầu nhiều lần nhưng không sang tên được, đồng
thời bà H biết được thửa đất đứng tên người sử dụng bà H’L, chưa có giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất. Vì vậy, bà Nguyễn Thị Như H khởi kiện yêu cầu: tuyên
3
hủy hợp đồng đặt cọc, buộc H’N trả lại số tiền đã nhận 245.000.000 đồng
phạt cọc gấp 02 lần 490.000.000 đồng.
Ti đơn khởi kiện sửa đổi, bsung cũng như tại phn toà, H người đại
diện theo u quyền của ngun đơn Đỗ Thanh T đã rút một phần yêu cầu khởi
kiện v pht cọc, bổ sung phn u cầu khởi kiện, buộc bà H’N phi chịu i sut
chậm trtừ ngày vi phm hợp đồng đặt cọc (ny 30-10-2024) đến ngày xét xử
245.000.000 đng x 0,83% x 11 tháng 10 ngày = 23.046.333 đồng. Tổng cng buộc
bà HN phải trcho H số tiền cọc và lãi sut chm trả 268.046.333 đồng.
Bị đơn H’N, người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn ông Thái Phan
Quang H và người được uỷ quyền lại ông Đồng Văn N trình bày: việc thoả thuận
chuyển nhượng quyền sử dụng đất các n thoả thuận lập hợp đồng đặt cọc như
lời trình bày của H đúng, ch trong hợp đồng đặt cọc của H’N. Tuy
nhiên, tại thời điểm chuyển nhượng, đất ca có giấy chứng nhận quyền sử dụng,
do bà H’N nhận chuyển nhượng bằng miệng với bà H’L nhưng sau đó bà H’L
đã chết nên đồng ý huỷ hợp đồng đặt cọc nhưng không đồng ý trả tiền vì: bà
hợp đồng đặt cọc nhưng chưa nhận tiền, việc đặt cọc để đảm bảo cho việc
giao dịch các bên sau này, tin tưởng nhau nên đã ký vào 02 hợp đồng đặt cọc n
H cung cấp cho Toà án.
Ni có quyền lợi, nghĩa v liên quan trình y:
Lâm Mỹ P trình bày: lời trình bày của bà Nguyễn Thị Như H người
đại diện theo uỷ quyền của H’N về việc thoả thuận hợp đồng đặt cọc các
bên vào hợp đồng đặt cọc đúng, ch ký trong hợp đồng đặt cọc của H
H’N, các bên thoả thuận ghi tổng cộng 02 lần đặt cọc 245.000.000 đồng
(trong đó số tiền 195.000.000 đồng tiền của P chuyển nhượng đất cho
Lê Thị T ở xã Đ ).
Tại bản tkhai ngày 19-8-2025, P thay đổi lời khai, nội dung như sau:
Ngày 13-7-2024, H đặt cọc mua thửa đất số 09, tờ bản đồ số 31, diện tích
12.212,4m² của H’N nhờ chuyển khoản giúp chuyển tiền cọc 50.000.000
đồng, sau đó H thanh toán tiền mặt 195.000.000 đồng, việc P khai số tiền
195.000.000 đồng tiền P nhồi cọc (có nghĩa bà P đưa số tiền này cho H
để mua đất bà H’N) là không chính xác do nhớ nhầm.
Thị T trình bày: việc chuyển nhượng gia T và P không liên
quan đến H’N. đất T nhận chuyển nhượng của P đã sang cho
người khác. Thực tế, H’N chỉ nhận 50.000.000 đồng. Việc H yêu cầu
H’N trả tổng số tiền 245.000.000 đồng là không đúng, vì bà T chưa giao tiền cho
4
H’N. Hiện số tiền nợ do nhận chuyển nhượng đất với P thì T đang nợ
210.000.000 đồng.
Bà H’D ngưi kế thừa quyền và nghĩa vcủa bà HL trình y: diện ch đất
theo trích lục bản đ địa chính của Chi nnhn phòng đăng đất đai Đ (nay
là n phòng đăng đất đai khu vực Đ) đo đạc ngày 08-6-2024 do H cung cấp
cho Toà án khi H giao dịch đặt cọc với H’N, ti tha đất số 35, tờ bản đ 31,
diện ch 18.445,8m
2
, đứng n ni s dụng đất bà HL hin nay ca có giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà H’L không chồng con, hin nay chn mđ
bà H’D. Sau khi đo đạc, H’L chết t gia đình đang s dng để trồng màu. Đề
nghị Toà án gii quyết theo quy định.
Ni m chứng Lê Minh T tnh bày: khong tng 9-2024, ông T có m
chứng việc giao kết hp đồng đặt cọc gia bà H và bà HN đối vi thửa đất ti thôn
6, Đ (cũ). Ông T chchng kiến việc hai n ký kết hp đồng đặt cọc, tại thời
điểm ký kết ông T không chng kiến vic giao tin, còn vic sau khi hợp đồng hai
bên có giao nhận tin không thì không biết. Tuy nhn, H có chuyển khoản cho
ông T 10.000.000 đồng và đã giao cho bà H’N.
Ti Bản án dân sự sơ thm số: 13/2025/DS-ST ny 29-8-2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 8 - m Đồng quyết đnh:
Chấp nhận mt phần đơn khởi kiện của bà Nguyễn ThN H. Đình chđối với
phần yêu cầu pht cọc s tin 245.000.000 đồng.
Tuyên hu hợp đồng đặt cọc ngày 13-7-2024 hợp đồng đặt cọc ngày 18-9-
2024 giữa Nguyễn Thị Như H và H’N. Buộc bà H’N trlại cho Nguyễn Th
N H số tiền 245.000.000 đồng.
Không chp nhận yêu cu khởi kiện của bà Nguyễn ThNhư H về vic buộc bà
HN phải trả tin i do vi phm hợp đồng đặt cc 23.046.333 đồng.
Ngi ra, Tòa án cấp thẩm còn quyết đnh về án phí quyn kháng cáo.
Ngày 12-9-2025, bị đơn kháng cáo đề nghị sửa bản án sơ thẩm, không chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ngưi đại diện theo ủy quyn ca nguyên đơn gi
nguyên yêu cu khởi kiện, đề nghị không chp nhn kháng cáo ca bị đơn. Ngưi đi
diện theo y quyn của b đơn (ngưi kháng cáo) gingun ni dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xphúc thẩm, Thư phiên
tòa được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định
của Bộ luật Tố tụng dân sự.
5
Về nội dung: đnghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của
bị đơn, sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2025/DS-ST ngày 29-8-2025
của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Lâm Đồng. Tuyên hợp đồng đặt cọc ngày 13-
7-2024 và ngày 18-9-2024 gia Nguyễn Thị NH H’N hiệu, buộc
bà H’N trả lại cho bà Nguyễn Thị Như H số tiền đã đặt cọc 245.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị đơn nộp trong thời hạn đã nộp
tiền tạm ứng án phí theo quy định của pháp luật nên được xem xét theo thủ tục
phúc thẩm.
[2]. Xét kháng cáo của chị H’N, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1]. Xét nội dung các hợp đồng đặt cọc giữa các đương sự, thấy rằng:
Ngày 18-9-2024, nguyên đơn và bị đơn ký hợp đồng đặt cọc nhằm đảm bảo
cho việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với một phần thửa đất số 09, tờ
bản đồ số 31, diện tích 12.212m
2
, toạ lạc tại thôn 6, Đ, tỉnhm Đồng (địa chỉ
cũ: xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk ng) với giá 370.000.000 đồng. Các nội dung ghi
nhận trong hợp đồng đều được các bên thừa nhận.
Trước khi hai bên hợp đồng đặt cọc ngày 18-9-2024 thì gia nguyên
đơn và bị đơn đã hợp đồng đặt cọc vào ngày 13-7-2024, số tiền đặt cọc
50.000.000 đồng (trong đó giao tiền mặt 40.000 đồng, chuyển khoản thông qua
ông Minh T 10.000.000 đồng) để thực hiện việc chuyển nhượng thửa đất số
35, tờ bản đồ số 31, toạ lạc tại thôn 6, Đ, tỉnh Lâm Đồng a chỉ cũ: Đ,
huyện Đ, tỉnh Đắk ng). Mặc bị đơn không thừa nhận hợp đồng đặt
cọc ngày 13-7-2024 nhưng căn cứ vào hợp đồng bản gốc do nguyên đơn cung
cấp, lời khai người làm chứng, tin nhắn đã thu thập được trong hồ vụ án,
có căn cứ xác định nội dung này.
Tại hợp đồng đặt cọc ngày 13-7-2024 thể hiện đối tượng hướng tới việc
chuyển nhượng là một phần thửa đất số 35, tờ bản đồ số 31 theo trích lục bản đồ
địa chính (bút lục số 18); hợp đồng đặt cọc ngày 18-9-2024 thể hiện một phần
thửa đất số 09, tờ bản đồ số 31, diện tích 12.212m
2
. Tuy nhiên, nguyên đơn và b
đơn đều xác định hai thửa đất này là một.
Tại thời điểm hai bên ký hợp đồng đặt cọc ngày 13-7-2024, tờ trích lục bản
đồ địa chính ngày 07-6-2024 thửa đất s35, tờ bản đồ số 31, thể hiện tên người
sử dụng đất H’L. Tại giấy tiếp nhận hồ hẹn trả kết quả (bút lục số 17)
ngày 22-7-2024, tên người nộp H’L, nội dung: đăng cấp GCNQSDĐ lần
đầu, thời gian hẹn trả kết quả ngày 10-9-2024. Văn bản xác minh của Tòa án
(bút lục số 86) thể hiện H’L đã chết theo trích lục khai tử ngày 23-6-2025.
6
Theo lời khai của H’D (mẹ của H’L) thì H’N hàng xóm của H’L.
Khi bà H’L chết thì gia đình đang sử dụng đất để trồng màu (bút lục số 118).
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ
chứng minh việc đã nhận chuyển nhượng hợp pháp hoặc được ủy quyền hợp
pháp thửa đất số 35, tờ bản đồ số 31 từ H’L. Đồng thời, tại thời điểm bị đơn
hợp đồng đặt cọc ngày 13-7-2024 hợp đồng đặt cọc ngày 18-9-2024,
H’L đã chết.
Như vậy, hợp đồng đặt cọc ngày 13-7-2024 và hợp đồng đặt cọc ngày 18-9-
2024 gia nguyên đơn và bị đơn vô hiệu về điều kiện chủ thể và hợp đồng có đối
tượng không thể thực hiện được theo quy định tại Điều 117, Điều 408 của Bộ luật
Dân sự. Tòa án cấp thẩm nhận định đánh giá hợp đồng đặt cọc ngày 18-9-2024
hiệu căn cứ đúng quy định pháp luật tuy nhiên, lại tuyên xử hủy hợp
đồng đặt cọc ngày 13-7-2024 ngày 18-9-2024 không đúng. Hợp đồng
hiệu theo quy định tại khoản 1 Điều 131 của Bộ luật Dân sự “…kng làm phát
sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên kể từ thời điểm giao dịch
được xác lập. Bị đơn là người có lỗi nhiều hơn trong việc hợp đồng đặt cọc gia
hai bên vô hiệu. Tuy nhiên, ngun đơn khi kết hợp đồng đặt cọc cũng không
kiểm tra thông tin nên cũng có lỗi khi giao kết hợp đồng.
Do vic không tuyên hiệu hợp đồng đặt cọc nên Toà án cấpthẩm không
giải thích giải quyết hậu qu hợp đồng hiệu chgiải quyết hậu quả khi
hủy hợp đồng gia hai n thiếu t. Tuy nhn, trong vụ án y, c đương sự
chỉ có việc giao nhận tiền cọc, chưa giao nhận đất n việc giải quyết hậu quả hợp
đồng hiệu hay hậu quviệc hủy hợp đồng về bản cht giống nhau.
[2.2]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả số tiền
đã nhận cọc 245.000.000 đồng, thấy rằng:
Căn cứ hợp đồng đặt cọc ngày 13-7-2024 ngày 18-9-2024, các chứng từ
chuyển tiền; các tin nhắn nguyên đơn cung cấp; lời khai người làm chứng
Minh T, lời khai người quyền lợi nghĩa vụ liên quan P, thể hiện việc
H’N ký vào các hợp đồng này. Bị đơn cho rằng có ký nhưng không nhận tiền
cọc không phù hợp. các bên đều năng lực hành vi dân sự, nhận thức
được nội dung của việc kết hợp đồng đặt cọc nếu bị đơn cho rằng chưa nhận
tiền đặt cọc thì phải yêu cầu cơ quan có thẩm quyền huỷ bỏ hợp đồng sau khi ký
kết nhưng bị đơn không thực hiện. Quá hạn của hợp đồng đặt cọc, bị đơn không
thực hiện việc chuyển nhượng đất cũng không yêu cầu huỷ hợp đồng đặt cọc
nên Tòa án thẩm buộc bị đơn H’N phải trả cho nguyên đơn Nguyễn Thị Như
H số tiền đặt cọc 245.000.000 đồng là có căn cứ.
7
Do hợp đồng đặt cọc không thỏa thuận vlãi trong việc chậm thực hiện
nghĩa vụ, nên Tòa án cấp thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc
buộc trả lãi do vi phạm hợp đồng đặt cọc là có căn cứ.
Từ nhng phân tích trên, Hội đồng xét xử căn cứ chấp nhận một phần
kháng cáo của b đơn, sửa lại cách tuyên án cho phù hợp.
[3]. Về án phí phúc thẩm: do kháng cáo được chấp nhận một phần nên bị
đơn không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[4]. Đối với c quyết định khác của bản án thẩm không kháng o,
kháng nghị đã hiệu lực pháp luật, kể từ ny hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự: chấp nhận
một phần kháng cáo của bị đơn chị H’N, sửa một phần Bản án dân sự thẩm
số: 13/2025/DS-ST ngày 29-8-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Lâm Đồng
về cách tuyên án.
Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều
228, Điều 244, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Áp dụng các
Điều 117, Điều 408 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30-12-2016 của y ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu nộp, quản lý và sử dng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Như H.
Tuyên hợp đồng đặt cọc ngày 13-7-2024 và ngày 18-9-2024 gia bà
Nguyễn Thị Như H H’N hiệu. Buộc H’N trả lại cho Nguyễn Thị
Như H số tiền đã đặt cọc 245.000.000 đồng.
Ktừ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn
phải chịu mức lãi suất chậm trả theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468
của Bộ luật Dân sự.
1.2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Như H về việc
buộc bà H’N trả tiền lãi chậm trả do vi phạm hợp đồng đặt cọc 23.046.333 đồng.
1.3. Đình chỉ đối với phần yêu cầu phạt cọc số tiền 245.000.000 đồng của
bà Nguyễn Thị Như H đối với bà H’N.
2. Về án phí phúc thẩm: trả lại cho chị H’N 300.000 đồng đã nộp tạm ứng
án phí phúc thẩm tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án s0003175 ngày
16-9-2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng.
8
3. Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền u cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều
6,7, 7a, 7b Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được
thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TANDTC (Vụ II);
- VKSND tỉnh Lâm Đồng;
- TAND khu vực 8 - Lâm Đồng;
- VKSND khu vực 8 - Lâm Đồng;
- Phòng THADS khu vực 8 - Lâm Đồng;
- Các đương sự;
- Lưu: TDS, THCTP, HSVA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký và đóng dấu)
Võ Văn Vinh
Tải về
Bản án số 447/2025/DS-PT Bản án số 447/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 447/2025/DS-PT Bản án số 447/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất