Bản án số 01/2026/DS-PT ngày 06/01/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 01/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 01/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 01/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 01/2026/DS-PT ngày 06/01/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng đặt cọc |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng đặt cọc |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Đắk Lắk |
| Số hiệu: | 01/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 06/01/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Tranh chấp hợp đồng đặt cọc |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 320/2025/HS-PT
Ngày: 25 - 12 - 2025
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Y Phi Kbuôr
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thu Trang và bà Nguyễn Thị My My
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Quang – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân
tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông
Biện Tấn Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét
xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 305/2025/TLPT-HS ngày
03/11/2025 đối với bị cáo La Thanh L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia
giao thông đường bộ”, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ
thẩm số 38/2025/HS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân khu
vực 14 – Đắk Lắk.
Bị cáo có kháng cáo:
La Thanh L - Sinh ngày 01/01/2007 tại xã P, tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú:
Thôn P, xã P, tỉnh Đắk Lắk; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc:Chăm;
tôn giáo:Không;CCCD số 054207000253,cấp ngày 09/5/2021, nơi cấp Cục
Cảnh sát QLHC về TTXH - Bộ C; nghề nghiệp: Đang học nghề tại Trường Cao
đẳng N1; trình độ học vấn: 12/12; con ông So Minh N, sinh năm 1986 và bà La
Lan Thị D, sinh năm 1990; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa chỉ định cho bị cáo: Ông Ngô Đình K – Trợ giúp viên
pháp lý của Trung tâm T1 tỉnh Đắk Lắk, có mặt.
- Bị hại: ông Nguyễn Ngọc Ả, sinh năm 1966 (đã chết),
Người đại diện hợp pháp cho bị hại: Ông Nguyễn Xuân H, sinh năm 1992
(Con trai người bị hại); trú tại thôn K, xã P, tỉnh Đắk Lắk (có đơn xin xét xử
vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà La Lan Thị L1 – Sinh năm 2006; Trú tại: Thôn P, xã P, tỉnh Đắk Lắk,
vắng.
2
- Bà La Lan Thị D – Sinh năm 1990; Trú tại: Thôn P, xã P, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 45 phút ngày 26/01/2025, sau khi đi chơi ở xã X, tỉnh Đắk
Lắk, La Thanh L (không có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe mô tô
biển số 78K1-234.08 (do mẹ của L là La Lan Thị D đứng tên chủ sở hữu) chở
sau La Lan Thị L1 lưu hành trên tuyến đường ĐT647 theo hướng xã X - xã P.
Khi đến Km22+520 thuộc thôn P, xã P, tỉnh Đắk Lắk thì L thấy phía trước có
ông Nguyễn Ngọc Ả điều khiển xe mô tô biển số 78X1-3704 lưu hành theo
hướng ngược chiều, di chuyển loạng choạng ở giữa hai làn đường. Vì sợ ông Ả
di chuyển xe mô tô sang phần đường của mình và xảy ra tai nạn, nên L điều
khiển xe mô tô qua phần đường bên trái chiều đi của mình để tránh xe của ông Ả
thì xảy ra va chạm giữa hai xe làm cho cả ba người và hai xe mô tô ngã xuống
đường. Hậu quả ông Ả chết tại chỗ, L1 và L bị thương.
Tại Bản kết luận giám định tử thi số 21/KLGĐTT-PYPY ngày 26/02/2025
của Trung tâm Pháp y tỉnh P (cũ), kết luận: Nguyên nhân chết của ông Nguyễn
Ngọc Ả là do gãy đốt sống cổ C
3
, C
4
; tìm thấy Ethanol với hàm lượng
139,53g/100ml.
Tại Bản kết luận giám định số 323/KL-KTHS ngày 13 tháng 5 năm 2025
của Phòng K2 Công an tỉnh P (cũ), kết luận:
- Cơ chế hình thành dấu vết va chạm giữa hai xe: Vết ma sát, hằn lõm cao
su, biến dạng kim loại ở mặt lăn và vành kim loại bánh xe trước (Vết 1); Vết ma
sát, xướt kim loại, bám dính chất màu đen - trắng bạc tại mặt trước của bu lông ở
đầu bên phải trục bánh xe trước (Vết 2) trên xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave,
biển số 78X1 - 3704 phù hợp lần lượt với vết ma sát kim loại, bám dính chất màu
đen tại mặt trước của đầu bên phải đai ốc trục bánh xe trước và mặt trước đầu
dưới giảm sốc trước bên trái - vị trí cố định vào trục bánh xe trước (Vết 1); Vết
ma sát cao su, vỡ khuyết kim loại ở thành bên phải lốp bánh xe trước và cạnh
trước mặt bên phải vành kim loại bánh xe trước (Vết 2) trên chiếc xe mô tô nhãn
hiệu Honda Vision, biển số 78K1 - 234.08.
- Vị trí va chạm giữa hai phương tiện trên mặt đường: Không xác định
được vị trí va chạm trên mặt đường ở hiện trường giữa hai xe mô tô nhãn hiệu
Honda Wave, biển số 78X1 - 3704 và xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển số
78K1 - 234.08.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 02/KL-ĐGTTHS ngày 08/4/2025 của
Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng huyện Đ, tỉnh Phú Yên, kết luận:
3
- Giá trị thiệt hại của xe mô tô biển số 78X1-3704 là 1.100.000 đồng.
- Giá trị thiệt hại của xe mô tô biển số 78K1-234.08 là 3.450.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2025/HS-ST ngày 23 tháng 9 năm
2025 của Toà án nhân dân khu vực 14 – Đắk Lắk đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo La Thanh L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia
giao thông đường bộ”.
Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1,
khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo La Thanh L
01 (một) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày bắt thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584, 585,586, 589 Bộ luật
Dân sự, ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường giữa bị cáo và người đại
diện hợp pháp của bị hại. Bị cáo La Thanh L phải bồi thường cho gia đình bị hại
số tiền 90.000.000 đồng, bị cáo đã bồi thường 40.000.000 đồng, còn phải tiếp
tục bồi thường 50.000.000 đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và
quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 08/10/2025, bị cáo La Thanh L kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ
hình phạt và xin được hưởng án treo.
Ngày 08/10/2025, đại diện hợp pháp của bị hại tiếp tục có đơn xin bãi nại
và xin cho bị cáo được hưởng án treo, đồng thời xác nhận bị cáo đã bồi thường
thêm khoản tiền 50.000.000 đồng cho gia đình bị hại.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo La Thanh L giữ nguyên nội dung đơn
kháng cáo, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện đúng như
nội dung bản cáo trạng và bản án hình sự sơ thẩm đã đề cập.
Quá trình tranh luận tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá tính
chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo và khẳng định Bản án sơ thẩm của
Tòa án nhân dân khu vực 14 – Đắk Lắk xét xử bị cáo La Thanh L về tội “Vi
phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260
Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Mức hình
phạt 01 năm tù mà cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là thỏa đáng, tại cấp phúc
thẩm bị cáo cung cấp thêm tình tiết mới đã bồi thường thêm số tiền 50.000.000
đồng cho gia đình bị hại và được bị hại tiếp tục xin bãi nại cho bị cáo. Hiện tại
bị cáo đang theo học tại Trường cao đẳng N1, gia đình có hoàn cảnh khó khăn,
là người dân tộc thiểu số, có nhân thân tốt. Sau khi phạm tội đã thành khẩn khai
báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp
lỗi vô ý, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ và việc cho bị cáo L được hưởng án
treo là không nguy hiểm cho xã hội nên cần chấp nhận một phần kháng cáo của
bị cáo.
Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và
điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự để sửa Bản án sơ thẩm về hình
4
phạt; Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự; điểm b, s khoản 1,
khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ
luật hình sự, xử phạt bị cáo La Thanh L 01 (Một) năm tù “Vi phạm quy định về
tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là
02 (Hai) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày quan điểm bào chữa: Về tội danh, điều
luật áp dụng và về hình phạt cũng như các tình tiế giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
thống nhất quan điểm với đại diện Viện kiểm sát. Do bị cáo có nhiều tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành
vi của mình, hoàn cảnh gia đình rất khó khăn, là người đồng bào dân tộc thiểu số
cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức về pháp
luật có phần hạn chế. Sau khi xét xử sơ thẩm, mặc dù hoàn cảnh gia đình rất khó
khăn và đang đi học nhưng bị cáo đã tác động gia đình để bồi thường số tiền còn
lại cho gia đình bị hại và được gia đình bị hại tiếp tục xin giảm nhẹ hình phạt
cho bị cáo. Do đó, Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét và chấp nhận kháng cáo
của bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi
lầm, đồng thời tiếp tục học nghề để sau này có công việc ổn định.
Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì thêm mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử
phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để được tiếp tục đi học nghề.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Quá trình điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, lời khai của bị cáo
La Thanh L là phù hợp với lời khai của người làm chứng, kết quả khám nghiệm
hiện trường và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập, đánh
giá có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 18 giờ 45
phút ngày 26/01/2025, L2 là người không có giấy phép lái xe theo quy định
nhưng đã điều khiển xe mô tô biển số 78K1 - 243.08, chở phía sau chị La Lan
Thị L1 lưu hành trên tuyến đường ĐT647 theo hướng xã X - xã P, khi đến
Km22 + 520 thuộc thôn P, xã P, tỉnh Đắk Lắk, thì L thấy phía trước có ông
Nguyễn Ngọc Ả điều khiển xe mô tô biển số 78X1-3704 lưu hành theo hướng
ngược chiều, di chuyển loạng choạng ở giữa hai làn đường. Vì sợ ông Ả di
chuyển xe mô tô sang phần đường của mình và xảy ra tai nạn, nên L điều khiển
xe mô tô qua phần đường bên trái ngược chiều theo hường đi của L để tránh xe
của ông Ả thì xảy ra va chạm giữa hai xe làm cho cả ba người và hai xe mô tô
ngã xuống đường. Hậu quả ông Ả chết tại chỗ. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét
xử bị cáo La Thanh L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường
bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp lý, đảm
bảo đúng người, đúng tội.
[2] Xét kháng cáo của bị cáo La Thanh L, Hội đồng xét xử xét thấy:
Xét thấy, mức hình phạt 01 năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt đối
với bị cáo La Thanh L là thoả đáng, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi
5
phạm tội do bị cáo gây ra. Bởi lẽ, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai
báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; là người dân tộc thiểu số sống
ở vùng kinh tế khó khăn, đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại và sau khi xét
xử sơ thẩm bị cáo đã bồi thường 50 triệu đồng số tiền còn lại, được người đại
diện hợp pháp của bị hại tiếp tục có đơn bãi nại xin cho bị cáo được hưởng án
treo nên đây là tình tiết giảm nhẹ mới và khi phạm tội thì bị cáo mới đủ tuổi
thành niên (18 tuổi 25 ngày). Hiện nay, bị cáo đang học nghề tại Trường Cao
đẳng N1 (học K3, công nghệ ô tô), có xác nhận của nhà Trường. Ngoài ra, đối
chiếu với kết luận giám định tử thi của nạn nhân thể hiện có hàm lượng Ethanol
là 139,53 mg/100ml trong máu, do đó khi bị hại điều khiển phương tiện tham gia
giao thông khi đã sử dụng rượu bia thì không làm chủ được tay lái nên khi gặp
chiếc xe mô tô của bị cáo đang đi ngược chiều lúc trời tối, hạn chế quan sát đã va
chạm với xe của bị cáo, các nhân chứng cũng khai trước đó bị hại đã uống nhiều
bia. Mặt khác, theo kết quả khám nghiệm hiện trường cũng không xác định được
vị trí va chạm ban đầu giữa hai phương tiện trên mặt đường ở hiện trường giữa
hai xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 78X1 - 3704 và xe mô tô nhãn hiệu
Honda Vision, biển số 78K1 - 234.08. Như vậy, nguyên nhân xảy ra tai nạn thì bị
hại cũng có một phần lỗi.
Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s
khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết
giảm nhẹ, có nhân thân tốt và có nơi cư trú rõ ràng và hiện đang học nghề tại T
Cao đảng nghề nên cần chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo là không cần
thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, mà cho bị cáo được hưởng án treo để bị
cáo tự rèn luyện, học tập dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và gia
đình, kết hợp với Nhà trường cũng đảm bảo việc giáo dục, cải tạo bị cáo đồng
thời thể hiện được tính nhân đạo và khoan hồng của pháp luật.
[3] Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố
tụng Hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và
sử dụng án phí và lệ phí Toà án thì cáo L2 không phải chịu và thuộc trường hợp
được miễn án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố
tụng Hình sự.
- Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo La Thanh L; Sửa một phần
quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số: 38/2025/HS-ST ngày 23 tháng 9 năm
2025 của Toà án nhân dân khu vực 14 – Đắk Lắk về biện pháp chấp hành hình
phạt.

6
[2] Tuyên bố bị cáo La Thanh L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia
giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự; điểm b, s khoản 1,
khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ
luật hình sự.
Xử phạt bị cáo La Thanh L 01 (Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo,
thời gian thử thách là 02 (Hai) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo La Thanh L cho Ủy ban nhân dân xã P, tỉnh Đắk Lắk, là nơi bị
cáo cư trú kết hợp với Nhà trường nơi bị cáo đang học tập để giám sát và giáo
dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp
với chính quyền địa phương và Nhà trường trong việc giám sát, giáo dục bị cáo
trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực
hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ
theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể
quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản
án đã cho hưởng án treo.
[3] Về án phí:
Bị cáo La Thanh L không phải chịu và thuộc trường hợp được miễn án phí
hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Toà PT-TANDTC tại ĐN;
- TAND KV 14- Đắk Lắk;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- Sở tư pháp tỉnh Đắk Lắk;
- Công an tỉnh Đắk Lắk;
- THADS tỉnh Đắk Lắk;
- Bị cáo;
- Lưu Hồ sơ, văn phòng.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Y Phi Kbuôr
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 14/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 26/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 24/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 24/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm